ĐOẢN THIÊN



THANH NHUNG


NHỊP ĐIỆU

THƯ VỀ
THÀNH PHỐ BIỂN






Thanh Nhung là bút hiệu của bà Công Huyền Tôn Nữ Nha Trang.
Thuộc dòng dõi vua Minh Mạng và ông hoàng thi sĩ Tuy Lý Vương,Thanh Nhung sinh ra ở Nha Trang, là con đầu lòng của nhà văn nhà thơ quá cố B. D. Ái Mỹ và nữ sĩ Tâm Tấn (bà cũng có hai bút hiệu khác là Trinh Nữ và Trinh Tiên).
Thanh Nhung bắt đầu làm thơ một vài năm trước khi xuất hiện lần đầu tiên trên tạp chí Phổ Thông năm 1958, và tiếp tục đăng thơ trên báo nầy cho đến năm 1965. Trong khi du học tại Nhật vào những năm đầu thập niên 60, Thanh Nhung giữ liên hệ với Tao Ðàn Bạch Nga do thi sĩ Nguyễn Vỹ chủ xướng. Ngoài ra, Thanh Nhung có mặt trong hai tuyển tập: Tiếng Thơ Miền Trung với Cao Hoành Nhân và các bạn, Hoa Mười Phương với Ðịnh Giang và các bạn, cùng xuất bản năm 1959.
Trong các thập niên kế tiếp, Thanh Nhung đăng thơ rải rác trong các tạp chí ở hải ngoại.


TÁC PHẨM
CHÍNH ĐÃ XUẤT BẢN

SÁCH, TRUYỆN :
. The Moon of Hoa Binh - 1994.
. Folk Narratives from Vietnam - 1985.
. More Folk Narratives from Vietnam - 1985.
. Favourite Stories from Vietnam - 1978 & 1979.
. Vietnamese Folklore - 1970.

THƠ :
Phần lớn với bút hiệu Thanh Nhung

. Tiếng Thơ Miền Trung - 1959.
. Hoa Mười Phương - 1959


Thanh Nhung giảng dậy tại nhiều trường Đại Học tại Hoa Kỳ, Nhật, Mã Lai...
Hiện đảm trách chức vụ Phó Viện Trưởng một Viện Đại Học tại Thái Lan.













 




NHỊP ĐIỆU



THANH NHUNG




Về Mây :

Lên cao lên cao vút và hạ thấp xuống nhìn bóng mình in rõ trên đồng khô cỏ cháy hay phản chiếu trong lòng sông. Bâng khuâng nỗi nhớ.

Về Gió :

Sự hiện hữu chỉ được theo dõi và đo lường qua động tác. Nhẹ nhàng theo khóm lau uốn mình thành đợt sóng. Giận dữ qua mấy cành tre chát chúa chạm vào nhau. Khơi dậy tâm tư mênh mang tiềm thức.

Về Mặt Trời :

Ðem nắng ấm vào trong mắt và hy vọng về long lanh giọt sương.

Về Mặt Trăng :

Cho gió hiền ve vuốt, cho những niềm ân hận dẫu kéo về cũng dịu nhẹ hơn.

Và Lời trao về Mẹ :

Sự khác biệt, nhưng không nhất thiết phải tương khắc, của những hữu hình, vô hình và tượng hình, của ánh sáng và bóng tối, của hơi ấm và khí lạnh, đã được nhập vào ca dao và những câu thơ me ngâm cho con thâu nhận từ khi bắt đầu biết nghe và biết diễn tả.

Ðám mây rực màu đỏ sẫm của một hoàng hôn nhiệt đới nhìn mãi cũng mất cái quyến rũ của nó, nên đôi mắt đi tìm một thoáng tơ trời màu trắng rất mong manh. Không biết gió lạnh se da xứ tuyết làm sao thấm thía được cái mơn trớn dịu dàng của làn gió hạ quê hương mặn nồng vị muối? Con lớn lên đi vào đời theo nhịp điệu đó của thiên nhiên, để biết chấp nhận cái muôn màu muôn vẻ của vật và người, để biết lắng nghe và kính trọng ý nghĩ và giá trị riêng biệt của kẻ khác.
Miễn là họ không thay đổi lập trường và nguyên tắc như thay áo vì một vụ lợi nhất thời nào đó. Miễn là họ cũng biết kính trọng sự tự do của con khi lựa chọn một hướng đi chung hay riêng lẻ. Và miễn là sự lựa chọn đó không nhằm triệt hạ phẩm cách hay phá vỡ hạnh phúc của một ai. Bên kia và bên này bờ đại dương có những người mẹ băn khoăn nhìn con cái lao đầu vào hào nhoáng vật chất, và cũng có những bà mẹ kiêu hãnh bên cạnh những đứa con khát khao một trưởng thành tâm thức và nhân bản. Mẹ Việt Nam đứt ruột nhìn đau thương của đàn con trong chiến tranh và trong cả hòa bình. Những đứa con ra đi có dịp nói mà chưa nói lên những lời xây dựng. Những đứa con ở lại quằn vai dưới lao khổ nhục nhằn đáng lẻ chỉ có do áp lực ngoại xâm. Trong ám ảnh quê hương đó, đường con đi không mong trải bằng nhung gấm, mà cài những đóa hoa tình thương con từng nhặt trao cho những tâm hồn mất mát cô đơn. Ðường con đi âm vang ngọt ngào lời mẹ Việt Nam nhắc nhở :

Nghìn trùng con nhớ mẹ không?
Ðại dương lòng mẹ thương sông, nhớ hồ.
(Thơ Trinh Tiên)


Green Castle, Pennsylvania, 1988



THANH NHUNG

TRANG CHÍNH TRANG THƠ TRUYỆN NGẮN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC