KHÚC CHÊNH CHAO
NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ 

(Nhân đọc tập Đứt dải yếm – NXB Hội Nhà văn 2007)



PHẠM THANH KHƯƠNG



Tôi có cái may mắn là được làm báo và tờ báo của toà soạn tôi bao giờ trên các ấn phẩm cũng dành một phần “đất” nhất định để đăng tải các tác phẩm thơ của bạn viết trong cả nước. Và vì thế mà tôi cũng được đọc rất nhiều tác phẩm của bạn viết. Cũng qua đó, tôi được đọc, được vui, được biết và được đến với rất nhiều các tác phẩm với tất cả sự đắm đuối, say mê và đầy khao khát của con người. Tôi vẫn nghĩ, đó là món quà hạnh phúc nhất mà tôi đã được may mắn cuộc đời ban tặng.

Trong các tác phẩm gửi về toà soạn, có một lần, cách nay khoảng 5-6 năm, tôi được đọc một bài thơ “Đợi” của Nguyễn Thị Ngọc Hà mà trong mỗi câu chữ cứ để lại cho người đọc một cảm giác rất lạ. Sâu lắng mà mạnh mẽ, đa đoan mà rất tình, đau đớn mà không bi luỵ, khao khát, đắm đuối mà rành mạch, khúc triết. Câu thơ cứ như đem lòng mình trải ra với đời, với người, với tình và với mình. Và sau này, khi tôi đọc “Người gánh vô hình” và tập thơ “Đứt dải yếm” , tôi nhận ra một Nguyễn Thị Ngọc Hà “chênh chao” (chênh chao tôi mượn chữ của Nguyễn Thị Ngọc Hà) đã đem đến cho người đọc, làm cho người đọc cảm được cái đau, cái buồn, cái hạnh phúc, sự hoan hỉ từ cảm nhận rất riêng của mình. Và chính điều đó đã làm nên một khoảng chênh chao rất riêng, rất Nguyễn Thị Ngọc Hà.

Có nhiều người cho rằng, người làm thơ thường phải có cái đau gấp mười cái đau của đời, phải có cái buồn gấp mười cái buồn của người, phải có cái trăn trở, dằn vặt gấp mười cái đau đáu, trăn trở của người để viết ra một phần để gửi đến bạn đọc. Và có lẽ, trong trường hợp này, soi vào Nguyễn Thị Ngọc Hà thì có lẽ rất đúng, rất trúng, rất hợp và cũng rất thoả đáng.

Khoảng chênh chao đầu tiên mà tôi muốn nói đến là khoảng chênh chao với đời trong thơ Nguyễn Thị Ngọc Hà. Trong cuộc sống hiện đại, giữa bao bộn bề của cuộc mưu sinh, giữa bao điều hư, thực mà Nguyễn Thị Ngọc Hà vẫn tìm ra được khoảng chênh chao hay nói cụ thể là tìm ra được khoảng chênh chao của đời để gửi người, gửi đời với bao trăn trở, dằn vặt và gửi gắm.

Trong câu chuyện của nhà phật có kể: Hai thầy trò đi thỉnh kinh. Trên đường đi, thày nhìn lên đỉnh núi, thấy có tảng đá. Thày hỏi trò: Hòn đá kia đang đứng hay đang lăn? Trò trả lời: Thưa thày. Nó đang đứng im. Thày bảo: Không. Nó đang lăn. Thày vừa nói dứt lời, hòn đá lăn từ trên đỉnh xuống. Thày lại hỏi trò: Hòn đá kia đang lăn hay đang đứng? Trò thưa: Hòn đá đang lăn. Thày lại bảo: Không. Nó đang đứng. Thoạt nghe, tưởng chuyện trên chỉ là sự áp đặt của thày với trò. Nhưng không. Triết lý sống đã nằm trong câu chuyện, phía sau câu hỏi đáp mà thực ra trò chưa nhìn thấy. Ấy là cái động trong cái tĩnh (khi hòn đá chưa lăn xuống chân núi) và cái tĩnh nằm trong cái động (khi hòn đá đang lăn xuống chân núi). Cái mà sau này trong triết học, Mác đã khái quát thành một trong hai nguyên lý cơ bản của vật chất: Vật chất luôn vận động và phát triển. Và trong cuộc sống hiện đại, khoảng chênh chao của thơ Nguyễn Thị Ngọc Hà cũng như thế. Ngọc Hà đã nhìn ra, nhận ra trong tầng sâu tâm thức của mình với đời từ cái nhìn tĩnh trong động và động trong tĩnh, khoảng lắng của người thơ. Cũng chính từ cái nhìn như thế mà trong bài “Trong một giấc mơ” , Nguyễn Thị Ngọc Hà đã viết:
      Phải chăng
      đau nỗi đau Người
      nên rừng chẳng bao giờ cạn gió
      mặc tiếng vọng réo trong nỗi nhớ
      váng vất đêm ngày
      váng vất suối khe
      để giọt nước mắt…rơi từ năm ấy
      đến hôm nay vẫn cứ ướt về.

Giọt nước mắt ấy ướt đâu? Ướt vào người đang sống? Ướt vào lo toan tính toán thường nhật xoay quanh bốn từ cơm áo gạo tiền của đời?

Trong kiếp nhân gian, biết chờ đợi cũng là niềm hạnh phúc. Và có lẽ, hạnh phúc lại được bắt nguồn trong khổ đau. Bởi lẽ, chỉ khi nào trong khổ đau, trong bất hạnh tìm thấy hạnh phúc thì khi đó con người mới thấm cái hạnh phúc có được quý đến nhường nào. Tôi nghĩ thế và có lẽ cuộc đời vốn thế. Chênh chao lắm người ơi! Lênh đênh lắm người ơi! Mong manh lắm người ơi! Phải thế thì người viết ra những câu thơ này, thốt ra thành lời rồi trải nó ra giấy chắc phải rút ruột, nén đến tận cùng của mỗi nhịp đập của sự sống kia mới có thể viết ra được gửi cho người, cho đời và cho mình:
      Đợi người chỉ thấy bóng
      lẩn quất lạ trong quen
      đời chênh chao trước gió
      mong manh hơn lửa đèn
             (Đợi)

Mới chỉ “Đợi” mà đã thế. Gặp còn đau đến đâu? Thấy còn khổ đến đâu? Sống mong manh đến đâu? Đợi bóng hay đợi người hay đợi bóng chim tăm cá?

Nhân đây tôi lại muốn nhắc đến một chút thói đời khi nhìn người phụ nữ. Cái thói đời nhìn người phụ nữ với quan niệm đã ăn sâu bám rễ vào trong đầu, nó thành thói luỹ khiếm, nhiêu khê rằng: Nữ nhi thường tình. Cái nhìn một chiều ấy đã làm cho không ít người phụ nữ tự đánh mất đi cái bản thể của chính mình, không dám nói lên cái điều mà mình khao khát, điều mình trăn trở, trông đợi. Ở “Đứt giải yếm”, bạn đọc sẽ gặp một Nguyễn Thị Ngọc Hà “quân tử”. Quân tử hơn những người mang danh quân tử. Ngọc Hà không như những người phụ nữ khác, mặc dù trong con người Ngọc Hà vẫn chan chan tố chất của người phụ nữ phương Đông, vẫn đằm thắm thiết tha của đức người con gái đất Việt và cũng chịu đựng đầy đủ những khổ đau, nhịn nhục của người đàn bà.
      Từ ngày thành thiếu phụ
      tôi đã dỗ nước mắt chảy chìm
      để phấn hương thả nổi
      dỗ tiếng khóc nép sau tiếng cười
      để sống
             (Nước mắt đàn ông)

Một người đàn bà khổ đến thế là cùng, đau đến thế là cùng, cực đến thế là cùng. Ngay giọt nước mắt muốn được chảy ra ngoài cho vơi vợi mà cũng phải dỗ để nước mắt chảy chìm vào trong, dỗ nước mắt núp sau tiếng cười để cho hương sắc được khoe, được phô với người và để sống. Nhưng sự nén chịu ấy cũng thật con người và cũng rất đời, rất phụ nữ: Dỗ. Hết dỗ con, dỗ chồng, dỗ bạn đến dỗ nước mắt của chính mình. Và cũng chính vì thế mà Nguyễn Thị Ngọc Hà đã vượt lên trên hết thảy. Vượt lên chứ không phải để cao hơn. Để cho:
       Người ơi
      dẫu khu vườn của tôi mai này muối xác
      mà vợi mất mát muộn phiền
      thì Người cứ khóc đi.
             (Nước mắt đàn ông)

Lời dỗ nước mắt của Ngọc Hà cho nước mắt của đàn ông hay là lời dỗ nước mắt của chính mình? Và tôi tin, nếu ai đã đọc những câu thơ này, cũng muốn mình được Ngọc Hà dỗ như thế lắm. Ai có thể hiểu “nước mắt đàn ông” như Ngọc Hà đây?

Khi viết đến đây, tôi chợt nhớ trong Trung dung, Tử Tư có nói: Quân tử chi đạo phí nhi ẩn. Phu phụ chi ngu khả dĩ dự tri yên. Cập kỳ chí dã, tuy thánh nhân diệc hữu sở bất tri yên. Phu phụ chi bất tiếu khả năng hành yên, cập kỳ chí dã tuy thánh nhân diệc hữu bất năng yên. Thiên địa chi đại dã, nhân do sở hữu sở hám. Cố quân tử ngữ đại, thiên hạ mặc năng tải yên, ngứ tiểu, thiên hạ mạc năng phá yên. Tức là: Đạo quân tử rộng lớn mênh mông mà cũng kín đáo hết sức. Dẫu cho hạng ngu phu ngu phụ cũng biết chút ít về đạo ấy. Nhưng biết cho đến chỗ tận cùng, dẫu là thánh nhân cũng không thể biết hết được. Cho đến những hạng đàn ông đàn bà tầm thường trong xã hội cũng làm được một ít phần trong đạo ấy. Nhưng thi hành cho đến tận cùng dẫu là thánh nhân cũng chẳng thể làm cho hết. Trời đất rộng mênh mông mà người ta còn có chỗ phiền trách. Cho nên bậc quân tử nói đến chỗ rộng lớn của đạo thì trong thiên hạ không có vật gì chứa cho hết, còn nói chỗ kín đáo của đạo, thì trong thiên hạ cũng không có vật gì tách nó ra được.

Cái hay, cái sâu lắng và cái còn ẩn lại sau mỗi câu chữ trải lòng mình trong khúc chênh chao của Nguyễn Thị Ngọc Hà có phải là khúc này không?

Mấy ai bước ra khỏi nhà mà không qua cửa. Nguyễn Thị Ngọc Hà cũng thế. Bước ra khỏi cửa trong thời cơ chế thị trường, như bao người khác, Nguyễn Thị Ngọc Hà cũng chìm vào trong những trò bập bênh của đời, của người, của thói đời với những vui buồn, đắng cay, với những đắng đót và cả sự hợm hĩnh của “trọc phú” học làm sang. Chìm vào nhưng không có nghĩa là những điều bập bênh ấy có thể khoả lấp, hoà tan được cái khát khao luôn ngọ nguậy, đánh thức, muốn bứt phá của những khát khao, những trải nghiệm của cõi con người mà Ngọc Hà luôn đau đáu kiếm tìm.
      Mở cánh cửa
      Tôi thấy tôi trong đôi mắt chưa biết gì khôn dại
      Vẫn bập bềnh từng khúc hát đồng giao
             (Phía ngoài cánh cửa)

Chính vì chìm vào với đời, vào người nhưng Ngọc Hà không để những phù hoa khoả lấp, không để những phấn hương từ bụi bặm của đời nên người thơ vẫn nhận ra được mình, được đời mà cũng rất người. Nếu có chăng, chút chìm ấy cũng rất nhanh mà thôi.
       Chợt giật mình
      cánh cửa bật tung
      tôi trong tôi rối bời sương gió
      cúi đầu chào
      ngỡ ai rất lạ
      chỉ tiếng cười thảng thốt ngã vào nhau.
             (Phía ngoài cánh cửa)

Sự chênh chao trong thơ Nguyễn Thị Ngọc Hà không chỉ là những bứt phá, không chỉ là sự triết lý cuộc sống, không chỉ là sự gợi mở của những cảm xúc về nỗi đau mà sự chênh chao trong thơ Ngọc Hà cũng vẫn chan chan cái tình con người.
       Ví bằng gửi thiếu cho thừa
      gửi ngày nắng hạn cho mưa ngập đồng
      gửi bình minh cho bão giông
      để từng ngang trái chẳng mong lối về
      ví bằng dìm tỉnh vào mê
      để ta quên hết những gì khó quên…
             (Ví bằng)

Cái tình ở đây, Ngọc Hà cũng chỉ ra cái triết lý rất giản đơn của cuộc sống, sự chênh chao của mỗi phận đời. trong cái thừa thãi kia ai nghĩ còn thiếu, vắng. Không. Trong cái thừa thãi ơ hờ kia, thừa thãi bừa bãi kia, tưởng như đủ đầy kia chẳng thiếu gì kia lại thiếu chính là cái thiếu, cái vế thứ hai, vế đối lập. Đó là cái thừa còn thiếu cái thiếu và cái thiếu còn thiếu cái thừa. Cũng như vậy, trong cái mưa sầm sập ngập đồng còn thiếu cái nắng hạn cháy lưng, trong cái bão giông còn thiếu cái bình yên, trong ngang trái thiếu sự lãng quên và chờ mong, trong mê thiếu tỉnh, trong nhớ thiếu quên. Và, nhận ra cái thiếu hụt ấy của cõi con người, Nguyễn Thị Ngọc Hà đã gửi cho đủ, cho cân bằng và chỉ gửi ngọt ngào cho những đắng cay. Bão giông thì gửi cho bình yên, mê thì gửi cho tỉnh, quên thì gửi cho nhớ. Ở đây, người đọc lại có thể đặt ra câu hỏi cho chính mình. Phải chăng Nguyễn Thị Ngọc Hà đã hiểu tận cùng của nỗi đau, đã trải tận cùng của những điều phải trải và đã đi đến sự thẳm sâu trong nỗi niềm nhân thế. Bởi:
      Cây không tán
      khó che nổi gió
      xoay phía nào cũng nắng chói chang
      đất chẳng cho trái thơm quả ngọt
      trời vẫn gieo bão tố phũ phàng.
             (Gửi hồn trên những mầm gai)

Chỉ thế thôi là quá đủ, Nguyễn Thị Ngọc Hà đã khái quát, tạo dựng từ những điều cụ thể để thành con chữ, chỉ ra tính hai mặt của một vấn đề. Và chính trong khoảng hẹp giữa đúng và sai, sự thật và dối trá, niềm vui và bất hạnh, sung sướng và khổ đau là cả một sự chênh chao, bập bênh mà Nguyễn Thị Ngọc Hà đã đi, đang đi với bước đi của chính mình, cho mình. Đó cũng là nét rất riêng, rất Ngọc Hà và chỉ có ở Ngọc Hà.

Trong khoảng chênh chao ấy, Ngọc Hà cứ đi, cứ viết trong một nỗi niềm đau đáu phận người. Mỗi bước đi đơn côi giữa muôn trùng bàn chân bước, giữa muôn mặt người mà không tìm được tri âm, giữa ngàn vạn nụ cười mà chỉ mình rơi nước mắt. Hãy lắng lại một chút đi, hãy chầm chậm một chút đi để nghe tiếng của người thơ trong nỗi niềm của cuộc sống.
      Đi qua nửa chặng rồi
      chưa thoát vòng tục luỵ
      vuốt mặt hỏi đất trời
      ai tri âm tri kỷ

      Tay ôm đầy chín vía
      đêm về vẫn sợ ma
      ngày ồn ào bạn hữu
      biết đâu thực đâu tà.
            (Chín vía)

Đau biết bao, thương biết bao, giữa phồn hoa gấm vóc, giữa đô hội thị thành, giữa ăm ắp tiếng cười mà vẫn phải giật mình đi tìm điều mong muốn, điều khát vọng mà nỗi niềm mong mỏi ấy thật đơn giản: Đó chỉ là sự tri âm, tri kỷ, là sự thực, là chân giá trị đích thực của đời. Nhỏ vậy thôi, đơn giản vậy thôi mà nào đã dễ kiếm tìm.
      Trông lên nắng đã nghiêng trời
      quanh tôi chỉ một bóng tôi đổ về.
             (Ảo)

Để rồi, nỗi niềm ấy cứ luôn trỗi dậy trong tâm thức, trong khát khao của cuộc sống. Nỗi niềm ấy không chỉ thường trực trong lúc tỉnh mà nó còn đi vào trong mơ, trong “chập chờn” giấc ngủ.
      Đi giữa muôn bí ẩn của đêm ngày
      Tôi với bàn tay mình chạm được thân xác trần truồng của giấc mơ.
             (Chập chờn loã thể)

Là một người phụ nữ, là người mẹ, người vợ, lại là người viết, Ngọc Hà phải thốt lên như thế thì tôi đồ rằng, điều ước mong đơn sơ, giản dị ấy nó phải cháy bỏng lắm, nó làm cho người viết phải vất vả lắm đi kiếm tìm, đi gom góp. Và chính sự thôi thúc ấy đã bật ra thành con chữ trên trang giấy trắng để đến với người, với đời, mong được người, được đời cảm thông, sẻ chia và thông cảm. Vì ở đời, người đi gom góp niềm vui chứ có ai đi gom góp nỗi buồn. Mới hay, khoảng chênh chao của Nguyễn Thị Ngọc Hà cũng rất quyết liệt, cũng đầy những đắm đuối và sự hy sinh, cũng đi đến tận cùng của điều cần đến.
      Chợ tình
      không tình đợi
      đèo dốc rêu thêm dày
      nhưng
      vẫn thèm lên chợ
      cho nửa tỉnh nửa say.
             (Lên chợ tình)

Đọc những câu thơ này để thấy một Nguyễn Thị Ngọc Hà như cây nến. Đã cháy là cháy đến tận cùng ruột bấc. Đã yêu, yêu đến quên cả đường đi lối về. Đã mê, mê cho người xiêu đình đổ quán. Chính trong cái quyết liệt ấy, cái tận cùng ấy đã làm cho sự chênh chao vốn dĩ của đời đã chênh chao càng chênh chao hơn.

Khi viết về sự chênh chao của đời, Nguyễn Thị Ngọc Hà đã rất dụng công trong dựng các thi tứ và gửi gắm rất nhiều. Song khi viết về sự chênh chao của mình, của tình, Nguyễn Thị Ngọc Hà cũng rất chủ tâm trong cấu tứ và câu thơ cũng rất đời, rất người và cũng không kém phần dồn nén, dồn nén đến chật chội, đến mức không thể nén thêm được nữa. Câu thơ ở phần này cũng sáng và cũng rất thanh nhưng lại đắm đuối và thật tha thiết.
      Thôi đừng gọi chị bằng em
      để lời mưa gió ướt đêm hội làng
      Thôi đừng “lối dọc tình ngang”
      để cho hờn dỗi đa mang dỗi hờn.
              (Miền ấu thơ)

Bảo người thôi nhưng lại vẫn mong người cứ gọi thế, cứ gọi mãi thế để cho ướt đêm hội làng ướt sang cả vạt áo người. Bởi chưng, ngay cái dỗi hờn còn biết đa mang. Phải yêu lắm, phải cảm thật sâu, thật lắng mới có thể viết được những câu thơ như thế. Và cũng chính vì mong thế, đa mang thế, yêu thế nên cái khoảng chênh chao, chông chêng chị và em, em và chị trong tình mà buồn lại càng buồn, thương lại càng thương.
       Ngày chị buộc phải làm dâu
      Mắt em…một thoáng…chị đau cả đời.
             (Miền ấu thơ)

Và cái kỷ niềm ấy, cái kỷ niệm ngày chị buộc phải làm ấy cứ theo mãi, vương vấn mãi trong chị. Những năm tháng trên cánh đồng người ngược xuôi, cái trắc trớ của mối quan hệ chị - em nó cứ luôn thường trực trong trái tim yêu. Và mối tình “câm” ấy không thể không nói ra. Nó phải được thốt thành lời.
      Cầm bằng
      Ngõ vắng ngập mưa
      đường trơn
      em có dám đưa chị về.
             (Miền ấu thơ)

Xuyên suốt cả tập “Đứt dải yếm” là một sự đau đáu về đời, về người. Câu thơ mộc mà thanh, giản mà trong, giọng thơ lắng mà ấm, không viết theo lối cầu kỳ câu chữ, không lên gân hay nói quá, lời thơ cứ dung dị như đất quê một nắng hai sương. Giai điệu ngôn ngữ cũng rất chân quê, đằm thắm nhưng cũng chân thực, tình người mà vẫn đau, vẫn quyết liệt đến từng câu từng từ. Một khoảng chênh chao của đời đã làm nên một Nguyễn Thị Ngọc Hà, rất Ngọc Hà và chỉ có ở Ngọc Hà ngay từ tên tập thơ: Đứt dải yếm? Đứt do tác động bên ngoài hay đứt do chính nội tại của bản thân sự vật. Chênh chao lắm kiếp người, tình đời mà mấy ai có được sự chênh chao hạnh phúc đến thế!

Để kết thúc mấy lời lạm bàn về cái sự chênh chao của giọng thơ Nguyễn Thị Ngọc Hà trong “Đứt dải yếm” , tôi xin được mượn ngay bài thơ làm nên cả tập thơ: “Ủ sau lần yếm mỏng
      Em không là biển
      Mà lời người đầy sóng
      cứ dâng
      cứ vỡ
      cứ tràn
      tàn phá đến hoang dại vùng yên tĩnh của em
      kéo năm tháng theo niềm vui khác.

      Đứt dải yếm
      chẳng giữ nổi bấy nhiêu lời trước gió”
để được nói lại, vẽ lại cái khoảng chênh chao, chông chênh và đầy trăn trở song cũng thật người mà “Đứt dải yếm” đã gửi đến cho bạn đọc.