VẤN ĐỀ CON NGƯỜI
trong tiểu thuyết Giời cao đất dày
của Bùi Thanh Minh



NGUYỄN HỮU QÚY


Thuộc thế hệ nhà văn 5X, đã trải qua chiến tranh, Bùi Thanh Minh có một độ dày sáng tác tuy không đồ sộ nhưng cũng đáng kể với 5 tập truyện ngắn (Kể về một mối tình, Quà bất tử, Trên bến sông Trà, Đêm nổi bão, Biển cạn) và 3 tiểu thuyết (Bên sông Trà Lý, Cõi đời hư thực, Giời cao đất dày). Tiểu thuyết của Bùi Thanh Minh tuy chưa tạo được sóng dư luận nhưng vẫn được người đọc quan tâm bởi những vấn đề nóng của xã hội phản ánh trong đó. Bên sông Trà Lý viết về điểm nóng nông thôn ở tỉnh Thái Bình, Cõi đời hư thực xoáy sâu vào thân phận, cảnh ngộ người lính sau cuộc chiến tranh chống Mỹ; họ không thoát ra khỏi dư ảnh của một thời hào hùng đã qua. Đến Giời cao đất dày thì Bùi Thanh Minh lại dấn sâu vào vấn đề con người bất hạnh đơn côi với những bi kịch éo le của nó. Sau những dập vùi lăn lốc, những thâm thù, căm giận, bi quan những số phận quá ảm đạm hẩm hiu ấy vẫn trỗi dậy khát vọng sống chan hoà, bình yên với đồng loại.

1.Con người bất hạnh, đau khổ, cô đơn.

Đi suốt cuốn tiểu thuyết dày chưa tới 250 trang này là nhân vật Thuần, một người sinh ra ở làng Bùi. Nguyên do của bao nỗi khổ đau mà Thuần phải hứng chịu trong cuộc đời anh xuất phát từ những sai lầm kinh khủng của cuộc cải cách ruộng đất. Ông Ro, bố của Thuần, bí thư chi bộ thoát chết trong cuộc xử tử của giặc Pháp (nhờ dân chở che) mà bị gục ngã bởi những viên đạn của du kích trong cải cách ruộng đất. Kẻ ký quyết định xử bắn người đảng viên cộng sản kiên trung ấy chính là Ông Đội. Cả đời Thuần không thể nào quên được ngày cha bị mang ra bắn. Hôm đó trời mùa thu ảm đạm như có tang. Biển sáng, mười ba con nước nên cạn, bãi cồn trơ ra như mu con rùa khổng lồ nằm phủ phục vào làng. Dân làng Bùi bị dồn ra bãi. Người ta trói hai tay cha Thuần ra sau lưng, lại còn cuốn mấy vòng dây thừng ngang người…Hai người, một đàn ông, một đàn bà, mỗi người cầm một khẩu súng trường đứng chéo hai bên. Ông chánh án hô: “Bắn!”. Hai phát súng nổ, Thuần cảm thấy như tim mình bị vỡ toang. Mẹ Thuần vật ra chết ngất, chị Hương hét lên như tiếng kêu của một quả chuông bị đứt dây rớt xuống rồi cũng nghẹo đầu gục theo. Thuần nhìn rõ ngực cha bị thủng, máu phọt ra thành tia…Cảnh thảm thương ấy là nỗi ám ảnh suốt đời của Thuần và đó là sự bắt đầu tăm tối của một kiếp người bất hạnh, đau khổ, cô đơn với bao nhiêu bi kịch chồng chất lên nhau, dìm anh xuống đáy xã hội. Tưởng rằng, chuyện này chỉ có trong thời thực dân phong kiến xa lắc xa lơ nào đó; Thuần là người sống cùng anh Pha (Bước đường cùng - Nguyễn Công Hoan) chị Dậu (Tắt đèn – Ngô Tất Tố) nào ngờ nó xảy ra trong chế độ ta. Mới hay, cái ác tồn tại trong nhiều chế độ xã hội loài người và nó càng có cơ hội hoành hành cùng sự cuồng tín, ngu dốt, mông muội. Khát vọng dựng xây chế độ mới độc lập - tự do - hạnh phúc sẽ khó trở thành hiện thực tốt đẹp khi quyền lãnh đạo rơi vào tay những kẻ như ông Đội, cô Bi ở làng Bùi thuở ấy. Chuyện xưa, nhưng những bài học của nó vẫn còn nguyên giá trị; lý tưởng cách mạng phải được tổ chức thực hiện bằng sự dẫn dắt của ánh sáng trí tuệ.

Trở lại câu chuyện của Thuần. Khốn khổ thay số phận của anh, cha chết chưa đầy bốn chín ngày thì chị gái bị người ta hiếp rồi bóp cổ chết, xác chị Hương nằm tênh hênh bên gốc mít nhã nhượi, trên người nhiều vết xước tím bầm và sau những biến cố khủng khiếp thì mẹ ốm, ốm rất nặng nhưng cả làng không ai dám đến thăm và chưa kịp cúng một trăm ngày cha thì mẹ chết, năm ấyThuần vừa tròn mười lăm tuổi. Làng Bùi mà Thuần đang sống trở thành địa ngục trần gian do cô Bi làm chủ tịch do kết quả của một cuộc bỏ phiếu bằng vỏ ốc ao do Đội cải cách tổ chức; cậu bé vị thành niên ấy đi đâu cũng bị người ta xa lánh, nhìn bằng con mắt ghẻ lạnh ghê tởm…

Bỏ làng đi, Thuần vẫn không thoát được kiếp nạn khổ đau. Bị cướp bắt sống. Lang thang đầu đường xó chợ làm thuê. Đi bốc mả. Lấy Gấm (cha mắc bệnh hủi đã mất mẹ cũng không còn) được ba năm thì vợ chết do thai ngược. Anh mắc bệnh hủi, được gọi là nan y thời đó. Sau năm năm đi chữa bệnh, bị cụt mất 5 ngón tay, 4 ngón chân và một vành tai, Thuần quyết định về quê tìm bằng được ông Đội, cô Bi để rửa tội cho cha. Dựng lều sống trên bãi cạn. Đói. Khát. Móc trộm khoai hợp tác xã. Đan thúng mủng rổ rá ra chợ bán nhưng không ai mua đồ của người hủi. Gặp gỡ và quen Sa, một cô gái câm và trở thành chồng vợ của nhau. Đứa con ra đời, một cái mầm tí xíu nhú lên khiến Thuần mỉm cười. Tưởng hạnh phúc đã đến với mình, nào ngờ, giời cao đất dày vẫn chưa buông tha vợ chồng anh; vòi rồng phá tan hoang ngôi lều và cướp đi đứa con trai hai tuổi của họ. Thuần và Sa, hai con người khốn khổ ấy tựa vào nhau, nén nỗi đau làm lại cuộc sống thế mà vẫn chưa được “quê hương” buông tha. Ngôi nhà vừa trở lại không khí yên bình được vài tuần, thì một buổi sáng bỗng đâu từ cánh đồng ven đê phía trong làng vang lên tiếng loa pin: - A lô! A lô! Thông báo cho gia đình thằng hủi biết trong vòng ba ngày gia đình thằng hủi phải chuyển đi nơi khác để đồng bào đắp lại đoạn đê bị vòi rồng phá vỡ. Nếu không đi sẽ bị thiêu huỷ toàn bộ…

Dường như tất cả bất hạnh của con người đã dồn hết vào Thuần. Mồ côi. Bệnh tật. Mất con. Đồng loại xa lánh xua đuổi. Cô đơn ngay tại chính quê hương nơi mà cha mình đã từng chiến đấu để dành lại độc lập tự do. Trong những bất hạnh ấy thì bị đồng loại xa lánh và cô đơn giữa quê hương là bất hạnh lớn nhất của con người.

Thuần và cả những người như Gấm, như Sa nữa đều thấm thía nỗi đau khổ này. Thuần tủi quá, phận của Thuần sao mà bạc bẽo. Thuần muốn sống, muốn hoà nhập với cộng đồng mà cũng không được…Không thể không thương cảm và chia sẻ với sự cô đơn của Thuần. Thuần thèm được nói, được cười, được giao tiếp với mọi người, thèm đến nỗi, có hôm nghe người ta hát Thuần bỗng hét to lên, phả hơi ra, co kéo cái miệng cho đã. Rồi như để thử xem mình còn nói chuẩn tiếng người không, Thuần vừa hét, vừa nói, nói rất to một hồi. Hét và nói được thành tiếng rồi Thuần thấy hả lắm, sướng lắm.

2. Con người với khát vọng sống an hoà, yêu thương, độ lượng.

Mặc dầu bi kịch cuộc đời Thuần được bắt đầu từ những sai lầm của cải cách ruộng đất mà câu hỏi Ông Đội là ai? ở đâu đến? Làm sao chỉ có vài người mà làm đảo lộn cả làng Bùi vốn dĩ đã cố kết hàng trăm năm, đã bao phen giặc giã, thiên tai cũng không thể làm tan nát? làm nhức nhối bức xúc người đọc nhưng tôi nghĩ Giời cao đất dày của Bùi Thanh Minh không phải là dạng tiểu thuyết xét lại quá khứ. Từ một làng Bùi đồng bãi lấm láp kéo dài suốt nửa thế kỷ qua những thăng trầm biến cố của lịch sử chiến tranh – hoà bình – bao cấp - đổi mới, tác giả muốn đề cập tới vần đề lớn hơn: quyền sống của con người. Đó là quyền được tôn trọng, được yêu thương, được bình đẳng, được mưu cầu hạnh phúc. Những con người như Thuần, Gấm, Sa mang trong mình khát vọng được sống như thế. Dù họ là những con người không may mắn, bị liên luỵ bởi gia đình, bệnh tật nhưng ước mơ sống an hoà, yêu thương và độ lượng vẫn chưa bao giờ mất đi. Chưa bao giờ mất đi cả những ước mơ bình dị đó. Bao nhiêu bão tố giông gió dội xuống cuộc đời, nhưng Thuần không chịu buông xuôi, anh nghĩ Gì rồi cũng phải sống, có sống mới làm lại được bao nhiêu cái tiếp theo.

Hình ảnh chiếc diều với tiếng sáo kêu xa…xa…xa là biểu tượng của khát vọng sống tự do, chan hoà giữa thiên nhiên và con người của Thuần. Chiếc diều sáo mang thông điệp của con người đau khổ là hình ảnh để lại nhiều cảm xúc cho bạn đọc. Thuần từ từ thả dây cho đến khi chiếc diều đậu tới giưã làng thì ghìm lại, dong dây về cột lại bên lều và chạy ra đê nghe ngóng. Trời tối Thuần không còn nhìn thấy diều nữa, nhưng tiếng sáo diều thì rõ mồn một. Tiếng sáo vang lên trong đêm âm vực “sa …sa…sa” vừa tha thiết, vừa xót xa. Tiếng sáo loang ra, ngân vang dội từ trên không trung xuống làng Bùi, lan toả khắp góc cùng ngõ hẻm, lan vào từng căn nhà góc chợ…đâu đâu cũng âm vang tiếng Thuần.

Khát vọng sống đã giúp Thuần vượt lên được cảnh ngộ éo le của mình, dù có thất vọng bi quan nhưng không sụp đổ, không hèn nhát đầu hàng và điều đáng nói hơn là anh đã ngộ ra một điều rất căn bản của cuộc sống là không nên lấy oán trả oán mà phải biết độ lượng tha thứ cho lỗi lầm của người khác. Ứng xử với con người hay thiên nhiên cũng đều phải như vậy cả. Sự độ lượng mang lại an hoà cho xã hội, lòng yêu thương đem tới tươi vui cho cuộc sống, tính thiện sẽ cải hoán được cái ác. Nếu lấy thù trả thù thì tới bao giờ con người mới thoát ra được vòng thù hận, máu sẽ chồng lên máu, xương sẽ chất lên xương mà thôi. Ở đời nhiều khi cũng thế thật, sự ngu dốt thường dẫn đến nhầm lẫn, nhầm lẫn trở thành kẻ ác. Kẻ cố ý giết người và kẻ nhầm lẫn, hoặc sơ ý mà giết người khác nhau hoàn toàn. Kẻ nhầm lẫn, hoặc sơ ý có thể tha thứ được, nếu tha thứ được là tốt nhất, bởi vì tha thứ chính là cách trả thù của người chính nhân. Nếu như Thuần không tha thứ con quái vật thì làm sao có một con quái vật hiền lành như bây giờ. Giết người suy cho cùng chỉ là cách giải toả lòng hận thù của mình mà thôi, mà nếu cần giải toả thì còn nhiều cách khác không phải giết người.

Theo tôi, đấy là thông điệp mà nhà văn Bùi Thanh Minh muốn gửi đến mọi người qua tiểu thuyết Giời cao đất dày này.

3.Vài nét về nghệ thuật trong tiểu thuyết Giời cao đất dày.

Đề cao tính thiện, lấy thiện để cảm hoá ác không phải là vấn đề mới mẻ trong văn học nghệ thuật.Tuy nhiên, điều người đọc quan tâm hơn là những vấn đề ấy được thể hiện như thế nào qua hệ thống nhân vật, qua các chi tiết hình ảnh và qua ngôn ngữ cùng cấu trúc của tiểu thuyết này.

Giời cao đất dày của Bùi Thanh Minh nhìn chung không lạ về mặt hình thức. Tổng thể vẫn là kiểu tiểu thuyết hiện thực, phản ánh cuộc sống đã qua và hiện tại trong cảm nhận trực quan của người cầm bút. Tuy tác giả cũng cố ý huyền ảo hoá một đôi chỗ như hình ảnh con quái vật thoát thai từ kẻ ác sau đó trở lại hiền lương nhờ sự cảm hoá của Thuần hay cảnh xử bắn cha Thuần được hiện lên nhiều lần ở nghĩa địa. Bấy nhiêu chưa đủ để xem tiểu thuyết Giời cao đất dày của anh là hiện thực huyền ảo.

Với lối viết truyền thống, Giời cao đất dày của Bùi Thanh Minh có cốt truyện rõ ràng, số nhân vật ít và không gian hẹp (chủ yếu ở làng Bùi) nên mạch chuyện triển khai khá mạch lạc và đơn giản. Cần chú ý tới những dạng nhân vật mang tính tập thể như Ông Đội hay dân làng Bùi. Không có một nhân vật ông Đội cụ thể như mụ Bi nhưng hình như mọi tai ách đổ lên đầu Thuần lại xuất phát từ đó. Ông Đội là một dạng người đầy quyền uy trong cải cách ruộng đất mà khi nhắc tới người nông dân thời ấy và chúng ta bây giờ còn phải kinh hoàng ghê tởm. Còn dân làng Bùi là một dạng nhân vật tập thể khác mang trong nó sự cuồng tín mông muội, hèn nhát, sợ hãi bởi do tuyên truyền, chế áp của những thế lực như ông Đội. Nhân vật ông Đội không được nhắc tới nhiều (chỉ thoáng qua) nhưng hình bóng của nó, cái xấu của nó cứ thấp thoáng trong suốt cuốn tiểu thuyết qua nhân vật Bi (sau này thành chủ tịch xã) và là nỗi ám ảnh của một đời người, của một vùng quê. Sai lầm trong cải cách ruộng đất đã sinh ra hệ quả xấu, rất xấu mà những con người như ông Đội, mụ Bi với sự cực đoan, dâm ác, vô học chính là sản phẩm của nó. Vết thương của quá khứ để lại cho dân tộc, cho cách mạng những bài học bằng máu.

Thuần và Sa là hai nhân vật được tác giả dày công vun đắp chăm chút nhưng còn thiếu một cái gì đó để họ bước vào đời như những tính cách điển hình ám ảnh. Nó chưa có cái riêng độc đáo để tạo ấn tượng sâu sắc với người đọc. Khép lại tiểu thuyết người ta mới nhớ đến họ như những con người bất hạnh mà thôi. Tuy vậy, còn có tiếng sáo diều của Thuần lưu lại những dư âm thiết tha, xót buốt trong lòng đọc giả và có những đoạn tả sinh động về cuộc sống của những con còng, con cua, con nhệch, con rùa ở vùng biển cạn để bù lại những thiếu hụt tôi đã nói ở trên.

Một nhà văn nói với tôi: Vấn đề, đấy là điểm mạnh của tiểu thuyết Bùi Thanh Minh. Tôi đồng ý với nhận xét ấy; từ Bên sông Trà Lý, đến Cõi đời hư thực và nay Giời cao đất dày đã chứng minh điều đó.


Tháng Giêng Kỷ Sửu 2009


© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 17.03.2009 theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội.