TÁC GIẢ
TÁC PHẨM






. Tên thật : Trần Thị Thu Vân .
. Chào đời tại Huế, lớn lên tại Sài Gòn.
. Trước 1975 sinh sống tại Đà Lạt.
. Hiện đang ở San José, Californie, USA.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN

. Nước Chảy Qua Cầu (Bút Ký)
. Gã Cùi và Miếng Dừa Non (tập truyện)
. Một Truyên Dài Không Có Tên (I, II - tâm bút)
. Nhật Nguyệt Buồn Như Nhau (I, II -tự truyện)
. Tài Hoa Mệnh Bạc (I, II, III, biên khảo tiểu sử danh nhân)
. Trần Sa (tự truyện)
. Tài Hoa và Cô Đơn Như Một Định Mênh (tuyển tập tâm bút)
. Con Tằm Đến Thác Vẫn Còn Vương Tơ (tuyển tập tâm bút)
. Điệu Múa Cuối Cùng Của Con Thiên Nga (I, II, tuyển tập tâm bút)
. River of Time (bản Anh ngữ của Nước Chảy Qua Cầu, Trần Thy Hà chuyển dịch)



VĂN - TRUYỆN















Tranh của cố họa sĩ Tạ Tỵ














"Bút ký NCQC của Trần Thị Bông Giấy đã từng được một NXB tên tuổi ở Tp Hồ Chí Minh đề nghị mua bản quyền in ấn. Dù sự việc không thành nhưng tác giả vẫn giữ nguyên bản đã được NXB này lược duyệt khi cho phép ban biên tập đăng tải trên Newvietart."



TỰA



Từ những ngày tháng mà cuốn bút ký Nước Chảy Qua Cầu chưa có tên gọi và còn là bao mẩu tâm sự, bao suy nghĩ, cảm xúc trùng trùng của kỷ niệm được ghi nhận lại bởi từng mảng thời gian bềnh bồng trôi giạt, tôi đã đắm chìm trong một không khí huyền hoặc, mê say và cảm động qua lời kể của Trần Thị Bông Giấy về đoạn đời năm năm phiêu bạt của nàng trong tư thế một nghệ sĩ vĩ cầm của một đoàn Cải Lương lưu diễn đó đây trên khắp quê hương, từ sau tháng 11/1975.
Tất cả những điều được kể hoàn toàn là chuyện thật, tại sao lại tạo ra được cái không khí huyền hoặc mê đắm đó? Đất nước Việt Nam sau cuộc chiến tranh dài, tình trạng hỗn mang dâu biển bủa lên mọi cảnh đời. Nhưng trong mắt nhìn từ một tâm hồn mong manh mà hùng tráng của người nghệ sĩ, và xuyên qua những hỗn mang dâu biển đó, Trần Thị Bông Giấy đã nhận ra một thứ hạnh phúc thật kỳ dị: “Ly cà-phê sáng ở một thị xã buồn tênh xa lạ như là một miền cuối cùng của trái đất. Những bữa rượu nửa đêm về sáng sau giờ trình diễn với các người bạn nhạc sĩ khác trong đoàn. Bà cụ già bất hạnh bê từng hũ rượu đi bán dạo. Phiên chợ âm hồn bắt đầu họp vào lúc nửa đêm nơi một làng quê Việt Nam. Người bạn cũ gặp lại trong một thị trấn buồn tênh xa lạ. Người đàn ông ngồi uống rượu một mình trong không gian mờ ảo của chiếc quán khuya, bối cảnh thời đại như nhuộm lên thân hình ông sự cô đơn khốc liệt của một kiếm khách trên đường gió bụi...”
Mỗi mẩu chuyện là một viên ngọc đối với Trần Thị Bông Giấy. Gom tất cả những viên ngọc đó lại, Trần Thị Bông Giấy làm thành xâu chuỗi ngọc khác thường cho chính mình. Bởi đó, khởi đi từ những tâm sự được kể, những kỷ niệm nuối tiếc được nâng niu, tôi đã đề nghị Trần Thị Bông Giấy viết lại thành một quyển sách, một quyển bút ký. Biết đâu lại chẳng có người cũng muốn được chia xẻ với tác giả những hình ảnh, những mẩu chuyện tuy rằng đã có sẵn, luôn hằng hằng rải rác trên khắp cùng sông nước Việt Nam, nhưng cho dù đã sinh ra và lớn lên ngay trên quê hương mình, chắc hẳn trong chúng ta mấy ai đã được nghe, được thấy? Nhất là nghe, thấy từ vị trí một người nghệ sĩ phiêu bạt từ sau cuộc biến động lớn của quê hương?
Thời gian trôi đi. Đời người trôi theo dòng thời gian để mà lạc loài đến những không gian cũng biến động trong từng giây từng phút. Tương quan giữa con người với con người, giữa con người với thời gian và không gian thật là chặt chẽ. Đó là sự cùng trôi đi và mất tăm. Như nước chảy qua cầu. Tôi nghĩ, viết quyển bút ký này, Trần Thị Bông Giấy trước hết muốn giữ cho chính nàng, muốn làm không gian và thời gian ngưng đọng lại, để trong không gian và thời gian đó vẫn còn nguyên những người, những cảnh, những chuyện của kỷ niệm hiện tại và của cả một đời. Vì thế, văn chương không phải là mục tiêu khởi đầu của Nước Chảy Qua Cầu, của Trần Thị Bông Giấy. Văn chương chỉ tự nó thành tựu ở lúc tâm sự, kỷ niệm được tác giả viết xuống thành chữ, thành câu, sau khi đã là những chuyện kể. Những chuyện kể bềnh bồng trôi giạt...

Trần Nghi Hoàng
4 giờ sáng ngày 12 tháng 8 năm 1989



VIII






Paris. Khí trời đã trở lại ấm áp. Những tia nắng vàng nhẩy múa trên các đọt cây. Chim trên cành chợt cao tiếng hát. Cỏ hoa như muốn trẩy mình lên. Mùa Xuân đang trở về sau những ngày mùa Đông vô cùng buốt giá.

Đi trên phố Paris mà đôi lúc tôi cứ có cảm tưởng như đang đi trong thành phố mây giăng thấp ngàn đời của quê hương xa vời ấy. Giờ đây, xứ sở này không còn làm cho tôi phải e ngại nữa. Bản chất đầy nghị lực của người Việt Nam tiềm tàng trong máu huyết đã hỗ trợ cho tôi phần lớn. Có lẽ đó cũng là ân sủng Thượng Đế ban riêng cho những con người Á Châu bé nhỏ để có thể đứng vững trong thế giới hùng mạnh của người Âu châu?

Tuy nhiên, khác với người Trung Hoa, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, hay Cam-Bốt... người Việt Nam chiếm được nhiều cảm tình hơn của các giống dân Âu Châu. Thông minh, cần cù và hòa nhã là những đức tính quý báu góp phần rất nhiều cho sự thành công của người Việt trong xã hội Pháp. Qua những lần trò chuyện, tôi được nghe nhiều người bạn Pháp bày tỏ rằng nụ cười của người Việt Nam ấm áp rất nhiều so với sự câm lặng kiêu hãnh của người Nhật; nét đẹp của phụ nữ Việt Nam sâu sắc thanh tú hơn tất cả những phụ nữ của các nước Á Châu; mỗi người đàn ông Việt Nam là một cái núi đá câm nín chịu đựng trước mọi thiên tai tuế nguyệt, nhưng đồng thời lại là một lò thuốc súng bất cứ lúc nào cũng có thể nổ tung....

Dù chủ quan hay khách quan trong cái nhìn ấy thì vẫn là điều làm cho tôi thích thú. Vị thế nương nhờ đất khách hiện nay do đó mà cũng bớt dần đi nỗi ngậm ngùi riêng.




Sàigòn, tháng 5/1979.


Sàigòn là thủ đô của nước Việt Nam Cộng Hòa kể từ ngày 30/4/1975 trở về trước. Quốc Hội khóa 4 ngày 2 tháng 7/1976 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa quyết định biến Sàigòn ra một thành phố với tên “Hồ Chí Minh”.

Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa miền Đông và miền Tây Nam phần, thành phố Hồ Chí Minh bắc giáp tỉnh Tây Ninh và tỉnh Sông Bé; đông giáp tỉnh Đồng Nai; tây và tây nam giáp tỉnh Long An; bao gồm 12 quận nội thành (quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Phú Nhuận và 6 huyện ngoại thành (huyện Bình Chánh, Củ Chi, Hốc Môn, Nhà Bè, Thủ Đức và Duyên Hải.)

.. .. ..

Đoàn lưu lại thành phố ba tháng để tập tuồng mới và hát ra mắt tại các rạp thủ đô. Sàigòn đang giữa mùa mưa. Những cơn mưa thường bắt đầu vào ban đêm, rả rích kéo dài tới sáng cũng chưa dứt hột. Tâm tư người nghệ sĩ u sầu hơn khi thấy rạp vắng đi nhiều khán giả.

Đêm khuya, đạp xe từ rạp hát trở về trong cơn mưa như trút nước, nhìn con phố buồn tênh với những dòng đèn vàng đứng trơ vơ hai bên lộ vắng, tôi chợt thấy Sàigòn gần gũi với mình hơn bao giờ. Kỷ niệm xô nhau sống dậy theo từng vòng quay của hai chiếc bánh xe...

Mùa mưa là mùa của loài dế. Những con dế than, dế lửa, dế ốc tiêu và dế thầy chùa thi nhau bay nhảy khắp nơi rồi nhanh chóng bị các bàn tay con người chộp lấy cho vào rọ. Những con dế cơm bụ bẫm trở thành miếng mồi ngon khi người ta đem nó ra ngắt đầu, bứt cánh, rút ruột, nhét vào trong bụng một hạt đậu phọng và đem tẩm bột chiên lên.

Suốt cả thời thơ ấu, tôi chưa lần nào có được cho riêng mình một con dế. Có lẽ vì thương những sinh vật bé nhỏ ấy nên tôi không muốn có, không muốn làm như đứa em trai đem nhốt dế vào trong cái hộp quẹt nhỏ xíu, bỏ thêm vài cọng giá sống làm thức ăn cho nó; thỉnh thoảng lại đem ra, bứt sợi tóc quấn quanh cổ nó rồi quay vòng vòng như một hình thức “vô nước” trước khi thả xuống đấu trường để tranh tài với một con dế khác.

Tôi vẫn không ưa cái trò chơi tàn nhẫn như vừa kể; tuy nhiên tiếng gáy của dế lại là điều mê thích thật nhiều với tôi. Giữa khuya, khi trời đã tạnh cơn mưa, nằm nghe một tiếng dế cất lên, rồi cả đàn dế cùng cất cao điệu nhạc, thêm tiếng rơi của từng giọt nước rỉ ra từ máng xối xuống một cái thùng thiếc nào đó, thật không còn gì thê thiết cho bằng! Nghe nó khắc khoải, ray rức trái tim làm sao giữa một không gian ngủ yên như chết.

Mùa mưa cũng còn là mùa thú vị đối với trẻ con. Những trận mưa dầm kéo dài cả ngày làm trở ngại bao nhiêu cho các sinh hoạt của người lớn thì với con nít, lại là một niềm thích thú đặc biệt bấy nhiêu. Trong những mùa mưa xa xưa, tôi vẫn thường đứng nhìn ra ngoài cửa sổ để xem đám trẻ cùng tuổi xóm sau rủ nhau ra ngoài mưa đùa giỡn. Từng tốp con nít vừa trai vừa gái, đứa cởi truồng nhồng nhộng, đứa mặc phong phanh cái quần cụt, chạy khắp làng trên xóm dưới, vừa chạy vừa la gào inh ỏi. Cứ đến mỗi cái máng xối của một căn nhà nào đó là lũ trẻ dừng lại tranh nhau đứng bên dưới luồng nước, xong, hè nhau chạy biến qua con hẻm kế bên.

Trò tắm mưa càng bị cấm ngặt thì lại càng trở nên quyến rũ với chị em tôi mỗi khi mùa mưa tới. Trong chuỗi ngày thơ ấy, đã từng nhiều lần tôi đứng bên cửa sổ nhìn ra ngoài mưa, lòng bồn chồn thèm muốn. Ít ra hơn một lần tôi ao ước mình là một trong những đứa bé kia để được tự do chạy nhảy tìm cảm giác lạnh run khi ngoài trời, mưa đang rơi nhanh xuống.

[]


Paris. Buổi sáng đưa tiễn người anh lớn ra Gare de Lyon trở về Marseille. Mười mấy năm rồi mới gặp lại, khuôn mặt anh đã già, mái tóc dài tới gáy đã điểm sương. Một tuần ở với nhau, nói biết bao nhiêu chuyện mà thấy còn chưa đủ. Trên sân ga tấp nập rộn ràng, hình như cả hai vẫn còn nhiều điều muốn kể cho nhau? Bốn năm rời bỏ quê hương, đây mới là lần đầu tôi gặp lại anh, một điều mà khi còn ở Việt Nam, tôi tưởng dễ làm và làm ngay được ngày nào đặt chân lên đất Pháp.

Ở một thời điểm xa xưa nào đó phải đi bằng ngựa hằng mấy tháng để thăm nhau mà con người vẫn dễ dàng làm được! Còn bây giờ, chỉ một chuyến bay vài tiếng đồng hồ cũng khó lòng thực hiện cái điều biểu lộ tình thân cho nhau.

Buổi sáng, trời mù hơi sương. Chuyến xe lửa tốc hành trờ tới. Mọi người kéo cao cổ áo, nối đuôi nhau bước vội lên bục gỗ. Anh xiết tay tôi: “Một điều anh muốn khuyên em là nên lập gia đình đi. Mẹ đã già, và cháu San cũng cần có một người cha.”

Tôi cười nhẹ: “Chính vì nghĩ đến mẹ và cháu San mà em càng không muốn lập gia đình đó!”

Người xếp ga giơ cao cái cờ hiệu trong tay. Còi tàu rú lên. Chuyến xe lửa lăn bánh từ từ giữa những cái vẫy tay giã từ tới tấp.




Sàigòn, tháng 5/1979.


Trời Sàigòn vẫn mưa từng chặp, lê thê, ướt át. Các đêm hát không còn đông khán giả. Những hàng ghế cuối trống trơn, phiền muộn. Trước cửa rạp, các người bán vé chợ đen đi lui đi tới, nét mặt ủ dột buồn thiu, trên tay cầm xấp vé ế. Tuy vậy, chiếc màn nhung vẫn được kéo ra đúng giờ và người nghệ sĩ vẫn phải cất lên tiếng lòng ai oán như lệ thường mỗi tối.

Một đêm trong Sàigòn, trời mưa làm lười biếng nên tôi ngồi lại nơi vị trí của mình để xem từ đầu đến cuối một tuồng hát mà bốn năm qua, tôi đã nhiều lần xem không trọn. Vẫn bấy nhiêu y trang đẹp mắt, bấy nhiêu phong cảnh quen thuộc, nhưng giờ đây dưới cái nhìn của tôi, tất cả lại đổi khác. Nghe như có nỗi gì mới lạ trước tiếng cười nắc nẻ của khán giả theo mọi cử chỉ, hành vi của một anh hề nổi tiếng mà nhớ đến cái cảnh nghèo khổ nheo nhóc của gia đình riêng anh...: hoặc khi nhìn lên nhân vật uy nghi trong vai vị tướng cầm đầu ba quân trên sân khấu, tôi lại nghĩ nhanh đến hình ảnh một anh chồng đau khổ vì sự phụ bạc của người vợ ngoài cuộc đời.

Ai đó đã nói: “Nghệ sĩ là những con người thương vay khóc mướn cho nhân thế.” Điều này thật đúng. Nhưng có mấy ai biết, với những nỗi buồn riêng, người nghệ sĩ đã chôn giấu tận sâu dưới ánh đèn màu, dưới lớp phấn son loè loẹt? Mấy ai biết, đàng sau cái cười kia là những dòng nước mắt và những khổ đau chồng chất được biến thành nghệ thuật để làm cho trọn vai trò khóc mướn thương vay?

Trên một góc cạnh khác, đối với tôi, từng anh công nhân cũng là từng mỗi nghệ sĩ, dù chỉ trong bóng tối và không được ai biết đến. Sự thành công hay không của một đêm hát là do phần không nhỏ bàn tay của các người nghệ sĩ vô danh này góp vào. Tấm màn nhung phải căng ra thế nào cho đẹp; một góc sân khấu phải dựng phông và chiếu đèn sao cho sáng để vai trò diễn viên được nổi bật... cũng đều thoát thai từ nghệ thuật.

Cái đời hát ca ngày tháng mua vui cho người không chỉ gói trọn trên bề mặt đẹp đẽ lòe loẹt của ánh đèn màu, của những tràng pháo tay rộn rã; mà còn gom tụ luôn cả những nỗi ê chề bên trong hậu trường khi tấm màn nhung khép lại trước những hàng ghế buồn phiền, trơ trọi. Người nghệ sĩ khi ấy trở về đời sống thật, đối diện với từng hoàn cảnh riêng. Những nụ cười rơi mất. Lớp son phấn bay đi. Nét hào hoa sân khấu được lột bỏ... để chỉ còn lại những mối ưu tư theo vợ yếu, con đau, giá sinh hoạt đắt đỏ và đêm lương không biết có được lãnh đủ không khi mà trời mưa làm thất thu cho đoàn hát?

Son phấn rớt phô mặt đời thê thảm
Gió mưa lên lận đận kiếp giang hồ
Ôi! Khóc mướn thương vay –màn đã khép
Lớp phong trần ai diễn giữa đêm mơ? (1)

Ngoài kia, mưa rơi và còn rơi như không cần biết đến những mối buồn riêng trong tâm tư người nghệ sĩ.

[]


_______________________



(1) Thơ Trần Nghi Hoàng.



... còn tiếp











© tác giả giữ bản quyền .


cấm trích đăng lại


Trang Chính Thơ - Nhạc Văn - Truyện Biên Khảo Nhận Định Âm Nhạc Kịch Nghệ Ấn Phẩm Liên Kết