THẾ GIỚI LINH HỒN QUANH TA  

Từ trước đến giờ tôi được nghe kể khá nhiều chuyện về ma hiện hình, trên cây cao, dưới bến nước. Đã xem nhảy đồng bóng, thấy nhai mảnh chai, hoặc người bị vương mang điên khùng phải cúng hình nộm thả sông thay thế ...Thấy xong, nghe xong thì tin, nhưng sau đó cứ suy nghĩ, không lẽ có chuyện ma mị lộng hành như thế được sao. Như vậy sau khi con người chết đi, linh hồn sẽ ở đâu, làm gì, mà lâu lâu vẫn có người bị lôi kéo vào những trường hợp vướng mắc khó gỡ, có khi phải điên tàn suốt đời.

Bình thường, người sống thường cúng cấp mâm này cổ nọ cho ông bà cha mẹ đã khuất, hoặc cúng Cô hồn Các Bác, đốt vàng mã v.v...Nhưng họ ăn uống, nhận tro mã như thế nào, thật khó mà hình dung tưởng tượng được. Chỉ là xưa bày nay làm, rồi trở thành tục lệ. Nhưng tục lệ đốt vàng mã, nhà chùa lại không thực hiện vì cho đó là dị đoan, nên chẳng biết điều gì nên làm điều gì không.

Tính tôi thích tìm hiểu về lãnh vực tâm linh, xem khá nhiều sách truyện, nhiều kinh điển tôn giáo, để tìm hiểu về những điều xảy ra sau khi con người chết đi. Thời gian sau này, việc mồ mả hài cốt của liệt sĩ được tìm thấy, một phần nhờ các nhà ngoại cảm, nhưng vẫn không có những ấn tượng hoặc thông tin gì hé lộ cho thấy cụ thể sự liên hợp từ hai phía, giữa người âm và người dương, để có được niềm tin tưởng và chân thành cúng bái.

Mới đây, một người em gái bà con cô cậu với tôi là Hương, kể lại sự việc, linh hồn của hai Bà Cô đã mất khi còn trẻ, cách đây mấy trăm năm, nay nhập vào chính bản thân của Hương ( một Bà Cô họ Trần phía bên chồng Hương và một Bà Cô họ Dương bên chị em tôi ). Tiếp đó, linh hồn người em trai và người con của Hương cũng nhập vào, với những hiện tượng khiến tôi tin tưởng rằng, có một thế giới khác kề cận chung quanh ta, với đủ mọi yêu thương, thù hận, sinh động không khác gì cuộc sống ở thế gian. Hé sáng trong tôi một đôi điều khuất mắc lâu nay, như bị che phủ bởi một màn sương mờ ảo hư hư thực thực. Thoát ra khỏi vùng mờ ảo này nhờ những việc xảy ra ngay chính bản thân Hương như một nhân chững sống. Tôi như người vừa được mở mắt, hoàn toàn đổi mới tư duy, và tin tưởng mọi việc trên thế gian hình như được điều khiển theo một quy luật huyền diệu, trong đó có thế giới linh hồn, mà tri thức con người chưa có khả năng chạm tới.
Trước đây, nhà Hương ở đường BT, thành phố Huế. Nay là chủ một khách sạn ba tầng ở đường PCT, có mấy chục căn phòng tiện nghi đầy đủ. Phía trước và bên trái nhà nghỉ lắp bằng cửa kính. Trước đây ba bốn năm, gia đình Hương chỉ mới vươn lên đời sống đầy đủ cơm áo là điều đáng mừng, vì đang trong thời gian nợ nần mấy chục triệu, do Quang, chồng của Hương bị thất bại trong một vụ mua bán bất động sản.

Chỉ trong thời gian ngắn mà xây khách sạn ba tầng, và mới mua một chiếc xe hơi mười hai chỗ ngồi cách đây ba tháng, cũng là việc đáng ngạc nhiên. Tôi nghĩ chắc Hương bán nhà cũ để mua lô đất mới này, nhưng tiền đâu mà xây khách sạn to lớn tiện nghi như vậy ? Nhưng Hương nói rằng nhà cũ vẫn còn, xây thêm hai tầng nữa, cũng làm thành nhà nghỉ, giao cho hai vợ chồng người con trai đầu quản lý. Nghe Hương kể vậy thì tôi nghe vậy chứ không hỏi han gì nhiều. Nhưng Hương tự kể ra hết, như tôi là người để chia sẻ sự may mắn của cô ta.

Hương chỉ miếng đất còn để trống sát vách bên trái :“ Anh Quang làm môi giới giấy tờ đất đai giúp cho người ta, được chia miếng đất này, từ bên này qua tới bên kia. Em bán đi một nửa để xây khách sạn này.” Tôi nhìn sang lô đất trống đang để hai chiếc xe máy Atila. Vậy cũng không có gì khó hiểu. Đất đai tại thành phố bây giờ giá trị bạc tỷ, bán đi một nửa để xây cất nhà cửa thì vẫn còn dư để sắm xe hơi, cũng là chuyện dễ dàng. Nếu Quang thành công trong công việc môi giới nhà đất thì lợi lạc không chỉ là chừng đó. Nhưng bên cạnh sự thành tựu về tiền của, thì Hương lại có nỗi khổ tâm về việc Quang thường quan hệ với đàn bà, không chỉ một người, mà rất nhiều, bà con họ hàng không ai là không biết chuyện này. Mặc dù không cô bồ nào đẹp bằng Hương, nhưng không hiểu sao anh ta lại được nhiều cô đeo đuổi. Nét mặt của Hương đẹp thùy mị, nhân hậu, đôi mắt có làn mi cong, da trắng mỏng như trứng gà bóc, trông lai người phương tây. Càng nhìn kỹ, càng thấy Hương đúng với danh từ mỹ nhân, vậy mà không được sự chung thủy của chồng, thật đáng mỉa mai !

Tôi khuyên Hương đừng buồn, chẳng qua họ thấy Quang có nhiều tiền, Quang không theo gái, người ta cũng theo, cũng là chuyện qua đường thường tình. Hương đẹp như vậy, lại giỏi dang quán xuyến, đương nhiên Quang biết không ai thay thế được, và phải quý trọng vợ. Rõ ràng đất đai nhà cửa Hương đang sở hữu, không là của Quang tạo ra sao. Tôi cùng chia sẻ nổi vui với sự giàu có của Hương, cũng là do phước đức do ông bà để lại.

Vừa trao đổi thêm một số chuyện về việc làm ăn, học hành của những đứa con Hương, tôi vừa bước đến tủ kính nhìn mấy bộ tượng nhỏ bày thật nhiều trên tấm kính. Thấy tôi nhìn chăm chú, Hương mở cánh cửa gương, chỉ rõ cho tôi, đâu là bộ tượng Phước Lộc Thọ, đâu là bộ tượng Tam Tạng. Phước Lộc Thọ thì tôi biết rồi, Tam Tạng cũng biết nhưng Hương giải thích thêm, Tề Thiên trừ yêu quái tài giỏi nhất, tọa trong nhà rất tốt. Bên cạnh là sáu tượng Bồ Tát, gọi là “ Lục Tạt Bồ Đề Kim Sa .” Tuy là sáu tượng nhưng chỉ là một Vị mà thôi. Tôi hiểu ngay, vì đã đọc cuốn sách nói về Đức Bồ Tát Quan Thế Âm, tuy có 33 tướng khác nhau nhưng chỉ là một Vị.
Tôi chỉ hai sư tử đặt ở ngăn dưới, hỏi : “ Còn cặp nhân sư này chắc là ...?” Tôi nói chưa hết câu, Hương đã nhanh nhẩu trả lời: “Cặp nhân sư màu ngọc bích đứng trên quả cầu này, anh Quang mang từ Campuchia về, một trăm rưỡi đô. Em thích lắm, cũng là biểu tượng tính cách của dòng họ quyền quý. Bây giờ mình chỉ là thường dân, nhưng gốc gác ông bà vẫn là dòng dõi con quan cháu cụ. Bà Cô mình là Bà Đức Tiên Cung mà !” Tôi hiểu. Mẹ tôi và ba của Hương cùng gọi Bà Đức Tiên Cung là Cô ruột ( Là chị ruột của Quan Thượng thư Dương Quang Lược, ông ngoại tôi ).
Rời tủ kính, tôi bước sang chỗ đặt pho tượng Phật Di Lặc thật lớn bên trên bàn thờ Ông Địa, cao cũng đến năm tất. Hỏi Hương : “ Em thỉnh tượng này hết bao nhiêu? ” – “ Năm triệu đó chị. Em thỉnh Ngài về đây chỉ mới hơn một năm nay thôi, có Ngài trong nhà, tiền vô như nước.” Đạt, người con trai thứ hai ngồi gần bên tôi, lên tiếng: “ Mẹ nói vậy chưa đúng. Khi làm ăn phát tài, giàu có rồi, mới có tiền thỉnh Phật Di Lặc về. Nhờ là nhờ Bà Cô tam đợi .”

Sự tình cờ của câu nói của Đạt khiến Hương như sực nhớ điều quan trọng, cô nhăn mày suy nghĩ một lúc : “À. Phải rồi, em chưa kể chị nghe chuyện hai Bà Cô mất cách đây mấy trăm năm, tự nhiên về nhập vô em. Cô giúp cho tiền bạc, nhà cửa đó chị. ”

“ Chuyện xảy ra khi nào ? ”

“ Chỉ khoảng hơn một năm nay thôi.”

“ Bây giờ mà còn chuyện đó thật sao? Nhưng sao lại hai bà cô. Là hai cô nào? ” - Tôi thắc mắc hỏi lại.

Quang đi đâu vừa về. Hương biểu người làm dọn cơm và mời tôi : “ Chuyện dài lắm, trưa nay chị ở lại ăn cơm với em, xong em kể cho nghe.”
Quang cùng ngồi ăn với tôi và ba đứa con. Lúc ăn, trao đổi vài chuyện về khách khứa thuê phòng, việc bán buôn lời lã, công việc quản lý, giặc giũ, làm phòng ... Hương cười cười nhìn Quang : “ Chị biết không, nhiều lần Cô chỉ bảo, một mình em tìm ra chỗ cậu này hẹn hò em út, em bắt tại trận mà đâu có nhờ ai ”.

Bích, con gái út của Hương nói vào :

“ Khi Bà Cô nhập, mẹ đánh ghen dữ lắm, ba sợ chạy luôn .”

Tôi ngạc nhiên hỏi :

“ Thời đại bây giờ mà Cô còn nhập vào một người trẻ đẹp tân thời như em ? Nhìn em đâu phải loại người mê tín ”.

“ Đẹp Ngài mới nhập ”.

Lời phát biểu đầy xác tín của Quang như một sự thật được chấp nhận hiển nhiên trong nhà này, thêm lối kể quá ư tự nhiên của mấy đứa con Hương, như tất cả đang sống chung vô tư với những người khuất mặt. Không thấy vẻ gì sợ sệt.

“ Thế kỷ 21 rồi, biết bao văn minh tiến bộ, chẳng chuyện thật như vậy sao ?” -Tôi hỏi đi hỏi lại câu đó.

“ Chớ bộ em nói giỡn ? Chị hỏi mấy đứa con em xem. Xưa nay em đâu có biết gì về chuyện cô nhập bà nhập gì đâu mà bày đặt! ”

“ Mới cách đây hơn một năm chị đâu có nghe em nói gì ”.

“ Đúng rồi, chuyện mới hơn một năm đây thôi, trước khi anh Tân em mất khoảng vài tháng. Chị ở xa, có biết vì sao anh Tân em mất không ?”

“ Biết chứ, nghe nói Tân mất rất đột ngột ?”

Cậu mợ tôi chỉ có ba người con, Tân là con đầu và hai con gái là Hương và Hà. Tân chết đột ngột sau một đêm nhậu nhẹt say sưa. Vợ không có, đêm chỉ ngủ một mình, sáng ra, khi người nhà phát giác thì Tân đã chết rồi. Chắc là do gió máy sao đó, cái quạt vẫn còn chạy ngay trên đầu nằm. Lúc còn sống, Tân gieo rất nhiều việc gây đau khổ cho gia đình, vợ con không ai ở được. Thoáng nghĩ vậy nên tôi nói:

“ Thôi vậy cũng yên.”

Nhưng Hương phản đối :

“ Không yên đâu chị ơi ! Chết xong, anh về quậy quá trời suýt nữa em chết. Để em kể chuyện hai Bà Cô nhập, rồi đến chuyện anh Tân, chị không khiếp thì thôi !”

“ Ừ. Kể chuyện hai bà cô đi ”

“ Bà Cô họ Trần bên anh Quang, và Bà Cô họ Dương bên mình.”

“ Vậy là em có lên đồng lên bóng? ”

“ Không, cả đời em có biết đồng bóng là gì. Ngài nhập vô em ngay trong nhà này. Không tới am miễu gì hết.”

Hương không nói gì thêm, đến quầy hàng lấy một cuốn sổ ghi hàng cỡ lớn bằng cuốn vở, mở ra từng trang, chỉ cho tôi :

“ Chị xem... Đây là chữ của Bà Cô họ Trần. Hương lật từ trang này qua trang khác và chỉ rõ những dòng thơ viết trên trang giấy : “ Đây là thơ chữ Hán... đây là thơ Cô dịch ra tiếng quốc ngữ.”
Nhìn lướt qua gần mấy chục trang viết toàn chữ Hán, nét bút lưu loát khiến tôi rất ngạc nhiên. Những bài thơ này viết trên cuốn sổ ghi tiền hàng của Hương, cho tôi hiểu đây là do Cô nhập bất ngờ chứ không có sự chuẩn bị nào. Hai Cô mất khi còn tuổi vị thành niên, nhưng qua nét bút bay bướm lả lướt, chứng tỏ hai Cô là người tài hoa trong làng văn tự ngày xưa chứ không phải tầm thường. Nếu đây là chuyện có thể tin được.

Nhìn Hương một lúc, tôi xác định :

“ Mặc dù chữ viết có biến thể, nhưng chắc chắn là Hương không thể nào viết được như thế này.”

“Đúng rồi, em có biết tiếng Tàu tiếng Hán gì đâu mà viết. Thơ văn thì em dỡ ơn trời. Trong các môn học, em dốt nhất môn văn. Học tới lớp mười hai, vẫn chưa viết được bài văn nào suông sẻ, lúc nào cũng ba bốn điểm, thi cử trần ai cốt chĩa với môn này, làm sao em làm được thơ văn !”
Nói rồi Hương ngồi yên để tôi giở tới giở lui mấy chục trang thơ bằng mực đỏ. Chữ Hán thì chắc chắn Hương không biết rồi, còn đọc sơ qua mấy bài thơ chữ quốc ngữ thì hồn thơ vời vợi man mác, ý thơ sầu thương u uẩn, người đọc không khỏi xa xót buồn lây. Đây là những câu thơ trên ba trăm năm về trước :

Bài thứ nhất :
Nhật nguyệt sương mai cành tơ liễu
Mây mù rải khắp núi Trường Sơn
Ai thương ai khóc sầu bi thảm
Giọt đắng vành mi lệ chẳng ngừng
Thương con thương cháu Ta không nói
Chỉ biết khóc thầm thế gian ơi !
Bà Cô tam đợi họ Trần

Bài thứ hai :
Bao ngày mong đợi con cháu đến
Vui chút hương vầy nhà của ta
Quận Chín cô Nường đang ở đó
Trọng Thủ theo ta bấy nhiêu ngày
Bao tháng năm dài không thăm nó
Nó chết ở đâu chôn ở đâu ?
Ta đi tìm kiếm nhưng không gặp
Hãy chỉ cho ta để khói hương
Bà Cô nhị đợi họ Dương

Đọc xong tôi nhận xét :

“ Chị đã đọc khá nhiều thơ xưa, nhưng chưa gặp những vần thơ như thế này, không trùng lặp của ai. Lời thơ ai oán não nuột, nhưng khí khách văn chương không phải thường.”

Hương nói thêm :

“ Chị biết Cô họ Trần nói sao không : “ Lúc xưa ta là con nhà quan, Thầy Đồ tới nhà dạy học, dạy ta làm thơ làm văn. Thơ của ta, giáo sư bây giờ phải núp ” .
Tôi bật cười câu nói của Cô, đây là khẩu khí kiêu kỳ của con nhà quyền quý. Tuy vậy, lòng tôi rất khâm phục, vì chất thơ rất có hồn. Cách đây gần bốn trăm năm mà sáng tác được những câu thơ như thế, không phải thuộc hàng dân dã.
Là văn chương của người ở thế giới khác, ý thơ nhắn nhủ đầy câu thúc, chứng tỏ, tuy người chết đi nhưng vẫn quyến luyến cháu con, vẫn ước mong sự đông đủ sum vầy. Tôi xem đi xem lại bài thơ vài lần và thắc mắc tại sao hai Cô đều nhập vào Hương. Hương trả lời khi Cô này xuất đi rồi thì Cô khác nhập tiếp vào. Một người em trai và một bào thai con của Hương bị sa sẩy nữa, cũng nhập vào xác Hương, khiến nhiều lúc phải phát sợ.
Hương kể rõ, hai Bà Cô là hai chị em kết nghĩa lúc họ gặp nhau ở âm phủ, cùng hoàn cảnh gia phong, cùng tâm đầu ý hợp. Bà Cô họ Dương mất lúc 15 tuổi vì bị bệnh dịch tả. Nếu gọi là Bà Cô nhị đợi tức là mất cách đây khoảng hai trăm năm trở lên, chắc chắn Cô thuộc thế hệ đời trước ông bà ngoại tôi. Cô họ Trần mất lúc 16 tuổi vì bị trầm thủy, cách đây 385 năm, tự gọi là Bà Cô tam đợi. Con gái chết non yểu như thế thì hồn linh rất thiêng. Hai Cô đều là con nhà quan cụ, nên Cô nào cũng mê đánh bài tứ sắc dù đã về dưới cõi âm. Hai Cô cùng chơi bài và cùng làm thơ thi thố tài năng với nhau tâm đắc lắm. Cô họ Dương chơi bài giỏi hơn Cô họ Trần, nhưng tài làm thơ thì Cô họ Trần xuất sắc hơn. Hai Cô viết nhiều bài lắm, nhưng vì sợ quá nên Hương đốt hết, may mà ai xui để lại được mấy bài.
Hợp nhau qua sở thích bài bạc và thơ phú nên hai người trở thành đôi bạn chí thiết. Hai Cô hứa hẹn sẽ gả con cháu ở dương gian cho nhau, nên Quang (Cháu Bà Cô họ Trần) và Hương (Cháu Bà Cô họ Dương) thành vợ thành chồng là do hai Cô khiến xui tác hợp. Do đó hai Cô cùng giúp sức để cho cặp vợ chồng này giàu có sung sướng, có của dư của để, mặc dù thời gian mới lấy nhau vẫn rất khó khăn. Cô họ Trần an ủi Cô họ Dương : “ Thằng nam này, bây giờ có nhiều gái theo vì nó có tiền, cũng phải trả cho hết cái tiền nghiệp của chúng nó, ta can thiệp cũng không được, một thời gian tự nhiên sẽ hết thôi.”

Tôi thắc mắc trong bài thơ của Cô họ Dương :

“ Như vậy Trọng Thủ là ai, và Quận Chín Cô Nường là ai ?”

Hương giải thích Trọng Thủ là em trai út của Hương, mất lúc mới một tháng vì bị đẹn vôi không chữa được. Mẹ Hương đem chôn chỗ nào trên núi bây giờ không còn nhớ, lúc đó Hương chỉ mới hai ba tuổi. Sau đó chắc là mẹ có thăm viếng khói hương, nhưng vì lo làm ăn nên lâu ngày thưa dần, rồi bỏ quên luôn. Bao nhiêu năm nay tưởng là siêu thoát rồi chứ có ngờ Bà Cô họ Dương đem hồn Trọng Thủ về ở gần gũi bên cô, nhưng mồ mả thì do lâu ngày quá, xương cốt lẫn với đất đai biết ai là ai. Cô thương xót lắm nhưng biết cậy vào ai để minh chứng cho tấm lòng, mới làm bài thơ nhắn nhủ như vậy, dùng xác phàm của Hương để thể hiện chứ có cách nào hơn.

Qua bài thơ đó, Trọng Thủ mới nhập hồn vào Hương và ghi bài thơ nhắn lại cha mẹ :

      Trọng Thủ con đây xin nhắn lại
          Ba má thương con hãy đến Bà
          Trọng thương ba thương má lắm
          Bây giờ ba má nhớ con không ?
          Nếu nhớ đến hãy đi lên núi
          Vái nhiều lạy mãi mãi không thôi
                      Thơ của Trọng Thủ

Xem xong bài thơ, tôi hỏi:

“ Chị tin đây thật là thơ của Trọng Thủ, nhưng ý cụ thể là thế nào?”

“ Em cũng chẳng biết ra sao, nhưng hôm sau tự dưng em đi bộ lên núi tìm mộ ”

“ Hương đi một mình?”

“ Em đi bộ, con em đi xe máy kèm theo. Tới nghĩa địa rồi, em thắp cháy bó nhang, vái quanh vái quất, mắt tìm kiếm hết góc này đến góc nọ mãi, khi tới một bụi rậm thì dừng lại, bứt hết đám cỏ dại thì lộ ra tấm bia nhỏ, định thần nhìn kỹ, thấy rõ tên người phụng lập là ba má em.”
Điều này khiến tôi hơi ớn người, buột miệng :

“ Điều này thật linh hiển, nếu không có thần lực của ai đó dẫn dắt, làm sao tìm ra được. Đừng tưởng chết là hết. Xưa nay chị ít tin dị đoan, nhưng nếu sự thật như thế này thì không thể không tin. Hơn nữa, Trọng Thủ khi mất chỉ mới có một tháng tuổi, sau mấy chục năm lại nên hình nên vóc như thế sao ? Học hành ở đâu mà làm thơ làm văn được như vậy?”

           “ Vui chút hương vầy nhà của ta ”

           “ Trọng Thủ theo ta bấy nhiêu ngày ”.

Hai câu thơ này của Cô họ Dương cho tôi hiểu rằng :“ nhà ” của Cô đang có Trọng Thủ, Quận Chín và Cô Nường ở. Hương cho biết, Quận Chín là vong nam, Cô Nường là vong nữ, chỉ chung những bào thai bị sa sẩy khi chưa đủ tháng đủ ngày. Cô Nường thì Hương không biết, nhưng Quận Chín chính là thai nhi của Hương đã sa sẩy do lúc đó đã bốn đứa con, nếu sinh nữa sẽ không nuôi nổi nên đi điều hòa. Linh hồn của những bào thai chưa đủ ngày sinh tháng đẻ, lâu năm được gọi là Quận Chín, đó là danh từ thường được truyền từ cửa miệng những người lên đồng lên bóng hầu Cô hầu Quận. Danh vị đó do ai đặt để, thật là khó biết. Nhưng trường hợp này càng củng cố suy nghĩ của tôi, vì danh vị này do Hương tự buột miệng xưng danh khi Quận Chín nhập vào, và cho biết đó là vong linh người con thân ruột của mình. Xong Quận bắt Hương ăn chay ba tháng mười ngày. Hầu như Hương không biết gì về các món chay, nhưng tự dưng nấu nướng được hết, tự phục vụ cho mình, để hoàn tất ý nguyện của Quận. Chứng tỏ Quận đã là vị chay trường tu Phật. Và các danh vị ở cõi âm cũng không phải do người dương đặt để như tôi tưởng lâu nay.

Ăn chay xong một trăm ngày, sút 6 ký lô, nhưng không đau ốm gì, sức khỏe vẫn như thường. Hương còn cười vô tư, nói rằng :“ Ngày ăn chay, tối đóng cửa phòng ngủ một mình không cho ai vào, không khác gì người tu hành ”
Thật tình thì chồng cô cũng không vào phòng được, vì có hình Đức Chúa Giê-su thật lớn treo trước cửa, khiến anh ta sợ. Lý do cũng vì trong thời gian đó, hồn linh của Tân cứ hiện về quấy phá mãi nên Hương mới làm như vậy. Tôi thắc mắc, gia đình chúng tôi theo đạo Phật, sao Hương lại treo hình Chúa trước cửa phòng ngủ ?

Hương kể rằng, Tân chết rất linh. Khi người ta đến phúng điếu, Hương thấy Tân đứng bên cạnh bàn, còn nói :“ Hương sao ghi gian tiền của anh ”. Hương sợ quá trả lại đủ số tiền.

Tôi hỏi kỹ lại, phải Hương thấy chính xác Tân đứng bên không. Hương trả lời là thấy rõ Tân đứng bên bàn, nghe rõ cả tiếng nói. Tân còn đòi lại cái mền bông màu hồng, để lại cho người anh em cô cậu dùng vì thấy mền còn mới, đốt đi thì uổng. Sau đó Hương phải đặt thợ mã cái mền bông y như vậy, cúng kiến xong đốt đi rồi mới yên.
Lý do treo hình Chúa trước cửa phòng còn kinh dị hơn. Khi Tân mất, để lại chiếc xe Wave Alfa còn mới. Mợ tôi đòi bán vì không ai đi. Vợ chồng Hà đã có xe rồi. Thấy người ta trả rẻ quá, Hương tiếc nên đưa tiền cho mẹ, giữ chiếc xe lại, và cũng như để kỷ niệm người anh quá cố. Được một thời gian, xe không ai đi. Mấy đứa con Hương biểu bán vì nhà đã có xe hơi, để thêm chật chỗ. Hương bán lại cho vợ chồng Thiện làm nghề thợ mã ở ngã tư đầu đường. Bán vừa xong thì đêm đó Tân về nhập ngay vào Hương, bảo rằng xe của Tân chỉ để cho người trong nhà đi thôi, không được để người ngoài đi, phải lấy trả lại cho Tân. Còn hăm he đủ điều nếu không chịu trả lại.
Âm dương cách trở, không biết làm thế nào, Hương đặt Thiện làm lại chiếc xe bằng đồ mã, mẫu mã, số xe giống y hệt xe đó. Cúng đốt xong rồi nhưng Tân vẫn không chịu, hôm sau lại đột nhập vào phòng Hương, đòi phải trả lại chiếc xe màu đen chứ không phải màu nâu như vừa đốt. Nếu không nghe thì liệu hồn. Hương thất kinh, sực nhớ xe của anh mình màu đen, chiếc xe vừa hóa vàng là màu nâu, vội nói với vợ chồng Thiện hãy làm lại gấp. Thấy anh mình linh hiển quá, Hương sợ hãi đi xem thầy. Sau khi hỏi kỹ lưỡng trong nhà theo đạo gì, Hương thuật lại quá trình theo đạo Thiên Chúa của Tân. Người vợ đầu của Tân là người Công giáo, nhà ở cạnh dòng Chúa Cứu Thế, nhưng sau khi cưới nhau hai năm Tân mới chịu phép rửa tội. Thầy bảo như vậy linh hồn Tân đã thuộc về Chúa. Hương phải treo hình Chúa trước cửa phòng và đóng kín cửa trước khi ngủ. Nhưng vì vậy lại làm cho Tân tức tối thêm. Những đêm sau, Tân vẫn nhập vào phòng Hương hăm he đe dọa. Có hai người mặt mày đen đủi hung tợn đi kèm theo hai bên. Người ta thường gọi là Kem giữ hồn. Qua sáu mươi tuổi thì linh hông không còn Kem giữ. Hương linh của Tân rất mạnh, hành động theo bản năng như lúc còn sống. Có lẽ Tân chưa biết mình đã chết.
Sáng hôm sau, Hương kinh hãi khi nghe nói Thiện bị một kẻ lạ mặt chém ngang vào đầu lúc đang ngồi dán đồ mã ở cửa, đã chở đi bệnh viện. Công an điều tra thì Thiện bị người ta chém nhầm. Hương tá hỏa biểu vợ Thiện làm mau cho xong chiếc xe màu đen, rồi vội vả hóa vàng. Nhưng vẫn chưa thỏa lòng tức giận, Tân xui đẩy Hương ra chợ mua sợi dây kim xuyến. Về tới nhà, đang cầm sợi dây trên tay, bỗng sợi dây xoay tít mấy vòng, xong Hương tự động đeo vào cổ mình. Dây dần dần thắt lại khiến cô bị nghẹt thở. Biết anh mình chưa nguôi cơn giận, cô niệm danh hiệu Đức Phật và xin Ngài giải cứu. Vừa niệm Phật vừa lấy tay cố kéo sợi dây nới ra nhưng không được, càng lúc dây càng siết chặt, như sắp tắt thở tới nơi.
Trong phút căng thẳng tuyệt vọng, bỗng như có ai xui đẩy, Hương tự dưng đứng dậy đi ra khỏi nhà. Tới đường cái, đi thẳng hướng về phía Dòng Chúa Cứu Thế, dừng lại trước Tượng Ngài đang đứng nhìn xuống bên đường. Không biết đọc kinh Chúa, Hương chỉ biết đứng nhìn lên tượng một cách khẩn thiết, hai tay cố rị sợi dây xuống khỏi cổ... Một lúc... bỗng sợi dây nới lỏng dần ra, Hương hoàn hồn mừng rỡ, giật đứt ngay sợi dây và bắt đầu thở được. Lượm cái túi nhựa, cô bỏ sợi dây vào và mang ra thả dưới chân tượng Chúa phía sau nhà thờ. Thật ra, Hương cứ nghĩ tượng sau nhà thờ cũng là tượng Chúa, nhưng đó chính là tượng Thánh Alfonso (Vị Thánh sáng lập ra Dòng Chúa Cứu Thế). Nơi này công viên vắng vẻ hơn, thả sợi dây sẽ không sợ ai lượm, ngoài các vị trong nhà thờ.

‘‘ Rồi sau đó Tân có hiện về nữa không ?’’ Tôi hỏi.

“ Từ lúc đó đến giờ không còn thấy anh nữa. ”

Tôi nhận rõ thêm một điều, có thể có uy lực của Đức Phật nhưng không khống chế được linh hồn của Tân. Chứng tỏ tôn giáo vẫn có quyền hạn trong việc dẫn cắt linh hồn người chết. Đạo Thiên Chúa rất coi trọng phần hồn, khi đã được rửa tội rồi, tức linh hồn đã thuộc về Chúa, do đó quyền chế ngự linh hồn phải thuộc về Chúa. Trước sự linh diệu này, tôi như được sáng tỏ hơn: Đức Chúa và Đức Phật vẫn thường hằng từ hàng ngàn năm nay, hiển hiện và cứu giúp cho loài người.

Hương hồn của Tân thật linh hiển nên tôi không dám đề cập gì nhiều về đời sống riêng tư, chỉ biết một ít về tính khí hung hăng ngang tàn của Tân đối với vợ con lúc còn sinh tiền, có bốn đời vợ nhưng không ai ở nổi. Khi Tân mất, có đến bốn người đàn bà mang con đến xin để tang. Hương còn dẫn chứng, Tân mất trong đêm say rượu là do Bà Cô họ Dương bắt đi. “ Bò bổ nhằm khi khế rụng ”. Người xưa nói không sai. Thừa lúc Tân say sưa bí tỉ, sáng ra nghe chết rồi cũng không ai thắc mắc làm chi, cứ cho rằng trúng gió là xong. Đó là việc do chính Bà Cô làm. Cô đã về nhập vào Hương và cho biết như vậy.
Mọi việc xảy ra như thế, nếu không tin đó là sự thật tuyệt đối, thì nó hoàn toàn giống như một câu chuyện kinh dị do trí tưởng tượng. Nhưng xưa nay, tôi chưa từng nghe hoặc đọc chuyện loại này. Chuyện xảy ra cùng với mọi diễn biến như một sự minh chứng, cho những ai thường tư duy về vấn đề duy tâm siêu hình.
Chuyện kể đến khi trời sẫm tối tôi mới chào về, và hẹn ngày mai sẽ ghé lại nghe kể tiếp, vì Hương nói còn nhiều chuyện hiển linh nữa kể chưa hết. Hương biết tôi thích tìm hiểu về vấn đề này nên mời tôi ở lại chơi vài hôm, phòng trống trên lầu chán gì. Nhưng tôi không còn can đảm để ở lại ngủ một mình trong các căn phòng đó.
Chuyện được nghe như vậy, người cứng đầu bao nhiêu cũng phải tin, nếu không có ý nghi ngờ xem thường. Nhớ lại tấm hình của Tân trên bàn thờ với hai mắt sáng quắt, tôi vừa thắp hương trước khi đến đây, mà thấy ớn lạnh. May trước đó tôi chưa biết chuyện này, nếu không, chắc tôi không dám vào bàn thờ Tân thắp nhang. Có căn mạng như Hương mới thấy được người khuất mặt, chứ đâu phải ai cũng thấy, ngoại trừ những vị Lạt Ma hoặc những vị có thiên nhãn.
Về nhà, qua một đêm khá giao động, suy đi ngẫm lại, tôi dứt khoát thay đổi lập trường tín ngưỡng bấy lâu. Vì không rõ lẽ âm dương huyền nhiệm như thế nào, nên đã không tin tưởng mấy vào sự bái vọng. Bây giờ phải cúi đầu mà tin. Không cần duy tâm duy lý gì nữa cả. Tôi tự nhủ như vậy. Những chuyện này không phải là sản phẩm của tưởng tượng. May mà Đức Chúa đã qui phục được linh hồn của Tân, không thì chẳng biết hồn oan sẽ quấy rối như thế nào nữa. Cũng vì cái chết quá bất đắc, quá đột ngột, nên thần thức của Tân còn nguyên tư tưởng thế gian khi đi vào cõi âm, khí xung còn mạnh, do đó có hành động như khi còn sống. Tức giận cả em gái mình khi ý muốn chưa được thỏa mãn, bao nhiêu câu niệm Phật của Hương cũng chẳng thấm tháp gì. Phật qúa từ bi, hay không đủ quyền năng bằng Chúa? Chỉ có Chúa mới qui hồi được linh hồn của Tân, bởi vì Tân đã là con cái của Ngài.
Một người ngoại đạo như Hương, lúc lâm nguy lại được sự dẫn dắt của Thánh Thần để tìm đến Chúa, được Chúa cứu mạng, mặc dù Tượng Ngài đứng ở ven đường, dưới nắng dưới mưa. Chứng tỏ Chúa ở khắp mọi nơi và luôn cứu rỗi cho loài người, đâu cần Ngài ngự trên ngai bệ nguy nga lộng lẫy. Cũng tại Tân không thuần hằng phúc âm để được tiếp dẫn vào con đường chánh đạo, để thức tỉnh nhận chân thân phận lìa đời, biết giác ngộ tội lỗi mà mong siêu thoát. Không biết giờ này Tân đang nhận sự phán xét của Chúa ra sao.

Gần tám giờ sáng hôm sau tôi trở lại. Quang có công việc đi cả ngày, cũng là dịp thuận tiện để được nghe kể nhiều chuyện ly kỳ nữa. Nghe Hương nói, Tân đi Campuchia, mỗi lần đi là phải một tuần, mười ngày. Tôi yên trí vì có rộng thời gian để tìm hiểu tận tường sự việc và không quên nhắc Hương đưa cuốn sổ ghi thơ của Bà Cô để đi photo kẻo sợ quên. Lật đi lật lại xem mấy bài thơ lần nữa, tôi hỏi Cậu Ngoại càng là ai? Hương nói đó là Cậu ngoại càng ngoại cảnh. Bên Phật giáo, nhà ai cũng có thờ bàn thiên ngoài trời hoặc trước cửa nhà. Hương « mắc » phải Cậu hồi còn thờ bàn thiên ở nhà cũ. Hồi đó ở nhà trệt, bàn thiên đặt hơi cao, phải sắm cái thang gỗ để leo lên leo xuống thắp hương. Và Hương đưa tôi đọc hai bài thơ Cậu viết, y chang :

1.

Sóng nước hương trời vẫn không quên
Mây xanh che lấp không gian tím
Ta vẫn cô đơn vẫn cô đơn
Thung lũng ngày xưa thay đổi lại
Ta ngầm khâm phục lắm ai ơi …
Che nắng, che mưa ta ơn cảm
Ngồi nơi một xó cũng buồn thiu
Nhìn lên, nhìn xuống thang cầu gỗ
Chạy lên, chạy xuống một mình em
Thương thương thương lắm nhưng không nói
Chỉ để ý em một nửa mắt thôi
Men nồng say đắm em yêu hỡi
Hãy chứng minh rằng ta có đây

2.

Phong cảnh chiều thu lững lờ trôi
Nhìn mây kéo xuống tận chân trời
Lòng này khao khát bao ân ái
Nhịp đập con tim bừng thế gian
Chiều thu gió lạnh xanh hương ngát
Lấp lững mây trời vẫn trào dâng
Ai yêu em nữa em em hỡi
Sống trên đời này vẫn thế thôi
Men tình say đắm em yêu hỡi
Gợn sóng mây tình của anh đây
Chăm chăm chút chút thêm vương vấn
Vận áng mây hồng hỡi gió thu

Không ai khỏi bàng hoàng và khâm phục khi đọc những vần thơ đó. Phải là một hồn thơ dào dạt đầy ắp nhưng đầy chí khí. Một khi đã tin vào sự thật rồi thì tôi gần như đồng cảm, với tình ý khát khao một tình yêu nồng cháy nhưng đè nén âm thầm của Cậu ngoại càng. Tuy tình yêu thương mãnh liệt nhưng Cậu biết dằn lòng, giữ bình yên cuộc sống cho người mình yêu thương đang sống ở dương gian nên không bắt Hương phải điên khùng như nhiều người bị vương mang khác. Có lẽ đây là một người thuộc con nhà đạo đức gia phong, có học vấn cao thâm, biết giữ gìn lương tâm trong sáng, không như người phàm tục tầm thường. Thấy Cậu xưng “ ta ” trong bài thơ thì đủ biết. Có thể do một cái chết đột ngột nào đó, hồn còn luyến xác, cõi trần gian chưa muốn xa lìa nên không siêu thoát, cứ vất vờ vất vưỡng không nơi nương tựa. Tìm được nơi hương khói này, Cậu chọn làm nơi ẩn trú.
“ Ngồi trong một xó cũng buồn thiu ”.
Thật đáng tội nghiệp. Vì linh hồn cô đơn lạnh lẽo nên tìm đến với người nữ ở dương thế để được sự gần gũi, ấm áp, nhưng không đòi hỏi, phá quấy. Thật là một linh hồn cao quý tuyệt vời. Tiếc làm sao, nếu hồn có năng lực định hướng, hiểu được hồn linh mình đang phiêu linh vô định và nhất tâm tỉnh ngộ, chấp nhận rời bỏ mọi luyến lưu trần gian để được siêu thoát, chắc chắn Cậu sẽ hóa sinh vào cảnh giới tốt đẹp hơn.
Tôi nhận ra một điều khá thú vị, đó là sự hội ngộ của năm linh hồn này cùng ở một “ nhà ”. Hầu như ai cũng theo chân Phật, chay tràng tu tập, và đều biết làm thơ, những vần thơ hết sức thanh tao nhã nhặn, tình cảm mang mác. Kể cả Cậu ngoại càng. Xem như là một “ Gia đình thơ văn thi phú ”. Khiến tôi nghĩ, bây giờ mình cũng viết văn làm thơ, có nhờ tính di truyền này trong dòng họ ? Một sự hội tụ đầy ngẫu nhiên thú vị, do sự kết nối huyền bí từ những bà con thân thích ở thế giới bên kia, cùng nhau mượn xác phàm của Hương để nói lên tâm tình uẩn ức thầm kín mà không duyên cơ thổ lộ. Và những công việc lợi lạc họ đã làm cho những người thân thích cật ruột hiện còn sống trên nhân gian, mà không ai hay ai biết. Họ muốn “ chứng minh ” lòng hay ý tốt, và chứng minh cho nhân thế biết rằng, linh hồn mãi mãi hiện hữu, dù không hình không bóng, không lời lẽ không tiếng nói. Họ cũng có năng lượng để nắm bắt cơ duyên và thúc đẩy mọi việc xẩy ra như ý muốn.
Hương biết thân phận mình là phải cung kính mỗi khi các vị về nhập. Và tôi, cũng biết mình nên làm điều gì để chứng minh. Mọi hiện tượng xảy ra mà người ta thường gọi là ma quỷ hoặc đồng bóng, không phải hoàn toàn mang tính dị đoan. Ngẫm cho kỹ để thấy, chung đụng với ta vẫn có một thế giới sống khác vô hình.
Hai Bà Cô cho thấy tấm lòng nhân hậu khi chọn Hương hầu hạ những khi hai Cô về, nhưng không để Hương phải nhảy đồng bóng như nhiều chân hầu khác. Có thể vì Hương có chân tu, lại là con cháu họ hàng quan lại, mặc dù bây giờ đã hết thời vua chúa. Khi nào muốn giải bày điều gì, các vị hạ giáng tại nhà Hương, kín đáo không ai biết. Hai Bà Cô bây giờ đã thành tiên, đi mây về gió, ngoài vòng luân hồi sinh tử, mãi mãi là hình bóng ấu nữ, không lớn, không già. Họ đã ở ngoài quỹ đạo thời gian. Được hưởng phép của các vị Đại Bồ Tát, trăm tay ngàn mắt, có mặt khắp nơi, cùng chư Phật cứu độ chúng sinh. Cũng như sự tồn tại của Đức Chúa, đã cứu Hương ra khỏi cơn nguy biến vừa qua, dù Hương là người ngoại đạo, là một thực tại không thể phủ nhận.
Khi ông ngoại tôi mất, mộ chôn trong khuôn đất của nhà thờ họ, ở gần Cầu Lim. Lúc đó tôi khoảng chín mười tuổi, Hương chưa sinh. Sau này giỗ chạp, thỉnh thoảng tôi lên mộ ông vài lần, xem cúng kiến bên ngoài và chỉ nhìn qua bàn thờ các vị, như Bà Đức Tiên Cung, Vua Khải Định, Quan Thượng thư, một hai vị nữa đội mũ cánh chuồn mà tôi gọi là cậu…Còn nhiều bài vị khác nữa ở phía trong, nhưng trông vẻ linh thiêng nên không dám vào.
Thời đó phương tiện máy bay không thông dụng như bây giờ. Lúc bấy giờ vua Bảo Đại đã lưu vong bên Pháp. Khi ông tôi mất, Cựu hoàng Bảo Đại gởi về ba chục đồng theo đường thủy, ba tháng sau tiền mới tới nơi.
Sự hiểu biết của Hương về dòng họ, nhiều lắm cũng như tôi vậy thôi. Khi bắt đầu khôn lớn thì cuộc sống nhiều biến động, nhất là sau Giải phóng, việc làm ăn kiếm sống khá vất vả, nên ít có dịp thăm mộ ông, nơi có điện thờ chính. Vậy mà khi Bà Cô họ Dương nhập vào, Hương mặc áo gấm, đội nón gò găng, đi bộ từ nhà lên tới cầu Lim, vào nhà thờ, đi thẳng tới trước bài vị Bà Cô, đưa tay vén tấm vải phủ, thắp hương vái lạy và nói với người giữ nhà thờ là đừng phủ khăn che hết mặt Cô như thế, phải để cho sáng lạng. Khăn phủ phải tinh tươm… Xong thắp hương các bàn thờ khác rồi đi bộ trở về. Đường xa, trời mưa lâm râm, nhưng cô không thấy mệt, không thấy lạnh.
Tôi cũng đang có ý định đi thăm mộ ông, nhưng chưa đi được thì nghe câu chuyện này. Do động lực muốn tìm hiểu thêm về Bà Cô họ Dương, nên hẹn Hương ngày mai hai chị em cùng đi.

Tối lại, tâm tư cứ thắc mắc băn khoăn vì sự cúng kiếng xuê xoa của mình lâu nay, có lòng thành nhưng không tin tưởng ông bà sẽ hưởng được mâm cổ hương hoa, hoặc làm sao sử dụng vàng mã để may thành y phục? Đúng là “ Tin tại ngã, bất tin tại ngã ”.

Sáng mai y hẹn, Hương chờ tôi sẵn, nhưng vì một thắc mắc nhỏ của tôi về việc tại sao người mất đã mấy trăm năm lại tìm gặp linh hồn con cháu mới chết để đoàn tụ, yêu thương đùm bọc trong một “ nhà ”. Mà “ nhà ” này ở đâu ? Hương giải thích, trên lầu thượng có nhiều trang thờ. Thờ hai Bà Cô hai trang, đó là “ nhà ” của Cô. Trang thờ Quận Chín, trang thờ Ngoại càng ngoại cảnh. Tôi đi cùng Hương lên tận lầu bốn xem cho tận mắt các trang thờ như thế nào. Đêm nào cũng lên thắp hương bao nhiêu trang thờ linh thiêng như thế này cũng đủ thấy sợ. Hương nói có Cô đỡ chân đỡ cẳng nên nhiều lúc phải lên mấy tầng lầu nhưng không biết mệt.
Từ việc này, Hương liên hệ đến việc Cô họ Trần can thiệp vào một vụ gây gỗ với người chị dâu mới chết. Người chị dâu là vợ của anh Hưng, anh đầu của Quang, gia đình đang sống ở Đà Nẳng. Trước đây vài ba năm, thấy Hương gặp nhiều khó khăn, không có vốn làm ăn, chị Hưng cho Hương mượn ba triệu. Vậy là quá tốt, chị em ruột thịt chắc gì đã được như vậy. Đi vay mượn người khác năm ba trăm ngàn cũng chưa chắc người ta cho vay. Nghe nói chị còn cho anh Quyền mượn vốn kinh doanh nữa, nhưng ít nhiều không rõ. Quyền là anh kế của Quang. Biết việc này, Hương thấy chị dâu là người có lương tâm, rất đáng quý trọng. Bỗng nhiên chị chết do một tai nạn lao động, ai cũng xót thương. Trong mấy ngày đám tiệc ở Đà Nẳng, anh Quyền khai thật với anh Hưng, là chị có cho mượn tám chục triệu, đã trả bớt năm chục triệu rồi. Bây giờ chị mất, còn lại ba chục triệu sẽ lần lần trả tiếp cho anh. Đứng trước người khuất mặt không ai dám nói dối. Do đó Hương mới biết được chị Hưng cho vợ chồng anh Quyền mượn số tiền lớn như vậy. Tự nhiên cô buồn buồn trong bụng, nhưng không trách chị dâu được, mà cũng chẳng biết nói cùng ai. Tối tối thắp hương nơi trang thờ Bà Cô họ Trần, miệng lâm râm than thở, nói ra cho vơi bớt trong lòng. Khấn vái vậy thôi, sáng mai cũng quên đi vì chuyện qua rồi, mà chị Hưng không còn nữa biết trách ai.
Chuyện đời như vậy cũng thường. Anh Quyền làm ăn lớn, giàu có nhưng cần thêm vốn kinh doanh. Biết Quyền mượn được trả được, nên chị cho mượn nhiều, còn Hương khi đó quá ngặt nghèo, không đủ cơm gạo nuôi con, làm gì có tiền trả, cho mượn như vậy, nếu không trả nổi chị cũng cho luôn, Hương biết chị Hưng là người có lòng nhân, sẽ làm như thế. Biết vậy, nhưng trong lòng cứ tưng tức. Sau đám tiệc, Hương về nhà. Một tối, khi đang ngồi ở quầy hàng, chờ giao chìa khóa cho khách trọ về khuya, bỗng dưng Hương nhìn ra cửa kính thấy chị Hưng đứng ngoài gọi vào :

“ Này con Hương ra đây. Tao cho mày mượn tiền không ơn còn oán, mắc mớ chi mày dám kể với Bà Cô là tao cho thằng Quyền mượn tám chục triệu, còn mày chỉ có ba triệu, mày là con nhiều chuyện ...”

Chị Hưng còn mắng mỏ la lối inh ỏi nhiều lời nữa. Lúc đó thì Hương thất hồn bạt vía, hai bên nói qua cãi lại gì đó để phân bua hơn thiệt, nhưng chị hung hăng đòi xông vào nhà. Hương trật thấy chung quanh chị có nhiều người đi theo nữa, không biết từ đâu. Xông vào nhà không được, chị lại chạy qua phía cửa gương bên trái, đám đông chạy theo, tay cầm gậy gộc. Vừa lúc Hương đang hoảng hốt chưa biết đối phó thế nào thì thấy một bóng trắng từ trên trời bay xẹt xuống. Một lát sau thì không còn thấy ai nữa, ngoài sân vắng vẻ như chưa từng xảy ra chuyện gì.
Lắng nghe không bỏ sót chi tiết nào, tôi cũng nghe gai mình. Suy nghĩ về những điều đã đọc trong sách truyện, tôi xác định sự việc này gần như một sự xác tín có thể lý giải, cụ thể rõ ràng về những hành động của người chết, không khác gì người sống. Và tôi có được kết luận, linh hồn những người chết bất đắc thường rất linh hiển, như đang ở cạnh ta. Vì chết quá đột ngột nên cứ tưởng mình còn sống và hành động theo bản năng đang chứa chất nhiều uất khí. Oan hồn khó tan biến, có thể kéo dài đến hàng chục, hàng trăm năm mà không siêu thoát, không đầu thai được. Nếu linh hồn biết giác ngộ, tu tập theo đạo giáo của mình thì lâu năm sẽ trở thành những vị Thánh hoặc thành Tiên như hai Bà Cô họ Trần và họ Dương, mãi mãi ở cõi vĩnh hằng. Qua những sự việc này, có thể là điều mong mỏi được minh chứng sự hiện hữu vô hình của các vị mà thế gian như vô tình ?
Còn những người đúng tuổi chết, chết một cách an lành, hoặc đã biết dọn mình đón nhận cái chết với những ý nguyện tốt lành thì sau khi họ mất, không hề thấy bóng dáng. Có thể trong vòng 49 ngày là họ đã đầu thai.
Cuối cùng tôi cũng muốn tò mò :

“ Như vậy là em có thấy rõ mặt mũi chị Hưng và những người đi theo?”

“ Thấy là thấy lờ mờ, nhưng biết chắc đó là chị Hưng, lời lẽ mắng nhiếc trùng hợp như vậy thì không thể ai khác, những người đi theo cũng chỉ thấy lố nhố những cái bóng mà thôi ”

“ Lúc đó Hương sợ không ? ”

“ Sợ lắm chớ chị ! Sau này, mỗi tối phải lên lầu thắp hương ngoại cảnh, em dợm cơ, nổi gai trong người nhưng biết sai ai. Con em đứa nào cũng sợ không dám lên. Có mấy lần em thắp hết cả bó hương, định bụng vài ngày sau mới thắp lại, và cũng vì lên xuống mỏi chân. Thế là Cô về trách ngay : “Sao lại thắp hương bù ngày này cho ngày khác? Ta bay qua bay lại không thấy hoa quả, chỉ có mấy cây hương...”

Hương giải thích, không phải Cô đòi hỏi, nhưng Cô đã giúp cho đầy đủ, có của ăn của để, thì mình phải dâng cúng phần nào để cô phân phát cho các đệ tử cô hồn. Không phải một mình Hương thờ Cô mà mấy anh em, nhà nào cũng thờ để cầu xin, do đó Cô ở khắp mọi nơi. Không có âm binh làm sao Cô họ Trần biết ngay chị Hưng từ trong Đà Nẳng ra tới Huế giữa lúc nửa đêm, hành hung để giải cứu kịp lúc. Cô đã nói : “ Đất đai nhà cửa thằng Quang có được cũng nhờ tay ta ấn vào khuôn dấu người ta, không phải dễ, cũng vì ta thương con thương cháu ...”
Sợ mấy đứa con Hương không tin, Cô còn bắt hết bốn đứa lên ngồi trên ghế, xong bắt cúi đầu. Khánh, người con trai đầu của Hương dẫn chứng thêm, đã cố ngẩng đầu lên thử, nhưng không thể nào được. Hình như có một sức mạnh nào cứ đè cổ xuống. Cả bốn đứa đều vậy, cúi đầu răm rắp, khoảng một phút là hết, để chứng minh uy lực của Cô. Nhiều chuyện tương tự như thế, khiến tôi cứ ngẩn người như chính mình cũng bị thu hút vào. Đến khi trời gần trưa, hai chị em mới dứt câu chuyện để đi lên mộ ông. Chỉ trong vòng hơn một năm từ ngày Cô nhập mà xảy ra không biết bao nhiêu chuyện kinh dị, cứ tưởng như giả tưởng.

Trông coi nhà thờ bây giờ là vợ chồng người cháu gọi tôi bằng cô. Chào hỏi xong, tôi và Hương ra ngoài thắp hương trên mộ ông, xong vào thắp hương trong điện thờ. Vào trong chánh điện, Hương chỉ ngay cho tôi bức ảnh lớn bằng tấm lịch, treo trên cao :
“ Đây là Bà Cô họ Dương mà em kể với chị ”. Nhìn lên, gương mặt Cô thật trẻ, chưa tới mười lăm tuổi, rất ngây thơ, đôi mắt tinh anh, khoát áo lụa vàng có những dải tua dài bay phất phơ trông thanh thoát như Tiên nữ. Nhìn lâu tự nhiên lại có cảm giác có sự linh thiêng đang ngự trị. Tôi nghe thật sự một cảm giác gai gai sợ sợ, và không dám nhìn ngay bức ảnh nữa. Khi nhìn xuống thì thấy bài vị của Bà Đức Tiên Cung đặt dưới ảnh của Cô, phía bên trái. Ảnh của Đức Tiên Cung nhỏ hơn, khoảng 13x20 mà thôi. Sự việc này khẳng định tuổi tác của Đức Tiên Cung phải nhỏ hơn Bà Cô. Tôi có chuẩn bị mang máy ảnh đi theo, nhưng tự nhiên thấy sợ quá không dám chụp.
Hương đốt cháy bó nhang xong, phân cho tôi một nửa. Hai chị em lần lượt thắp mười mấy bát nhang. Xong lại qua một gian nhà thờ khác nữa, thắp hương đầy đủ. Đứng ở đây nhìn kỹ, mới thấy từng bức ảnh trong nhà thờ này.Tất cả các hình này đều là hình chụp bằng máy ảnh, tức là ở vào thời Pháp thuộc. Khi trở lại bàn thờ Bà Cô, tôi và Hương đứng lâu hơn để xem kỹ. Hình Cô là hình vẽ chứ không phải chụp phim, xác định thời gian Cô mất trước thời Pháp sang. Họa sĩ vẽ bức hình này không phải người tầm thường, vì khuôn mặt trong tranh linh hoạt lạ kỳ, ẩn vẻ huyền bí không giả không thật, không theo một khuôn nét nào như các tranh vẽ Mẹ Maria hoặc Đức Quan Thế Âm ta thường thấy. Y trang màu vàng với những dải lụa phơ phất như đang bay lượn giữa trời. Không khí linh thiêng như tỏa khắp gian nhà thờ, nhìn sang bên cạnh, đã thấy người Hương bắt đầu xoay xoay, chừng một phút rồi thôi.
Trên đường về, tôi trao đổi với Hương :

“ Đây hoàn toàn là sự thật. Cách đây nhiều năm, thỉnh thoảng chị lên đây, hình thờ Bà Cô trẻ như vậy thì làm sao biết đó là ai. Cô mất trên mấy trăm năm rồi, nếu Hương không kể những việc này và không thấy hình ảnh Cô như vậy thì không thể nào tin được sự linh diệu này. Có thể đây cũng là ý muốn của Cô.”
Về đến nhà, Hương nói : “ Còn chuyện em đốt đồ bành nữa. Chị vào ăn cơm trưa em kể chị nghe cho hết luôn”.
Đương nhiên là tôi phải ở lại dù đã nghe nhiều chuyện lắm rồi. Là do Hương thường mua đồ bành ngoài chợ về mặc. Thấy giàu sang, ai cũng tưởng cô mặc hàng hiệu vì người đã đẹp thì mặc gì vào cũng thấy đẹp. Tính Hương không xài sang phung phí, đa số áo quần đều là hàng sol. Một lần Cô về nhập, Hương tự động mở tủ lôi hết áo quần ra, xong lựa từng cái một. Cái nào mua của người chết thì để riêng, dồn lại một mớ, đợi đêm khuya vắng vẻ mang ra sân châm dầu lửa đốt hết. Lúc đó Hương thấy nhiều bóng người từ trên trời bay xuống đứng chung quanh. Khi đốt xong thì thấy họ bay đi. Như vậy ai là người thông tin cho những chủ nhân của mớ áo quần kia để họ biết ngày giờ nơi chốn để đến nhận lại ?
Suy cho cùng, Hương cũng không đủ trình độ để sáng tác hoặc thêm bớt gì trong chuyện này. Điều này củng cố thêm niềm tin cho tôi về những điều tưởng như ma mị.

Tôi cố kiểm tra kỹ :

“ Khi làm vậy Hương không sợ ?”

“ Lúc đó Cô làm chứ phải em làm đâu mà biết sợ. ”

Trước khi chia tay, tôi dặn :

“ Mai chị đi rồi. Khi nào hai Cô nhập vào nữa, nhớ nhắc Cô ghi lại thêm vài bài thơ thử có được không ? Và có sự việc gì lạ nữa thì gọi cho chị biết.’’

Tối về, ngủ không được, tôi cứ thao thức mãi, cố phân tích làm tỏ một số hiện tượng để xác minh lại những điều từng biết. Trước đây nghe nói hồn ma thường ở trên cây cao chót vót, trên mái nhà, lầu thượng ... Tại sao họ lên cao như vậy mà không cần phải leo trèo ? Bây giờ, chính xác câu của Cô họ Trần :“ Ta bay qua bay lại ...”. Tự nhiên đầu tôi như được mở ra, kết hợp với những hiểu biết trong sách báo, cho thấy rõ rằng, qua những thí nghiệm khoa học, phần linh hồn nhẹ như một thể hơi, nhẹ hơn cả không khí. Khi con người trút hết hơi thở, phần hồn nhẹ bổng ấy có dạng thể người, thoát ra khỏi xác bay lên ( theo tài liệu khoa học của các GS Bác sĩ R.B.Hout, Edgar Cayce. Như vậy, linh hồn là một dạng thức nhẹ như sương khói, như hơi nước, có thể di chuyển bất kỳ nơi đâu trong không gian, với một tốc độ siêu việt, nhưng mắt thường không thể thấy được.

Linh hồn tuy vô tướng, nhưng chỉ đối với người trần mắt thịt. Ta không thấy được phần hồn, nhưng linh hồn thấy rõ ta, và hiểu hết những suy nghĩ đang diễn ra trong đầu ta. Phần xác chỉ là phương tiện để phần hồn sai khiến. Do đó mà có những chuyện thật đã xảy ra khi có người gặp ma, họ nghe văng vẳng tiếng nói bên tai. Những hồn này có một năng lượng siêu linh cực mạnh, có khả năng giao tiếp với người sống, mà người sống không có được khả năng xuyên suốt như họ.
Nhà triết học Robert Monroe đã giải thích rằng : “ Có một thế giới khác với thế giới ta đang sống. Thế giới này dường như lồng trong thế giới của chúng ta, hay kề cận sát bên mà ta không biết. Nơi đó có nhiều linh hồn lang thang vô định, họ không có khả năng định hướng, nhất là những người chết oan khiên, bất đắc kỳ tử.”
Và Bác sĩ Mac Dougall đã nói :“ Nếu so với lẽ huyền vi của tạo hóa thì kiến thức của con người còn quá non yếu ...”
Hai thế giới âm và dương tuy “lồng” vào nhau nhưng không ảnh hưởng, không va chạm, không dậm chân hoảng loạn, chỉ ngoại trừ những trường hợp mắc mứu qúa gay gắt giữa người âm với kẻ dương, do sự thương tiếc hoặc thù hận. Thế giới gọi là ma quỷ, thường là những linh hồn vất vưởng, không lên được cõi thiên đường cực lạc, cũng không vào hỏa ngục, do cái chết quá tức tưởi đột ngột, nên thần thức hoang mang không biết mình đã chết, hoặc có thể biết mình chết rồi nhưng quá tiếc nuối thân xác, hoặc do quá oan ức không trả được hận thù, không muốn rời xa người thân thích, còn tham mê luyến ái dục vọng không muốn hóa thân. Lại không biết giác ngộ lẽ sống chết vô thường, không tiếp thu kinh kệ để chánh pháp dẫn dắt, nên khó lòng siêu thoát. Tình trạng lơ lửng này kéo dài có khi cả ngàn năm. Những linh hồn nặng oán thù sân hận, hoặc có tâm địa xấu xa, thì phải ở mãi cảnh ta bà, nhiều khi hiện thành những hình dạng ghê rợn mà ta gọi là quỷ sứ để dọa người. Có khi hóa thành rắn rít, thú dữ.
Còn những người mà kiếp trước là những hiền nhân, có tâm tu hoặc căn tu, nếu kiếp này họ bị chết bất đắc, linh hồn họ có thể sớm nhận ra thân phận, biết giác ngộ tìm chánh đạo, quy y vào cửa Phật, thì dù họ không vào địa ngục, nhưng vẫn được làm đệ tử theo hầu chư Phật, họ sẽ ở cõi trời Đao Lợi. Sau một thời gian tu luyện, họ sẽ thành Tiên thành Thánh, sớm hay muộn là do mức độ của nghiệp lực.
Có lẽ vì thế mà hai Bà Cô và những con cháu đệ tử rất lưu tâm đến việc ăn chay, tỉnh tâm nhập định và phò trợ cho thân thích bà con, dù đang ở cõi âm hay cõi dương. Tuy vậy, Tiên Thánh hay ma quỷ, hình ảnh xuất hiện thường không rõ ràng, mờ mờ ảo ảo, rung động như hình trong mặt nước. Sự đi lại không phải bằng hai chân vì hồn tuy có hình tướng nhưng không hiện hình rõ ràng, ở thể nhẹ, nên lướt bay như trôi như nổi giữa không trung, biết hết mọi việc ở khắp mọi nơi. Như hồn chị dâu của Hương, khi bị Bà Cô họ Trần quở trách, đã từ Đà Nẳng bay ra Huế giữa đêm hôm khuya khoắt cùng đám âm binh để gây gỗ cho hả tức. Họ đi bằng gì mà mau hơn ánh chớp ? Và họ thấy nhau, gặp nhau, thông tin liên lạc còn nhanh hơn điện tử ? Bây giờ thì tôi đã khá rõ về mọi chuyển động của phần hồn, không còn nghi nghi ngờ ngờ điều đã biết như trước kia, đã hiểu và tin những điều đã tìm hiểu trong sách vở, về những thí nghiệm khoa học khi con người xuất hồn trút hơi thở cuối cùng.
Hình ảnh Bà Cô họ Dương như bay như lượn trong bức hình thờ ám ảnh tôi không ít, cảm giác như đó là vị Linh Thánh, và cũng có thể Người đang lắng tai lắng mắt nhìn tôi và Hương, xem chúng tôi đang và sẽ làm gì.

Tỏ tường được một số hiện tượng của thế giới tâm linh, người viết bài này đã chân thành khấn xin, được sự hoan hỉ, mới yên tâm cầm bút. Đây cũng là duyên trời để có thể minh chứng ít nhiều sự huyền nhiệm của thế giới tưởng rằng u minh, nhưng lại là chốn vĩnh cửu, còn thế giới hiện hữu của chúng ta chỉ là cõi tạm.Vì vậy, một cuộc sống đạo đức hướng thiện là rất cần thiết. Lòng mong mỏi sẽ chuyển hướng mọi tư duy về lẽ sống chết để có một đời sống tốt lành hơn. Và biết dọn mình trước giờ phút đối mặt với tử sinh.













© tải đăng ngày 02.05.2009 trên Newvietart.com theo nguyên bản của tác giả gởi từ Nha Trang