CHƯƠNG THỨ NHẤT
KỲ THỨ 4
Buổi tối, cơm nước xong xuôi, người lạ và tôi ngồi trên bậc thềm trước nhà nói chuyện. Tôi ở trần cho mát, khoe bộ xương cách trí gồ lên bên dưới lớp da đen thui đen thủi. Người lạ vẫn mặc cái áo sơ mi ngắn tay cháo lòng, cái quần kaki đen bạc màu quen thuộc, và đôi giày tây “vật bất ly thân”! Từ hồi chú bắt đầu ở trọ nhà tôi, thỉnh thoảng tôi tự hỏi, chẳng lẽ chú ấy chỉ có một bồ đồ dính trên người? Theo tôi thấy, chú ấy không có vẻ nghèo khó và túng tiền tiêu lắm.
Hai chúng tôi cùng chống cùi chỏ lên đầu gối, cảm thấy thư thái sau một ngày làm việc. Bầu trời tối đen. Dẫu không có trăng nhưng có hàng vạn ngôi sao mọc chi chít. Ánh sao lung linh không đủ sáng nhưng đủ khiến cho người cô lữ thấy ấm lòng nơi tha hương. Tôi hỏi:
-Chú không về thành phố ăn Tết à?
Người lạ lắc đầu:
-Không. Chú là con người phiêu bạt. Mỗi năm chú ăn Tết ở một nơi khác nhau.
-Chẳng lẽ gia đình chú không trông mong chú sao?
-Chú không có gia đình. Khi chú đến một nơi nào, nơi đó sẽ là gia đình của chú.
-Vậy năm nay cháu là gia đình của chú?
-Ừ.
Im lặng một lát, người lạ nhìn lên bầu trời đen thẳm và hỏi:
-Năm mới sắp đến, cháu có ước muốn gì không?
Tôi nhún vai:
-Ước muốn hả chú? Nhiều lắm chú ơi!
Người lạ quay sang chăm chú nhìn tôi:
-Điều cháu thầm mong muốn nhất – điều mà không ai biết.
Tôi nhướng mày, nhe răng cười chế giễu chú ấy:
-Điều cháu không muốn nói cho ai biết, nhưng lại nói cho chú biết hả? Kỳ vậy!
Chú ấy mỉm cười theo:
-À há. Kỳ thật. Cháu sẽ nghĩ rằng “người lạ” này khôn quá, muốn biết những gì người khác không được biết.
Tôi ngạc nhiên:
-Ủa, sao chú biết cháu gọi chú là “người lạ”? Má cháu nói hả?
Chú ấy khoát tay:
-Má cháu không dính dáng vào đây... Chú chỉ đoán thôi. Vì cháu không hề hỏi xem chú tên gì. Vì khi cháu kể chuyện của chú cho các bạn cháu nghe, ắt cháu phải gọi chú bằng một cái tên nào đó. Vì cháu không biết tên chú, tất nhiên cháu gọi chú bằng “người lạ”.
Tôi bật cười, cảm thấy khoái trá thật sự. Những lập luận của người lạ đưa ra rất lô-gíc, không thể bắt bẻ nổi. Tôi chống cùi chỏ lên đầu gối, xòe hai bàn tay ra bợ lấy cằm và nhìn lên bầu trời vẩn vơ. Một lát sau tôi nói khe khẽ như đang tâm sự với người bạn thân thiết:
-Cháu thích đi học bằng xe đạp mà má cháu không cho.
-Tại sao?
-Có hai lý do khiến má cháu không đồng ý. Một là cháu còn quá nhỏ... Nhưng chú nghĩ xem, qua Tết là cháu thi học kỳ II. Thi xong học kỳ II là cháu lên lớp Tám. Lúc bấy giờ cháu là đàn anh của tụi học sinh buổi chiều thì đâu còn nhỏ nữa? Hai là nhà cháu chỉ có một chiếc xe đạp cũ... Má cháu cần có xe đạp để đi chợ lớn, mua rau rác thịt cá, mang về bán ở chợ nhỏ. Má cháu không thể nhường chiếc xe đạp cho cháu được.
-Đúng vậy. Công việc chạy chợ hàng ngày quan trọng hơn.
-Cháu biết.
-Nhưng không sao. Chú tin những người ăn ở hiền lành và chân thật sẽ gặp may mắn. Biết đâu má cháu sẽ gặp may mắn vào ngày cuối năm?
Tôi cười hì hì, dùng mu bàn tay thụi nhẹ vào hông người lạ:
-Chỉ cần bán sạch hàng vào trưa ba mươi tháng Chạp là má cháu thấy may mắn lắm rồi.
Trò chuyện thêm dăm ba câu nữa, người lạ giục tôi vào trong nhà ngủ sớm kẻo hao điện. Ở xóm tôi, đường dây diện chưa kéo vào tới nên má tôi phải câu nhờ một bóng đèn của nhà người hàng xóm nằm ngay đầu đường. Chỉ một bóng đèn vàng vậy mà họ tính chẵn một ký lô điện một ngày, chạy ra ba mươi ký lô điện một tháng. Biết bóng đèn vàng hao điện hơn bóng đèn trắng, má tôi vẫn không dám bỏ tiền ra thay bóng đèn vì tiếc tiền. Bởi thế, tối nào cũng vậy, khoảng chín giờ là má tôi biểu tắt đèn đi ngủ. Nếu tôi muốn thức khuya hơn để làm bài, tôi phải dùng đèn dầu!
***
Hôm sau là hăm chín tháng Chạp.
Buổi trưa, sau khi đi bán về, má tôi tỏ ra băn khoăn một cách khác thường. Bà đi ra đi vô không yên, thỉnh thoảng lại móc cái gì đó trong túi ra săm soi, rồi lại cất vào trong túi áo. Bà ngồi xuống ghế ngồi thừ người suy nghĩ, rồi lại đứng lên bước tới bước lui – quên cả chuyện nấu cơm trưa. Tôi không rời mắt khỏi má tôi, và thái độ của bà làm tôi sinh nghi. Không thể kiềm chế được, tôi hỏi ngay:
-Má? Má nhận được tin nhắn của ba phải không?
-...
-Con biết hết rồi. Má đừng giấu con nữa. Ba nhắn gì?
Má tôi có vẻ thảng thốt, bà quay sang nhìn tôi, giọng trầm hẳn đi:
-Không phải đâu, Lê Anh. Không phải chuyện ba con, mà là chuyện cái nhẫn này.
Má tôi móc trong túi ra một chiếc nhẫn vàng y, nạm năm bảy hột kim cương lóng lánh. Thì ra, nãy giờ cái vật mà má tôi cứ móc trong túi ra để săm soi là vật này đây – một chiếc nhẫn kim cương quý giá và đắt tiền! Tôi giật thót mình, kêu lên:
-Chiếc nhẫn của người lạ! Má lấy chiếc nhẫn của người lạ, phải không?
Má tôi nạt khẽ:
-Bậy nà. Người lạ của con làm gì có được thứ này! Chiếc nhẫn kim cương này của bà chủ vựa cá, nơi má thường lấy cá mang về chợ nhỏ bán. Bà ấy thích đeo nó ở ngón út và thích xòe bàn tay ra khoe với mọi người. Sáng nay bà ấy hốt cho má một chục ký cá sông, chắc trong lúc đó, nó tuột ra khỏi ngón tay của bà ấy và rơi vào bao đựng cá của má.
Hiểu tâm trạng má tôi, tôi nói chậm rãi và dằn từng chữ:
-Nếu chiếc nhẫn này là của bà chủ vựa cá, thì má chỉ việc mang lại trả cho bà ấy là xong.
Má tôi ngước mắt nhìn tôi, chắc là muốn dò xem tôi nói thật hay nói chơi.
-Lê Anh... Tết nhứt đến rồi mà má không có tiền mua quần áo mới cho con, mua thức ăn thăm nuôi ba con... Nếu má đem bán chiếc nhẫn này, nhà mình sẽ ăn một cái Tết thật lớn! Bà ấy không biết đâu. Bà ấy có tới mấy chục người bạn hàng như má lận.
Đột nhiên trái tim tôi đau nhói, lồng ngực tôi thắt lại. Trời ơi, không lẽ má tôi cũng có tính tham lam... như ba tôi? Không lẽ đồng tiền có sức mạnh tới mức quật ngã ba tôi và bây giờ tiếp tục quật ngã má tôi? Nếu bà chủ vựa cá nhờ công an điều tra, chắc chắn họ sẽ truy ra má tôi, chắc chắn bà sẽ bị bắt giam. Không lẽ trong nhà tôi chỉ có ba người, hết hai người ngồi tù vì ăn cắp tiền bạc của người khác? Không! Tôi phải cứu má tôi! Tôi phải đánh thức lương tâm của má tôi!
Tôi đặt bàn tay đè lên chiếc nhẫn vàng y nạm kim cương, giọng run run vì nghẹn ngào:
-Má, con biết ba con đang ngồi tù vì tội ăn cắp tiền công quỹ của công ty. Con biết ba con có thể bị kêu án tới mười mấy năm tù. Cả con lẫn má đều xấu hổ với hàng xóm vì điều này, đúng không má? Mọi người chưa quên chuyện của ba, chẳng lẽ bây giờ tới lượt má? Nếu người ta biết được – và con chắc chắn người ta sẽ biết được, vì sự thay đổi quá đột ngột của nhà mình – liệu má thoát khỏi cảnh tù tội hay không? Má muốn bỏ con sống bơ vơ ngoài này một mình hay sao?
Một giọt nước mắt chầm chậm trào ra khỏi mắt má tôi. Bà ân hận. Lương tâm bà đã thức tỉnh. Và bà đã quyết định. Má tôi nắm chặt tay tôi, thở dài:
-Lê Anh, má xin lỗi con. Má lớn đầu mà cạn nghĩ hơn con nhiều. Má sẽ đi trả chiếc nhẫn lại cho bà chủ vựa cá.
Nói xong, má tôi đứng lên và dắt xe đạp ra khỏi nhà ngay.
Trong lúc chờ đợi, tôi xuống bếp vo gạo và nấu thức ăn. Gạo thì tôi xúc đại hai lon sữa bò, bởi trong bụng tôi có ý muốn mời người lạ cùng dùng bữa trưa với hai má con tôi. Còn thức ăn. Tôi mở cái giỏ đệm của má tôi ra xem xét. Trong giỏ chỉ còn một bó rau muống và ba con cá sông nhỏ. Tôi cắn môi suy nghĩ. Rau muống nấu canh me chua, còn cá sông thì kho mặn, rắc tiêu thật nhiều. Nghĩ là làm, tôi mang bó rau muống và mớ cá còn tươi ra ngoài sàn nước. Lát nữa khi về nhà, thấy cơm canh xong xuôi, chắc má tôi sẽ vui lắm.
Thật ra, má tôi đi lâu hơn khoảng thời gian mà tôi tính toán. Tới một giờ chiều mà má tôi vẫn chưa về, trong bụng tôi bắt đầu nóng sôi lên. Chuyện gì đã xảy ra với bà? Giờ này xe tải phóng bạt mạng trên đường, liệu bà có gặp chuyện gì không? Tôi quyết định khóa trái cửa và sẽ đi bộ lên chợ lớn tìm bà. Nhưng rồi tôi thay đổi ý kiến, cứ ăn cơm một mình trước, no bụng rồi sẽ tính sau.
Thiệt may cho tôi, khi tôi vừa ăn cơm xong, vừa thả đôi đũa xuống mâm thì má tôi đạp xe vào thẳng trong sân. Không chỉ một mình má tôi, mà còn hai người thanh niên lạ hoắc lạ huơ nữa. Họ chở nhau trên chiếc xe gắn máy, kéo theo một chiếc xe đạp cũng còn tương đối mới. Gạt chống dựng chiếc xe đạp trong sân, họ xoa tay cảm ơn má tôi và má tôi cũng xoa tay cảm ơn họ. Sau đó, họ nhảy lên chiếc xe gắn máy, rồ ga ầm ĩ và chạy ra ngoài mất dạng. Trời đất, chuyện gì vậy? Sao tôi chẳng hiểu gì hết!
Má tôi hớn hở chỉ vào chiếc xe đạp thứ hai, nói to với tôi:
-Lê Anh! Chiếc xe đạp này là của con! Bà chủ vựa cá tặng nó cho con!
Tôi kinh ngạc, tới mức không thể nào hả miệng ra nổi. Tôi lúng búng hỏi:
-Sao vậy? Sao bà ấy cho con vậy?
Má tôi giải thích một tràng dài:
-Lê Anh, nhờ má nghe lời con đem trả chiếc nhẫn mà bà ấy cảm ơn má không tiếc lời. Bà ấy giữ má ở lại ăn cơm trưa rồi mới thả má ra về. Bà ấy nói chiếc nhẫn kim cương đó mắc tiền lắm, nhưng má không tham lam, nên bà ấy sẽ thưởng cho hai má con mình. Phần con là chiếc xe đạp này. Phần má là một chỉ vàng y – má cất kỹ trong túi áo rồi. Bà ấy còn cho má thêm hai trăm ngàn ăn Tết. Lê Anh, nhờ má nghe lời con đem trả chiếc nhẫn mà giờ đây mọi người nhìn má bằng ánh mắt khác. Má sẽ nhìn thẳng vào mặt mọi người không còn gục đầu xuống như trước nữa...
Niềm vui hân hoan của giây phút ban đầu đã lắng xuống. Chạm tay vào chiếc xe đạp – kể từ bây giờ là tài sản của tôi – tự nhiên tôi cảm thấy lòng mình bình thản hẳn. Tôi chợt nhớ đến câu nói mà người lạ đã thốt ra vào tối hôm trước: “Chú tin những người ăn ở hiền lành và chân thật sẽ gặp may mắn. Biết đâu má cháu sẽ gặp may mắn vào ngày cuối năm?” Vuốt ve tay lái bằng inox sáng bóng xuống tới sườn xe sơn màu đỏ bầm pha bạc, tôi thầm nghĩ: Có phải đây là câu nói tiên tri của người lạ không? Chú ấy biết má tôi sẽ gặp may mắn cuối năm, nhưng chú ấy cũng cảnh báo tôi rằng, may mắn chỉ đi liền với lương thiện và chân thật.
...CÒN TIẾP...
© Tác Giả Giữ Bản Quyền.