Một Cách Tiếp Cận Đề Tài Chiến Tranh


trong tiểu thuyết “Cõi Đời Hư Thực” *



TÔ NHUẦN



Cũng đã rất lâu rồi, nay mới lại được đọc một cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh theo một cách viết lạ, lớp người trải qua chiến tranh đọc cũng được, mà lớp trẻ không biết chiến tranh đọc cũng được. Nói cho đúng thì góc nhìn chiến tranh trong “ Cõi đời hư thực” là góc nhìn của hai thế hệ: thế hệ từng cầm súng đổ máu trong cuộc chiến và thế hệ hưởng thành quả sau hoà bình lập lại. Lại nữa, chiến tranh trong “ Cõi đời hư thực” là hệ quả của chiến tranh, là cái đằng sau cảnh đầu rơi máu chảy, cảnh bom rơi đạn nổ, chiến tranh được nhìn bằng hệ qui chiếu: “ Đất nước đã kết thúc chiến tranh, nhưng gia đình chị cuộc chiến tranh mới lại bắt đầu”. Câu chuyện xảy ra trong một gia đình ở bối cảnh những năm thập niên 90 của thế kỷ trước- nghĩa là đã sau 20 năm chiến tranh kết thúc, mà hiện lên cả một cuộc chiến tranh tàn khốc, đẫm máu, bằng cách nhìn của những người trong cuộc và không trong cuộc: Anh Củng- một sỹ quan cấp cao, một anh hùng quân đội, người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu trong kháng chiến chống Mỹ; chị Mạ, vợ anh Củng, người ở hậu phương chịu đựng hệ quả từ cuộc chiến, con gái Củng và Mạ là cô kỹ sư trẻ tên Quế-đại diện cho thế hệ trẻ; bên cạnh còn có nhân vật Bằng- một phụ nữ cũng trạc tuổi với Mạ nhưng lại tham gia chiến đấu ngoài mặt trận và là người chịu thiệt thòi nhất do chiến tranh gây ra. Câu chuyện thực ra chỉ xoay quanh cái gia đình nhỏ bé, hai thế hệ để giải quyết một việc mà chiến tranh để lại: Căn bệnh quái gở của anh Củng, nhưng đọc nó lại thấy cả một cuộc chiến tranh kinh dị và ác liệt, mà những tác phẩm văn học viết về chiến tranh ít đề cập đến.

Hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc ở chiến trường, anh Củng trở về quê làm huyện đội trưởng. Tại đây anh mắc căn bệnh hiểm nghèo do vết thương ở chiến trường để lại: Một khối u lành ở nền não. Khối u không làm chết người ngay được, nhưng mỗi khi nó chèn vào bộ phận nào thì bộ phận ấy rối loạn. Cùng với căn bệnh thực thể ấy, anh Củng còn mắc một căn bệnh trầm kha hơn: “ Thường thì mỗi tối mẹ con tao phải thay nhau kể một câu chuyện gì đó về quá khứ của anh ấy.Suôi sẻ thì không sao. Nhưng nếu không may kể sai, hoặc vô lý chỗ nào, lập tức mắt anh ấy trợn ngược, miệng quát: “ Vô lý, vô lý!” hoặc “ á , mày bôi nhọ quá khứ của bố hả”?. Rồi bổ vào người để bóp cổ, đánh đập, lột xé tanh bành bất biết là ai”.

Bệnh gì thật là kỳ quái. Chuyện người khác không nghe. Chuyện đương đại cũng không nghe. Chỉ nghe đúng chuyện của mình và phải là chuyện vinh quang của quá khứ. Nếu mỗi ngày anh Củng không được nghe là lên cơn động kinh. Thế là mẹ con chị Mạ phải đi sưu tầm chuyện để về “ chữa bệnh”. Sưu tầm mãi cũng hết, một hôm cô con gái phát hiện ra chín tập nhật ký của bố viết toàn chuyện chiến trường, họ như vớ được bài thuốc quí. Cũng từ những bài “ thuốc quí ” này mà chiến trường ác liệt được tái hiện lại như một bộ phim để cho hai thế hệ cùng chiêm ngưỡng, suy nghĩ, dày vò, phán xét theo cách cảm của từng thế hệ. Cũng từ những bài “ thuốc quí” chiến tranh mà mâu thuẫn giữa vợ với chồng, giữa cha với con, mẹ với con, bạn bè…sinh ra. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết là để giải quyết cái mâu thuẫn đó, cũng chính là giải quyết mẫu thuẫn cách nhìn, cách cảm, cách lý giải chiến tranh của hai thế hệ. Và thành công của “ Cõi đời hư thực” là hai thế hệ cùng thẳng thật nhìn vào sự thật trần truị của chiến tranh để mổ sẻ, phân tích, lý giải để rồi tìm ra câu trả lời đúng nhất.

Cuộc chiến tranh thực sự diễn ra trong gia đình nhỏ bé này khi đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Cuộc chiến tranh trong gia đình chị Mạ còn ác liệt và căng thẳng không kém cuộc chiến tranh cầm súng nổ vào đầu thù, bởi nó âm ỉ, giằng xé, gậm nhấm làm huỷ hoại hạnh phúc, trong khi cả làng, cả nước không ai còn biết đến chiến tranh.

Một buổi sáng rét buốt, anh Củng lên cơn lôi tất cả vợ, con và bố vợ đã hơn 70 tuổi ra sân tập thể dục, hô khẩu hiệu và nhận xét buổi tập. Để chữa bệnh cho chồng, chị Mạ lại lôi nhật ký ra đọc. Nhưng đến một ngày nọ, bài thuốc “ vinh quang của quá khứ” không còn hiệu nghiệm nữa- nhờn kháng sinh, mẹ con chị Mạ vớ được cuốn kinh thánh cựu ước ra đọc lại thấy cỏ vẻ có tác dụng, rồi lại nhờn kháng sinh, chị Mạ buộc lấy cuốn kinh Phật. Rồi đến khi tất cả đều vô tác dụng, trong lúc bố lên cơn động kinh, Quế không còn gì để đọc cho bố nghe nữa đành chạy về phòng mình lấy đại một cuốn sách ra chữa bệnh cho bố. Rất may đó là một cuốn thơ, lời thơ: “ Cõi người là cõi người ơi/ Ta theo tắng tóc đuối lời mênh mông” vừa cất lên, lạ thay căn bệnh động kinh của anh Củng dần dần dịu lại.Thế là cái còn lại của anh Củng, cái để chữa được bệnh cho anh Củng không phải là thuốc tây, thuốc ta, hoặc quá khứ vinh quang nữa, mà là thơ ca.

Bên cạnh anh Củng là chị Mạ. Chị Mạ đại diện cho những người phụ nữ : “ Gái đảm hậu phương” thay chồng đi chiến đấu. Xưa nay người ta chỉ biết chiến tranh ác liệt ở nơi chiến trường, có ai biết cuộc chiến tranh trong lòng những người đàn bà ở hậu phương miền Bắc? ở “ Cõi đời hư thực” cuộc chiến được miêu tả khá khốc liệt ở nơi hậu phương, ở nơi những người phụ nữ không kém gì ngoài mặt trận. “ Suốt đời chị cặm cụi, gồng lên chống chọi với cái đói, cái rét, cái cô đơn, và lúc nào cũng sẵn sàng chờ đợi tin sét đánh có thể sảy ra”. Người cầm súng lao trực diện vào cái chết có khi đỡ khổ vì chỉ có một việc “ quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, nhưng người ở phía sau có khi còn khổ hơn vì lo nghĩ, vì gánh nặng mà người đã ra đi trao lại: “Trong làng, thỉnh thoảng xã lại báo tử một người. Những lần ấy mẹ không di dự, ở nhà vào buồng lấy một cái kim chích vào đầu ngón tay, nặn ra một giọt máu chấm vào cái áo gối cưới của bố và mẹ. Cái áo gối dày chi chít những chấm máu”… “ Có lần đang bữa ăn, mẹ buông đũa đứng dậy xuống bếp ngồi đun cám. Chờ mãi không thấy mẹ lên, ông nội xuống thấy mẹ ngồi khóc. Sau này Quế mới biết, đó là những lần loa truyền thanh của xã đưa tin ngoài mặt trận quân ta tiêu diệt hàng trăm tên địch. Mẹ bảo, diệt được địch làm sao mà phía ta không hy sinh? Trong số đó cũng có thể là bố. Có đêm, đang ngủ tỉnh dậy quờ trên giừơng không thấy mẹ, Quế lồm cồm bò dậy, ra cửa thấy mẹ ngồi ngoài thềm gục đầu xuống gối khóc âm ỉ”.

Hậu phương miền Bắc thời đó vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương, một hậu phương đói nghèo mà phải gồng mình lên vì tiền tuyến: “Chị Mạ nhớ lại, cái ngày chồng chị đi xa, chị làm dâu mới ở nhà chồng, đối xứ nhà chồng không khổ, mà khổ chính vì cái đói. Cả làng, cả nước đều đói. Ra đường nhìn ai cũng thấy đôi mắt thao láo thèm cơm. Ruộng đất nhiều, nhưng bông lúa dựng đứng như bông cỏ may, cho ít hạt thóc quá. Lại mỗi hạt thóc phải chia năm xẻ bảy. Sức gái mười bảy bẻ gãy sững trâu như chị mà mỗi bữa được hai lưng bát khoai lang làm sao chịu nổi. Bê nồi cơm lên, mở vung ra, lọc mãi được hai xum xủm bát cơn dành cho bố mẹ chồng. Còn lại khoai lang, chia nhau mỗi người hai lưng bát. ăn xong phải uống thêm vài bát nước rau muống luộc cho bụng đỡ èo ọc, khó chịu. Cả làng bòn mót bất cứ thứ gì có thể ăn được. Ngọn khoai lang, rễ rau má, đến cả củ chuối già rồi cũng hết. Bắt chước người ta, chị tuốt cả lá điền thanh, một thứ cây làm phân xanh đem về vò kỹ cho đỡ cứng để nấu canh ăn độn thêm. Có đêm đói quá, bụng réo không ngủ được, chị mò dưới gầm giường tìm khoai lang ăn sống. Tìm phải củ khoai thối nhão nhoét như cứt mèo. Chùi tay rờ rẫm được củ thứ hai, đưa lên miệnh gặm lại phải củ khoai hà”.

Cũng là đàn bà, nhưng chị Bằng chịu nỗi khổ của chiến tranh ở một khía cạnh khác. Bằng vào Trường Sơn chiến đấu, rồi có chồng, có con. Sau đó chồng chị chết trên đường hành quân ra Bắc. Trên ba lô của chồng là đứa con yêu tay vẫn cầm cành lá cười toe toét. Thế rồi hết chiến tranh, Bằng trở về hậu phương. Chị phải sống những ngày cô đơn, buồn hận không biết đứa con yêu sinh ra từ nơi bão lửa bây giờ lưu lạc phương nào?

Nhân vật Quế, được tác giả miêu tả khá đầy đặn. Với cái nhìn của thế hệ trẻ đối với chiến tranh, tác giả đưa chúng ta hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác bởi hậu quả của lối giáo dục lịch sử chỉ có màu hồng, không đúng với sự thật trần trụi của nó. Người đọc giật mình và cảm thấy như có tiếng chuông báo động về phương pháp giáo dục, nhất là giáo dục truyền thống.Ta hãy đọc một đoạn suy nghĩ của Bắc( người yêu Quế): “ Chưa bao giờ Bắc được nghe về chiều tối khuất của chiến tranh. Đọc trong sách báo, nghe trên đài, nghe các dũng sỹ kể chuyện Bắc hiểu chiến tranh như một cuộc du ngoạn ly kỳ, thú vị. Bươn chải kiếm tiền, lập nghiệp Bắc thấy nhọc nhằn tù túng, nên có lúc ao ước chiến tranh xảy ra lần nữa, để Bắc được bay xa, được du ngoạn, được xả thân cho thoả chí làm trai. Bắc đâu có biết chiến tranh còn có đau xót như câu chuyện trong nhật ký bác Củng”.

Mọi mâu thuẫn của gia đình, của hai thế hệ cũng đã được giải quyết một cách lô gích. Người cha thì: “ Con sinh ra và lớn lên không bình thường như những đứa trẻ khác. Những thiệt thòi vô cùng to lớn mà con phải chịu đựng, chính là do chiến tranh gây ra. Chiến tranh đồng nghĩa với tội ác. Vì vậy con hoàn toàn xứng đáng được hưởng hạnh phúc”, hoặc: “ Bây giờ tôi đã hiểu, tôi đã lầm. Con gái của chúng ta hiểu và biết ơn thế hệ cha anh bằng cách riêng của thế hệ chúng”. Còn đây là tiếng nói của thế hệ sau: “Cha ơi, con có lỗi với cha nhiều lắm. Lẽ ra con cần phải hiểu cha, hiểu thế hệ của cha đã phải khổ cực thế nào chỉ để cho con, thế hệ con được hạnh phúc. Vậy mà con cứ thờ ơ, vô tư, coi việc hưởng thụ là đương nhiên, để cha phải đau xót. Con, thế hệ con đòi hỏi ở cha, thế hệ cha nhiều quá, trong khi chiến tranh đã vắt kiệt tâm sức của cha. Thái độ vô trách nhiệm, đòi hỏi là bất hiếu phải không cha?Một đứa con bất hiếu với cha mẹ là bất hiếu với tổ quốc- Lời cha dặn con xin ghi nhớ”.

Làm nền tư tưởng cho cuốn tiểu thuyết, ta thấy xuyên suốt cuốn sách là triết lý phật giáo và thiên chúa giáo.Hai hệ tư tưởng trên được lồng ghép, cài đặt khá nhuần nhuyễn, nhằm lý giải mọi hiện tượng và sự kiện xảy ra, đồng thời hướng con người ta đến cái thiện. Viết về chiến tranh, nếu không có một hệ tư tưởng nhân văn thực sự thì không thể hướng con người đến cái thiện đạt đến tầm độ lượng mà chỉ gây cho người đọc lòng hận thù giai cấp, hoặc dân tộc. Cuốn sách đã vượt lên cái tầm đó nên ý nghĩa nhân văn thấm đượm tác phẩm. Tác giả đem triết lý phật giáo lý giải chiến tranh và cuộc sống rất nhuần nhuyễn: “Hiện pháp lạc trú không cho phép ta kẹt vào quá khứ. Phấn đấu xây dựng nhà mới to đẹp, đàng hoàng, ấy là Hiện pháp lạc trú. Trước ngày ra trận lo thất bại, thao thức cả đêm, mất ngủ ấy là kẹt vào tương lai. Bình tĩnh sáng suốt bước vào trận đánh, ấy là Hiện pháp lạc trú”.

“Cõi đời hư thực” viết về chiến tranh nhưng thế hệ trẻ ngày nay đọc nó lại thấy chính mình, chính vì vậy mà dễ đọc, dễ cảm.

Gấp cuốn sách lại, trong đầu lại diễn ra cuộc vật lộn bởi một cuộc chiến tranh mới, đó là thành công của “ Cõi đời hư thực”.


__________________________________________________________


* Tiểu thuyết “ Cõi Đời Hư Thực”, của nhà văn Bùi Thanh Minh- NXB Quân Đội Nhân dân - 2008.

Tháng 7 năm 2008


TÔ NHUẦN