TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



. Sinh năm 1944 .
. Tại Thái Bình .
. 1967 tốt nghiệp khoa Sinh, Đại học Tổng hợp Hà Nội.
. 1973 làm việc tại Hội Văn nghệ Thái Bình.
. 1979 làm việc tại Hội Văn nghệ Kiên Giang.
. Từ 1996-2000 phóng viên báo Văn Nghệ Hội Nhà văn Việt Nam.
. Hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

- Bên bờ vịnh Rạch Giá tập truyện
- Thời gian gom nhặt (thơ)
- Trấn Hà Tiên và Tao Đàn Chiêu Anh Các (biên khảo)
- Nguyễn Thị Lộ (tiểu thuyết)
- Thử tìm lại cội nguồn người Việt (biên khảo)



Nguyễn Thị Lộ
tiểu thuyết lịch sử
nxb Văn Học 2006



Tìm Lại Cội Nguồn
nxb Văn Học 2007


 




Nguyễn Thị Lộ - tiểu thuyết lịch sữ cũa Hà Văn Thùy







TỰA

Trong những định nghĩa về lịch sử, hình như có câu: "Lịch sử là những văn bản do sử gia viết rồi sau đó không ngừng được viết lại." Xem ra định nghĩa này đúng với trường hợp Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ.

Về Lễ nghi học sĩ triều Lê Thái tông, sử gia Ngô Sĩ Liên có Lời bàn: "Nữ sắc làm hại người ta quá lắm. Thị Lộ chỉ là một người đàn bà thôi, Thái tông yêu nó mà thân phải chết, Nguyễn Trãi lấy nó mà cả họ bị diệt, không đề phòng mà được ư?" Ðiều này, như người ta thường nói, là quan niệm bất công, khinh rẻ phụ nữ của một sử gia phong kiến. Nhưng vì lẽ gì, ngay cả trong chuyện Rắn báo oán tác giả dân gian cũng phũ phàng dồn hết mọi tội lỗi lên đầu người đàn bà?

Về Nguyễn Trãi, vua Tự Ðức nhà Nguyễn có Lời phê: "Ðời Lê Thái tông, vua thì buông tuồng, bầy tôi thì chuyên quyền. Trãi nếu là người hiền thì nên sớm liệu rút lui, ẩn náu tung tích để cho danh tiếng được toàn vẹn. Thế mà lại đi đón trước ngự giá, thả lỏng cho vợ làm việc hoang dâm, vô liêm sỉ. Vậy thì tai vạ tru di cũng là tự Trãi chuốc lấy. Như thế sao được gọi là người hiền?" Với nhiều thế hệ trí thức Việt, lời bàn trên được coi như khuôn vàng thước ngọc. Nhưng rồi thời gian cho thấy khuôn vàng thước ngọc cũng biến dạng!

Nguyễn Trãi có là người hiền chăng? Biết tất cả những bậc hiền của quá khứ, biết những Khuất Nguyên, Trương Lương, Ngũ Tử Tư, Văn Chủng, Phạm Lãi. Biết Chu Văn An và cũng biết Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo.nhưng Nguyễn Trãi tự biết mình hơn bởi ông là người hiền dấn thân . Án Trại Vải là bi kịch tất yếu mang tính toàn nhân loại khi chế độ chuyên quyền thống trị. Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là viên đá lót đường cho dân tộc vươn tới tự do!

Văn bản lịch sử không phải là văn bản chết mà là tấm gương từ đó con người phải soi vào để nhận ra chân dung của bản thân mình, của thời đại mình. Nhà văn, trong ý nghĩa nguyên sơ của từ này, chính là lương tri của dân tộc của thời đại, có nhiệm vụ giải mã tấm gương câm lặng của lịch sử để đưa ánh sáng dọi chiếu con đường đi tới cho dân tộc. Ðấy là sứ mạng thiêng liêng cao cả nhiều người mơ ước. Nhưng giải mã chân xác cuốn sách cổ là điều cực khó mà không phải ai cũng thành công.

Tiểu thuyết Khối tình Nguyễn Thị Lộ là một trong những cách giải mã lịch sử. Ðánh giá nó thế nào là quyền của thời gian.

Sài Gòn, Thu Giáp Thân

Hà Văn Thùy






NGUYỄN THỊ LỘ


Chương Hai


1


N ăm Kỷ Mùi Thiệu Bình thứ sáu là năm đặc biệt của vương triều Lê Thái tông. Như thân cây mảnh dẻ sau nhiều năm bị cớm nắng dưới bóng quyền thần, nhà vua đã vươn ra ánh sáng, muốn khẳng định bản lĩnh thiên tử của mình. Ngài quyết định năm sau, Canh Thân sẽ đổi niên hiệu, mở ra khúc ngoặt mới cho Ðại Việt. Chuẩn bị cho cuộc đổi mới ấy, lễ thánh tiết năm nay ngài không dùng tên Kế thiên như mọi năm mà đổi thành Vạn thọ thánh tiết. Ngài muốn rằng ngày đó phải được cử hành thật long trọng. Ngoài thông lệ là các quan vào Ðiện chúc thọ rồi hoàng thượng ban yến cho bá quan, năm nay còn có biểu diễn múa kiếm tại sân rồng, trình diễn múa và dàn nhạc lễ của quan Ðô giám trung thừa. Hai năm trước, sau khi bất đồng với Lương Ðăng trong việc làm nhạc lễ, quan Hành khiển Nguyễn Trãi trả việc nhà vua rồi xin về Côn Sơn trí sĩ. Vào tiết Vu lan năm nay, nhà vua thấy lòng không thanh thản nên đã cho mở cái hòm vàng chứa di ngôn của tiên đế, trong đó ngài đọc được dòng chữ ghi lại lời của vua cha lúc sắp băng. Ðọc những dòng chữ do sử quan ghi, Thái tông bỗng nhớ lại buổi chiều tháng Tám sụt sùi mưa năm ấy. Là đứa trẻ sắp mất cha, nhà vua đã khóc khản cổ bên long sàng, có nghe cha nói nhưng nào biết nói những lời gì! Vì vậy, một thời nhà vua theo bản năng của đứa trẻ được nuông chiều, đã từ chối việc đưa quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi vào cung làm thầy học. Trong giây lát, lòng trắc ẩn rung động, nhà vua cảm thấy hối tiếc và ân hận nên đã xuống chiếu cho Lê Trãi giữ chức cũ, kiêm Trung thư sảnh tri tam quán sự đồng thời cho quản cả việc quân dân hai đạo Ðông Bắc để ông vẫn được ở quê nhà vui cùng sơn thủy. Tiếp chỉ của nhà vua, Lê Trãi hồi kinh bái nhận rồi bắt tay vào công việc, định rằng tới dịp thánh tiết sẽ về triều tạ ân. Vì vậy năm nay ông về Thăng Long sớm. Trong buổi chầu, ông dâng tấu báo cáo tình hình quân dân đạo An Bang cùng biểu tạ ân. Hai bản văn được dâng lên, nhà vua đặt bản cáo trên án trước mặt mình, còn biểu tạ ân, sai quan Ngự sử Bùi Cầm Hổ đọc. Quan ngự sử vái nhà vua, nhận bài biểu rồi hắng giọng:

"Vinh lộc đại phu Nhập nội Hành khiển Môn hạ sảnh tả ty hữu gián nghị đại phu kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ học sĩ tri tam quán sự đề cử Côn Sơn Tứ phúc tự Á đại trí tự tứ quốc tính Lê Trãi, rất lo rất sợ, cúi đầu rập đầu kính tâu:

Ngày 20 năm nay, kính đội thánh ân, trao cho thần chức kể trên, thần đã bái nhận rồi, nay kính cẩn dâng biểu tạ ân.

Cúi nghĩ: Sáu chục tuổi xuân tàn, chức vụ đã yên phận mọn; chín trùng trời chiếu xuống, móc mưa lại đội ân trên.

Xét mình biết thế là vinh; nghĩ bụng lại càng thêm thẹn.

Thần, tấn thân dòng cũ, chương củ nho hèn.

Chuyên đọc Ðiển Phần, chí những muốn việc cổ nhân đã muốn, để tâm dân chúng, mình trước lo điều thiên hạ phải lo.

Ðương quốc gia thảo muội ban đầu; vừa chân chúa phong vân gặp hội.

Cửa viên ruổi ngựa, làm việc lớn mà nửa đời trung nghĩa được tròn; miệng hổ giấu mình, quyết nghị hòa mà hai nước can qua đều nghỉ.

Ðặc ân may được, chính chức dự vào.

Nói tất nghe mà kế tất theo; công đã thành mà danh đã toại.

Chia bảo phù, ban thái ấp, chung ngựa trắng ăn thề; mua ghen ghét, chuốc dèm pha, chợt nhặng xanh nhơ vết.

Mới biết quả hợp thì người khó thích; để cho trong trắng thì bẩn đã dây.

Nếu không được Tiên đế xét rõ đáy lòng, thì hầu khiến tiểu thần ngậm cười dưới đất.

Việc qua đã hẳn, lòng còn thẹn chi.

Kim mã ngọc đường, vật cũ rốt thu lại được; thanh thiên bạch nhật, lòng trung được chút tỏ ra.

Sao vãn cảnh đã xế bóng tang du, mà thanh mộng còn vương nơi kim khuyết?

Tài hèn sức yếu, đầu bạc lòng son.

Nào ngờ lúc hài cốt xin về, lại được mệnh vân tiêu ban xuống.

Kính thấy Hoàng đế bệ hạ, trên đầu sáng rỡ, rộng rãi khôn lường.

Ðế Nghiêu là thánh là thần, biết người rất rõ; đại Thuấn thích nghe thích xét, đãi chúng lấy khoan.

Chọn người hiền không cứ loại nào; dùng người tài xem như mình vậy.

Kén người thì rau phỉ rau phong đều hái; đức tài thì đồ thô đồ méo không quên.

Thương thần như ngựa đến tuổi già, còn kham rong ruổi; cho thần như thông qua năm rét, càng dạn tuyết sương.

Quần môn mặc kệ dèm pha; thánh ý cứ bền tín nhiệm.

Khiến cho suy nát trở lại sáng tươi.

Chức giữ Ðông đài, thực việc triều đình rất trọng; việc kiêm Tam quán, ấy điều nho giả cực vinh.

Huống ban quốc tính để rạng tông môn; lại với công thần xếp cùng hàng liệt.

Cảm mà chảy nước mắt, mừng mà sợ trong lòng.

Tự nghĩ ngu hèn, sao cho xứng đáng.

Thần gìn giữ bền tiết cũ, mong kịp người xưa.

Bể rộng non cao, chưa báo được quyên ai chút đỉnh;

Trời che đất chở, dám đâu quên ân đức lớn lao!"

Ngự sử Bùi vừa dứt lời, các quan liền tung hô vạn tuế ba lần. Chờ cho mọi người im lặng trở lại, nhà vua nói với Trãi:

- Vào dịp Vu lan, trẫm có việc đọc lại những ý chỉ của Tiên đế, đã tìm thấy lời Người nói trước lúc lâm chung : "Ngày dấy nghiệp, Lê Trãi giúp ta có công lớn. Khi đại định, tuy không dùng được Trãi nhưng ta vẫn biết tài lương đống cùng lòng trung son sắt của ông ta. Lê Trãi như cây gỗ lim giữa rừng Lam Sơn, càng già càng quý, ta dành ông ta để lại cho ngươi làm trụ cột chống đỡ giang sơn nhà Lê. Chớ quên lời ta!" Vâng theo di huấn của Tiên đế, trẫm đã trọng dụng, nâng khanh lên hàng đầu của công thần. Trẫm mong khanh hết lòng vì nước!

* * *

Sáng ngày hăm hai tháng Một, quan Thiếu úy thiếu bảo tham tri chính sự Liệt hầu Trịnh Khả dẫn bách quan theo hoàng thượng tới nhà Thái Miếu cáo tiên tổ. Trong tiếng trống tiếng chiêng rộn rã, cờ phấp phới bay, người dân kinh thành ăn mặc thật đẹp nô nức đi xem hội để được từ xa ngắm vua cùng bách quan. Lính vụt roi dẹp đường, tiếp đó xe loan chở nhà vua, hoàng hậu, hoàng tử đi trước, đi sau là kiệu của các quan. Lọng vàng lọng tía che rợp trời. Nhà Thái Miếu đèn nến sáng trưng. Tại gian chính điện một đỉnh lớn bằng đồng bốc làn khói xanh thơm ngát hương trầm. Những nén nhang cắm trước bài vị của Thái tổ cùng các vị tiền bối nhà Lê khói tỏa nghi ngút. Các quan theo thứ tự quỳ trên nền gạch trải chiếu hoa cạp điều. Nhà vua quỳ trên tấm thảm màu vàng. Ðứng quay mặt vào điện, viên lễ quan trịnh trọng đọc:

". Ðứa con côi là Nguyên Long kính dâng Tiên đế cùng liệt tổ liệt tông tấm lòng tri ân vạn bội. Nay nhân ngày thánh tiết, xin cáo với Tiên đế cùng tổ bối rằng, từ năm thứ nhất đến năm Thiệu Bình thứ sáu, tuy còn phải nương dưới bóng quyền thần, kẻ hiếu tử là Thái tông đã giữ vững giang sơn nhà Lê, mở khoa thi, luyện quân sĩ, chế lễ nhạc điển chương, đất nước đã thái bình thịnh trị. Nay thời cơ vào hội mới, hiếu tử quyết định từ năm sau đổi niên hiệu là Ðại Bảo năm thứ nhất. Kính cáo việc lớn này để Tiên đế cùng liệt tổ liệt tông chứng giám và phù hộ cho trẫm cùng giang sơn nhà Lê."

Bài cáo đọc xong, một hồi chuông trống rung lên, vua cùng bách quan dập đầu lạy bốn lạy. Ðội nhạc cung đình tấu nhạc lễ mừng Thánh tiết.

Từ Thái miếu, vua quan trở về cung, Lỗ bộ ty bày sẵn nghi trượng ở Ðan Trì. Ngự ở Ðiện Hội Anh, vua mặc triều phục áo cổn, mũ miện ra ngồi ngay ngắn trên ngai vàng, bá quan quỳ nghe quan bộ Lễ đọc biểu chúc thọ. Ðọc xong, các quan tung hô vạn tuế. Tiếp đó vị quan của nội cung đọc chiếu của hoàng thượng:

"Tiên đế băng hà, trẫm sớm phải lo việc nước.

Nỗi nhà thì ngặt: một đứa con côi.

Vận nước nặng nề: buổi đầu gầy dựng.

May nhờ hồng phúc tổ tiên;

may nhờ bách quan giúp rập

mà nước thái bình mà dân lạc nghiệp.

Thiệu Bình sáu năm, trẫm dốc lòng hiếu thuận.

Nhưng trẻ thơ sao khỏi lỗi lầm.

Nay niên nguyệt trưởng thành, tới lúc phải chỉnh trang triều chính.

Trẫm quyết định đổi niên hiệu, lấy năm sau Canh Thân làm năm Ðại Bảo nguyên niên.

Kể từ năm nay, lễ thánh thọ gọi là Vạn thọ thánh tiết.

Nhân dịp này trẫm công bố đại xá thiên hạ, thưởng cho những người bảy mươi tuổi trở lên, mỗi người một tư."

Những mâm yến đã bày sẵn. Bọn thái giám đón mời từng người theo thứ tự vào chỗ ngồi. Những bình ngự tửu bọc giấy hồng điều được đem tới từng mâm. Trong tiếng nhạc rộn ràng, mọi người chuyện trò cười nói vui vẻ. Vừa dự tiệc trong Ðiện, các quan vừa xem võ sĩ đấu kiếm giữa sân rồng. Sau múa kiếm là chương trình tấu nhạc.

Về dự Thánh tiết năm nay, quan Hành khiển Nguyễn Trãi vui hơn mọi lần. Từ một hưu quan tưởng như chỉ còn sống quãng ngày tàn, ông bỗng được vua dùng lại, giao cho những công việc hệ trọng ở hai đạo miền Ðông Bắc. Một số công việc ông mới thi hành nhưng kết quả thì đã rõ: bỏ bớt những chính sách ngặt nghèo, hạn chế bọn cường hào và giặc cướp, ổn cố được nhân tâm. Ðấy chính là cái gốc của bản nhạc mà ông trình lên nhà vua hôm dâng biểu tạ ân. Nhìn nhà vua mấy ngày qua, ông thấy như là con người khác, con người chủ động và quyết đoán, không còn như trước đây, là mầm cây cớm nắng dưới bóng bọn Ngân bọn Sát. Nghe những bài chiếu bài cáo, ông hiểu nhà vua đã trưởng thành, muốn vượt khỏi quá khứ, tự khẳng định. Hiểu vậy nhưng thâm tâm Nguyễn Trãi cũng tiếc cho nhà vua tuy thông minh nhưng vì thiếu sự học hành cần thiết mà bị hạn chế nhiều trong công việc. Hai năm trước, khi nhận làm nhạc, ông đã tâu:

"Thời loạn thì dùng võ, thời bình thì dùng văn: Ngày nay định ra lễ nhạc chính là phải thời lắm. Song không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn thì không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần vâng theo chiếu chỉ thẩm định nhã nhạc, không dám không hết lòng. Song học vấn sơ sài, nông cạn sợ trong áng thanh luật khó làm cho được hài hòa. Dám mong bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân khiến cho trong thôn cùng xóm vắng, không có một tiếng hờn giận oán sầu. Ðó tức là giữ được cái gốc của nhạc."

Nhà vua đã khen ông. Ông những tưởng, giao ông làm công việc quan trọng này là nhà vua hiểu ý nghĩa công việc và cũng biết, người có thể làm được tốt nhất là ông, tức là hoàng đế nhận chân giá trị của ông. Nhưng sự đời không như ông nghĩ. Ðến khi vào việc, thì thật trớ trêu, nhà vua ghép ông cùng làm với gã hoạn quan Lương Ðăng. Ông không sao hiểu được vì lẽ gì nhà vua lại dùng Lương Ðăng trong việc làm nhạc. Dùng hắn làm kẻ hầu hạ nơi hậu cung thì ông có thể hiểu được và cũng không xét nét với nhà vua, đằng này lại dùng y làm nhạc. Ông hiểu y quá. Y là con một phú ông huyện Tĩnh Gia xứ Thanh Hoa. Phú ông rất mê hát nên trong nhà thường nuôi những gánh hát có tiếng, đàn địch hát xướng thâu đêm suốt sáng. Người con trưởng phú ông lây tính mê hát xướng của cha lại vốn thông minh nên nhanh chóng thuộc nhiều tuồng tích cùng bắt chước đóng những vai tuồng hát khá tài, lại học được thanh luật, thạo một số ngón đàn. Có gánh hát xin Ðăng theo nhưng nghĩ, con nhà con hát không thể tiến thân nên phú ông không chịu. Khi Ðăng tới tuổi trưởng thành thì phú ông mất, gia cảnh trở nên sa sút. Quen hát xướng chơi bời nhàn nhã, Ðăng không chịu được nghề nông vất vả. Lại do thuộc nhiều tuồng tích nên Ðăng thấy chỉ có con đường tiến thân nhanh nhất là làm quan hoạn. Nghĩ vậy, y tự thiến rồi nhờ người mai mối tiến cung. Vốn thương người, nên khi thấy viên quan hoạn trẻ thông minh nhanh nhẹn, có khiếu mua vui, Thái tổ yêu, cho ở gần. Những ngày trận mạc gian nan, có Ðăng bên cạnh, khi kể chuyện, lúc diễn tuồng hát xướng, đàn địch khiến nhà vua thanh thỏa, càng yêu hơn. Nhưng về cuối đời nhìn ra bộ mặt hèn hạ của gã nô tài, chỉ biết làm vui lòng chủ nên nhà vua không tin dùng nữa, đồng thời di chiếu cho con cháu không được lục dụng. Tưởng phen này y hết thời. Nhưng khi Thái tổ qua đời, bằng sự khéo léo miệng lưỡi, y lại được Thái tông thích, dùng làm thủ túc thân tín. Cậy thế chủ nên khi bàn làm lễ nhạc tên hoạn quan vô học ngang ngược lấn át Nguyễn Trãi từng ly từng tý. Tuy ông đã hết sức nhẫn nhịn mong làm tốt việc vua giao nhưng cuối cùng không chịu nổi, đành xin rút khỏi việc. Ðến khi nghe Ðăng dâng kiến nghị về nghi thức các buổi lễ trong triều, ông cùng các ông Nguyễn Truyền, Ðào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến, Nguyễn Liễu tâu:

- Lễ nhạc là cốt ở người mới đặt ra được. Phải là bậc tài thức như Chu công rồi sau mới không thể chê trách được việc đặt lễ chế nhạc. Nay nhà vua để cho hạng bầy tôi hèn mọn ở trong cung chuyên việc xếp đặt lễ nhạc, như vậy chẳng tủi nhục cho nước nhà lắm sao? Vả lại việc làm của Ðăng đều là dối vua lừa dưới không căn cứ vào đâu cả. Lương Ðăng là tên bầy tôi hèn mọn ra vào nơi cung cấm, hầu hạ ở bên vua, như vậy chúng tôi trộm lấy làm ngờ lắm!

Nghe vậy Lương Ðăng tâu:

- Thần là kẻ vô học, không biết chế độ thời xưa ra sao. Những việc bây giờ làm đó chỉ là biết thế nào làm thế ấy mà thôi.

Nguyễn Liễu nóng mắt nói:

- Từ xưa đến nay chưa có bao giờ hoạn quan lại tự chuyên làm nát thiên hạ như vậy.

Ðúng lúc đó, hoạn quan Ðinh Thắng từ trong cung đi ra, mắng lớn:

- Hoạn quan làm gì mà nát thiên hạ? Nếu nát thiên hạ thì phải chém đầu mày!

Vậy mà Nguyễn Liễu bị hình quan khép tội chém, may vua hạ chiếu giáng xuống tội thích chữ vào mặt đày đi xa. Ðấy là chuyện của hai năm trước. "Có cô thì chợ cũng đông." Nguyễn Trãi cười mỉm nhớ lại câu ca của dân gian.

Nay ngắm nhìn buổi đại lễ cử theo nghi thức mới với ê hề nào trống nào chiêng nào đàn nào địch gióng lên gõ lên gào lên thét lên trong cung điện, trong nhà Thái miếu, giữa sân rồng. vị lão thần cảm thấy người gai lên vì tủi hổ. Ðấy là cả một sự hỗn độn, cả một sự trái ngược. Buổi lễ với những con người từ nét mặt từ quần áo, dáng đi đều mang vẻ trang nghiêm. Sự trang nghiêm cố ý đến cứng nhắc bị những tiếng chiêng tiếng trống tiếng đàn hỗn độn bỡn cợt tạo nên một cái gì đó bát nháo kệch cỡm đến khôi hài. "Như vậy chẳng tủi nhục cho nước nhà lắm sao?" Quan Hành khiển nhớ lại những điều ông đã tâu vua hai năm trước!

Bối cảnh trước mắt làm hiển hiện bức tranh đất nước. Nhà Mạt Trần giềng mối hỗn loạn, kỷ cương lỏng lẻo. Nhà Hồ chính sự tàn khốc phiền hà tiếp đó là suốt hai mươi năm loạn lạc chiến tranh, cái công cái xảo là đánh thành chém tướng. Ðại Việt một thời gian dài đứt đoạn về lễ nghi. Những con người thực sự hiểu biết như Trần Nguyên Hãn, như Phạm Văn Xảo thì bị giết vì nghi kỵ. Người hơi hiểu biết như bọn Lê Văn Linh thì hèn hạ xu phụ quyền thần để thỏa túi tham. Người biết thì không được làm còn người nhảy ra làm thì không biết việc! Triều đình nhà Lê như một mớ bung xung mạnh đâu mọc đấy. Trong cảnh hỗn mang như vậy, chó nhảy lên bàn độc! Lương Ðăng làm nhạc định lễ rồi nhạc lễ của Lương Ðăng là đỉnh điểm của sự bát nháo của sự vô học. "Văn hiến nước nhà đang bị lăng mạ!" Nguyễn Trãi nghĩ mà xót xa trong lòng. Quan Hành khiển muốn cười mà không cười nổi, ông nuốt nước mắt vào trong!

Buổi tối, các đại thần được đưa vợ con vào Ngự uyển xem hội hoa đăng. Nguyễn Trãi đưa phu nhân là bà Nguyễn Thị Lộ đi dự hội. Trong vườn Ngự uyển có những con đường lớn rợp bóng cây, mùa hè ban ngày mát rượi. Còn có Ngọc Hồ là cái hồ tròn rộng vài chục mẫu. Ðêm nay trên các cây ven hồ treo những chiếc đèn lồng đủ màu đủ kiểu. Các đại thần, phu nhân, công tử quận chúa tiểu thư khuê các mặc những bộ quần áo đẹp nhất đi dạo chơi ngắm người ngắm cảnh khoe tươi khoe tốt. Bên hồ có những rạp mới dựng lên làm chỗ trình diễn nhạc múa. Cách một quãng lại có một quầy hàng đèn nến sáng trưng bày la liệt hàng hóa quý hiếm do thương nhân từ các đạo mang đến dự hội chợ. Các hàng hóa đều được miễn thuế. Những thứ hàng tốt nhất đẹp nhất còn được thưởng. Thương nhân các đạo đua nhau đem tới phương vật cùng hàng hóa từ Lão Qua, Chân Lạp đưa sang, từ Nam Dương chuyển tới, được bán với giá rẻ. Từ phía bắc hồ, hàng trăm cung nhân cùng tiểu thái giám ăn mặc như tiên đồng ngọc nữ đem những chiếc thuyền nhỏ bằng giấy, có buồm có bánh lái, đốt lên ngọn nến ở giữa thuyền rồi thả trên mặt hồ cho trôi theo chiều gió bấc. Thuyền ai cập bến trước nhất mà vẫn còn sáng đèn sáng nến thì được thưởng. Nguyễn Trãi trong lễ phục, choàng thêm tấm áo kép lên mình, trông dáng người nho nhã. Thị Lộ mặc áo dài nhung đen nền nã. Trong màn đêm, ánh đèn đậm nhạt, sắc đen của nhung làm nổi lên màu trắng của làn da, nét nhân hậu nơi khuôn mặt. Chiếc áo bó sát người khiến cho cơ thể tròn trĩnh của thiếu phụ tỏa ra sức hấp dẫn lạ lùng. Một tài tử tiên phong đạo cốt bước bên cạnh một tuyệt thế giai nhân khiến cho họ dường như nổi lên giữa đám người đông đúc của đêm hội. Họ như từ nơi khác đến mà không phải của thế giới này. Không lòe loẹt diêm dúa mà dịu dàng êm ả, tận cùng của khiêm cung. Nhưng sao từ họ vẫn tỏa ra vẻ sang trọng khiến ai cũng nể vì? Ai cũng thèm được như họ. Không hiểu sao mà không ai bảo ai, người nào gặp họ cũng tự nhiên nhường đường. Nguyễn Trãi khi chào người này khi nói chuyện với người khác. Bà Lộ theo sát bên chồng đáp lại khách bằng tiếng chào nhỏ nhẹ, bằng những cái nghiêng mình duyên dáng. Bờ bắc Hồ Ngọc có một cái đình rộng. Mùa hè mở cửa ra bốn phía, đình thật mát và thoang thoảng hương thơm từ hồ sen gần đấy. Lúc này, khi các cửa bắc, đông, tây đóng lại, ngồi trong đình sưởi ấm nhờ những hỏa lò đặt mỗi góc rồi thưởng thức chè cúc và nhìn ra hồ nơi có hàng trăm chiếc thuyền đèn đua nhau lướt trên sóng thì thật thú vị. Nguyễn Trãi và Thị Lộ sau khi đi đã mỏi chân, vào đình nghỉ. Trong đình thật đông vui. Nguyễn Trãi chào những người quen rồi chọn một chiếc bàn còn trống chỗ. Ngay lập tức, người hầu của nội cung mang đến cho họ khay trà với ấm trà ủ nóng trong cái giành sơn mài bức tranh Bát tiên thưởng trà. Thị Lộ rót nước ra hai chén tống trắng ngần rồi bưng hai tay dâng cho chồng. Một vị lão thần người tầm thước mặt vuông cặp mắt sáng quắc từ chiếc bàn ở dãy phía trong bước tới:

- Chào quan lớn Hành khiển, biết ngài về kinh mà chưa tới thăm được, thất lễ quá!

Nhận ra đó là Bùi Ư Ðài, Nguyễn Trãi vui vẻ đứng dậy đáp lễ:

- Xin chào quan lớn Ngự sử. Tôi về được mấy ngày rồi, lẽ ra phải tới thăm quan lớn nhưng do công việc quá bận, xin lượng thứ!

- Ấy chết, quan lớn dạy quá lời. Vừa ngồi xuống, Bùi Ngự sử vừa nói. Cũng lúc đó quan Ngự sử Bùi Cầm Hổ người hơi gầy dáng phong sương trong bộ quan phục cũ bước tới, vui vẻ nhập cùng bàn trà với họ. Bà Lộ rót nước ra chén rồi trân trọng đưa cho chồng. Nhận chén nước từ tay vợ, Nguyễn Trãi đưa mời bạn, miệng nói: mừng quan lớn được trở lại chức cũ! Trước đây ông này dâng thư phản đối Lê Sát nên bị cách chức. Khi Sát bị tội, vua cho là người trung thực nên phục chức cũ. Hai người hỏi thăm về tình hình An Bang. Không muốn khoe khoang, Nguyễn Trãi nói xa xôi: "Ðông, Bắc là hai đạo quan yếu. Vậy nên nhà Lý rồi nhà Trần sớm có đối sách với vùng này. Trong đối sách của tiền triều, thấy điều cốt lõi là khoan nới sức dân. Nhà Trần còn đi thêm một bước: vua Nhân tôn gầy dựng miền này thành trung tâm Phật giáo. Ở giữa lòng phật tử, người nghe ngóng động tĩnh giúp triều đình an dân và ứng phó kịp thời khi có biến. Thật là kế sách sâu xa. Ðược thánh thượng giao trọng trách, tôi cứ theo phương lược của người xưa, khoan nới sức dân, mang uy lớn của triều đình phủ dụ các sắc dân thiểu số, ráng sức kiềm chế không cho quan lại địa phương hiếp đáp dân quá đáng. Mặt khác khuyến khích thuyền buôn đến mua bán. Ðánh thuế vừa phải và nhất là không được nhũng nhiễu họ."

Bùi Cầm Hổ nói: - Quan lớn được trở lại công việc là phúc lớn của dân. Bọn chúng tôi cũng vui lây.

- Ða tạ quan lớn, Nguyễn Trãi đáp lời.

- Thánh tiết năm nay là dịp vui mừng, Bùi Ư Ðài tiếp, chứng tỏ hoàng thượng người đã trưởng thành, mở ra vận hội mới cho non sông. Không còn bị quyền thần lấn át, ngài tỏ ra sáng suốt hơn. Việc vời quan lớn Hành khiển trở lại làm việc là một biểu hiện đáng mừng.

- Cũng đáng mừng như việc quan lớn Ngự sử Cầm Hổ được lục dụng. Nhà vua biết nghe lời nói thẳng, biết dùng người nói thẳng là phúc lớn của muôn dân. Nguyễn Trãi nói.

- Nhưng, chư vị thấy không, dường như vẫn còn căng thẳng, Bùi Cầm Hổ hạ giọng, lễ năm nay long trọng, vui nhưng quả thật tôi không kham nổi thứ lễ nhạc hổ lốn này.

Nguyễn Trãi cười:

- Quan lớn bức xúc cũng phải, nhưng làm sao một sớm một chiều đổi thay ngay được. Công việc còn nhiều.

Ðang trò chuyện vui vẻ thì bên ngoài bỗng có tiếng hô:

- Thánh thượng giá lâm!

Mọi người lập tức nhìn ra cửa rồi quỳ xuống khi thấy bóng nhà vua bước vào. Nhà vua trẻ dáng cao lớn mặc hoàng bào thêu rồng lóng lánh ánh kim tuyến. Trên mũ miện viên hồng ngọc tỏa sáng rực. Khoan thai nhà vua bước vào đình.

- Miễn lễ, miễn lễ, các khanh hãy bình thân! Ðừng giữ lễ quá mất vui. Trẫm cũng đi vui hội cùng các khanh thôi mà. Vừa nói nhà vua vừa bước về phía Nguyễn Trãi, nói với mọi người:

- Các khanh ngồi xuống đi. Viên quan hầu theo sau nhà vua nhanh nhẹn mang chiếc ghế tới bên chỗ của quan Bùi Ngự sử. Nhà vua ngồi xong, đưa tay ra hiệu cho mọi người cùng ngồi. Riêng Thị Lộ vẫn đứng nép phía sau Nguyễn Trãi một chút.

- Còn khanh, ngồi đi chứ ?

Nhà vua hình như lần đầu thấy Thị Lộ, nói theo thói quen nhưng rồi bất chợt nhìn sững người đàn bà. Ngài nhìn Nguyễn Trãi, tay chỉ Thị Lộ nói tiếp:

- Ðây là, đây là Thừa chỉ đại học sĩ phu nhân, giai nhân danh tiếng kinh thành phải không?

- Thưa bệ hạ, dân nữ là phu nhân của quan Thừa chỉ ạ. Thị Lộ cúi đầu thưa. Giong nàng thanh như tiếng chuông đồng.

Nhà vua gật gật đầu:

- Trẫm biết, trẫm biết! Miệng nói, mắt nhà vua đắm đuối nhìn Thị Lộ sau đó nhìn sang Nguyễn Trãi:

- Quan Thừa chỉ, khanh có biết rằng khanh có tội lớn không?

Nguyễn Trãi ngơ ngác:

- Thưa bệ hạ!

- Khanh còn chối không có tội sao? Tội của khanh là có được giai nhân trác tuyệt như vầy mà nỡ nhốt kín nàng không cho thiên hạ chiêm ngưỡng! Ðúng vậy, nhà vua trầm ngâm, để đến nỗi mãi tới bây giờ quả nhân mới được thấy! Khanh tưởng tội thế chưa đủ to sao? Nói xong, trước sự ngơ ngác của mọi người, nhà vua vui vẻ cười lớn.

Thấy Thị Lộ vẫn đứng, nhà vua nhìn nàng trìu mến rồi nói:

- Khanh vẫn đứng sao? Trẫm ban cho khanh ngồi. Rồi ta sẽ bênh nàng, sẽ xử tội người nào ức hiếp nàng. Các khanh uống chè? Chè ngon chứ? Nhà vua nhìn ra các quan. Không đợi ai đó trả lời, ngài tiếp, không được, bây giờ phải có rượu! Vẫy viên quan hầu cúi xuống, nhà vua nói gì đó vào tai ông ta. Viên quan hầu bước vội ra cửa. Lát sau đám tiểu công công bước vào mang theo những bình ngự tửu bằng sứ men xanh đặt lên tất cả các bàn. Nhà vua truyền:

- Bây giờ trẫm ban rượu ngự, trong đêm vui như vầy, các khanh cứ uống thỏa sức.

Nguyễn Thị Lộ cầm bình ngự tửu rót vào chén ngọc rồi nâng hai tay dâng vua:

- Dân nữ xin kính chúc bệ hạ vạn thọ vô cương!

Nhận chung rượu, nhà vua như vô tình nắm lấy bàn tay thon thon ấm nóng của nàng. Một linh cảm gợn lên trong người, mặt thiếu phụ dường như ửng hồng thêm mặc dù từ khi vào đây khuôn mặt ấy cũng hồng hào vì sức ấm hỏa lò, sức nóng của chè cúc. Dâng rượu cho vua xong, Thị Lộ lần lượt rót rượu mời các vị khác, sau cùng là chén rượu cho chồng.

- Khanh không uống ư? Nhà vua nhìn Thị Lộ hỏi. Không được, đây là rượu vua ban, là lộc nước, không uống là có lỗi khanh biết không? Hay khanh chê rượu của trẫm không ngon?

- Bệ hạ tha tội! Bệ hạ tha tội! Thị Lộ quỳ xuống khấu đầu, không phải dân nữ chê mà tại dân nữ không quen uống rượu.

- Nàng đứng dậy đi, đứng dậy đi. Nhà vua bước tới thân đưa hai tay nâng nàng dậy. Nàng nói uống không quen, có phải nàng ngượng ngùng vì có trẫm lại có các quan lớn đây không? Trẫm hiểu. Trẫm miễn lễ cho khanh. Bây giờ để trẫm chúc khanh một chung. Nhà vua nâng chén rượu trên bàn nhấm môi rồi đưa lên gần môi Thị Lộ. Không thể từ chối, nàng nhận chén rượu, đưa ống tay áo che miệng uống. Sau chén rượu, bén hơi men, mặt nàng càng hồng.

Nguyễn Trãi vốn không ưa chỗ đông người nên việc đức vua xuất hiện làm ông hết sức bối rối. Ông chỉ biết nhận những chén rượu từ tay vợ và giữ sao cho nét mặt cũng như hành động hòa được với cái vui của mọi người. Vì vậy, trong mâm rượu bữa đó, bà Lộ là người điều khiển. Mọi người ai cũng được uống, được vui, được bà ân cần chăm chút. Nhà vua còn muốn uống nữa nhưng bà khéo léo khuyên người dừng lại về cung để giữ cho niềm vui được trọn vẹn. Ly rượu cuối cùng nhà vua bằng bàn tay run run đưa tới kề miệng nàng.

Về đến nhà, quan Hành khiển thấy thấm mệt nên bà Lộ trải giường cho người đi ngủ sau khi rửa mặt rửa chân tay ngài bằng nước nóng. Nàng tưởng rằng, mệt mỏi sau cuộc vui lại có chút men, đêm nay nàng sẽ ngủ thật ngon. Nhưng rồi nàng biết mình lầm. Có cái gì đó ám ảnh khiến nàng không sao nhắm mắt được. Ðúng là một cái gì đó từ đâu không rõ cứ dõi vào nàng. Mãi sau nàng nhận ra đó là đôi mắt nhà vua. Trong đêm tối, đôi mắt hiện lên như nhìn xoáy vào nàng bạo liệt, khi mơn man trên da thịt nàng, khi van xin khi khêu gợi, khát thèm. Nhà vua đa tình hiếu sắc. Chuyện ấy nàng từng nghe. Nhưng chẳng lẽ với cả mình, người đàn bà hơn gấp đôi chàng về tuổi tác? Không có lý, nàng không tin lại có điều đó trên đời này. Nhưng dù sao thì đêm nay cũng là đêm vui vì ít ra có một chàng trai trẻ nhìn nàng bằng con mắt đắm say.

(Còn tiếp)

© Bản Quyền của Tác Giả .

tải đăng theo nguyên bản tác giả gởi từ Sài Gòn ngày 31.01.2008.




TRANG CHÍNH TRANG THƠ CHUYỂN NGỮ BIÊN KHẢO NHẬN ĐỊNH ÂM NHẠC