TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





NGUYỄN VĂN HOA

Sinh ngày 8 tháng 9 năm 1946 tại Thôn Tháp Dương, xã Trung Kênh, huyện Lương Tài , Bắc Ninh.

. Tiến sĩ Kinh tế. ( bảo vệ tại CHDC ĐỨC 28-2-1987)
. Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội
. Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội.

TÁC PHẨM XUẤT BẢN :

- Sếu Đầu Đỏ (tập thơ), 1998.
- Mưa Trong Thơ Việt (sưu tầm, tuyển chọn), 1996.
- Miền Quê Kinh Bắc: tuyển thơ cổ và kim (sưu tầm, tuyển chọn), 1997
-Tuyển Tập Thơ Văn Xuôi Việt Nam và Nước Ngoài ( biên soạn cùng PGS. TS Nguyễn Ngọc Thiện, Viện Văn học).
- Chân Dung Các Nhà Kinh Doanh Nổi Tiếng Thế Giới ( biên soạn cùng Nguyễn Hữu Viêm, Thư viện Quốc gia).






VĂN


BÀN THIÊN NAM BỘ
QUÊ NGOẠI TUỔI THƠ
EM Ở ĐÂU ?
CHUYỆN MẸ KỂ
ĐÁM MA CON CHÓ TRẮNG
CỦA CỤ TỔNG DOÃN

CÂY GẠO VỚI
NGÔI MIẾU CỔ LỤC ĐẦU GIANG

VỚT CỦI TRÊN LỤC ĐẦU GIANG
NÀNG LÀ AI ?
CÂY VỐI LỤC ĐẦU GIANG
NÀNG TỰ TỬ Ở LỤC ĐẦU GIANG ?
CU KIẾM Ở LỤC ĐẦU GIANG
KẺ GIẦU Ở LỤC ĐẦU GIANG
CHỢ ÂM DƯƠNG Ở LỤC ĐẦU GIANG
CHÚ MÕ Ở LỤC ĐẦU GIANG






BIÊN KHẢO
 









CHÚ MÕ Ở LỤC ĐẦU GIANG


Chú tên là Kha.
Không biết ai khởi thuỷ lại gọi anh thợ mộc Kha bằng Chú , thế rồi từ đó cả làng già trẻ gái trai đều gọi anh thợ mộc Kha bằng Chú Kha.
Dù có lên chức ông rồi , cả Xóm Bến "quen miệng quen mồm" ai ai nhất loạt vẫn gọi là Chú Kha , không ai gọi là ông Kha hoặc cụ Kha.
Chú người cao lớn , trắng trẻo. Lông mày rậm, mắt sáng. Mặt chữ điền.Dáng đi khoan thai.Nói năng nhỏ nhẹ ngọt ngào du dương. Chú kể chuyện cổ tích cho bọn chân sào Lục Đầu Giang nghe thì đến con kiến trong lỗ cũng phải bò ra nghe mê mẩm.
Nói chuyện với ai Chú cũng nhìn thẳng vào mắt họ.
Cả Xóm Bến này Chú đều kính già nhường trẻ. Chú đến ở Xóm Bến này đã đợc ba đời : Chú, con Chú và cháu Chú.
Gia đình chú sống ở đất Đình của Xóm Bến Sông Lục Đầu .



Xóm Bến nghèo nhất vùng Lục Đầu Giang .
Quanh năm chỉ có khoai luộc , khoai nướng. Khoai khô ghế độn cơm . Bốn mùa chỉ có ngô rang , ngô bung, ngô luộc thay cơm. Đến Tết mới có miếng thịt bỏ vào mồm. Hoặc giả có ma chay cưới xin , "trả nợ miệng" dở dói ra , đụng bát đụng đũa thì trẻ nhỏ, người già mới có bát cơm ăn.
Nhưng Xóm Bến tủi nhục hơn cả vùng , không ở cái thiếu ăn thiếu mặc .
Xóm Bến bị cả vùng này khinh , bởi mấy đời rồi cứ lầm lũi , không tích cóp xây dựng lấy cái đình . Nơi hội họp của làng . Nơi thờ cúng của làng.
Dân xóm Bến khó lấy vợ lấy chồng thiên hạ. Vì môn đăng hậu đối. Ai dám gả con cho Xóm Bến , dân vô sừng vô sẹo. Vô sư vô sách. Dân trâu cong bò lệch.
Đi ăn cỗ thiên hạ có dân Xóm Bến ngồi cùng mâm , là người ta cứ lỉnh cứ "trốn" hết . Đi ăn cỗ thiên hạ trơ ra cũng chỉ dân Xóm Bến ngồi với nhau. Đến là thẹn .
Các trưởng tộc Xóm Bến cay lắm. Có gần 10 họ quần cư với nhau , lại để cả vùng khinh thì tức lắm.
Lần lữa rồi các họ cũng ước định với nhau phải dựng cái đình cho lũ thiên hạ biết mặt.



Nghe xóm bến dựng đình , các cánh thợ khắp nơi ồn ào kéo đến xin việc .
Hôm ấy ngày lành tháng tốt ,các cánh thợ được thưa chuyện với Hội đồng gia tộc các họ.

Cánh thợ A mở đầu thưa :
- Thưa các cụ . Theo con Xóm ta có thể lấy mẫu mà tổ tiên con đã trực tiếp dựng đình Chu Quyến xã Chu Minh (Ba Vì) , Đình có mặt bằng hình chữ nhật, dài hơn 30 mét, 3 gian , 2 chái , bộ khung nhà có 6 hàng cột lim lớn chịu lực. Mái đình thấp ,góc đao cong.
Đình có sàn gỗ cách mặt đất gần 1 mét, sàn này chia thành 3 cấp độ cao thấp khác nhau để chia ngôi thứ khi các cụ ngồi.
Trang trí chạm khắc nhiều cảnh sinh động như chọi gà, gẩy đàn,hát múa, phượng mẹ dẫn phượng con.


Cánh thợ B thì xin thưa :
- Hay thưa các cụ nên lấy mẫu đình Diềm (Viêm Xá - Yên Phong , Bắc Ninh) có sân gạch rộng tiếp đến 3 khối kiến trúc Đại đình- ống muống- hậu cung.
Đại đình có 7 gian. dựng trên nền cao có đá xanh. Bốn cột cái cao to chu vi hơn 2 mét dùng làm khung đỡ sức nặng của mái . Trên hai câu đầu chạm rồng mây.
Trong toà đại đình có tấm cửa võng lớn, đục chạm lồng vào nhau, sơn son thếp vàng óng ánh rực rỡ, xin xít dày đặc phủ các hình trang trí lồng ghép trau chuốt tỷ mỷ , lay động như khắc nổi rồng , phượng , voi, ngựa , chim, hoa , lá , mây vờn. Đặc biệt là những hình các thiên nữ duyên dáng yểu điệu như sắp bớc ra cõi trần.


Cánh thợ C cũng kính thưa :
- Hay là các cụ chọn mẫu Đình Đình Bảng (Tiên Sơn Bắc Ninh). Toà đại đình dài 30 mét rộng 14 mét , có 7 gian 2 chái 4 mái , góc đao cong , vì kèo kiểu chồng rường với 6 hàng gồm 60 cột chịu lực bằng gỗ lim và có ván sàn gỗ cao 0,7 mét .
Đình có trang trí chạm khăc rồng , phượng, lân , hoa , lá "bát mã quần phi" (8 ngựa cùng phi), trang trí chạm khắc trải kín hầu hết bộ khung nhà.


Cánh thợ D xin thưa :
-Thưa các cụ hay các cụ chọn mẫu Đình Đông Ngạc (Vẽ, Từ Liêm Hà Nội), có tam quan , sân rộng lát gạch , có dãy tả vu , hữu vu, . Toà đại đình 5 gian 2 chái . Trong đình có bộ tranh quý vẽ trên gỗ, có 48 bức vẽ với nhiều đề tài tứ linh , rồi ngư tiều canh mục.

Cánh thợ E lai thưa rằng :
- Theo chúng con các cụ nên chọn mẫu Đình Tây Đằng (Ba Vì Sơn Tây): gồm có cổng, tả mạc hữu mạc và đại đình .
Mặt bằng đại đình hình chữ nhật 5 gian vì nhà kiểu chồng rường , giá chiêng 4 hàng gồm 48 cột chịu lực , mái thấp , góc đao cong . Chạm khắc tiên nữ voi , hươu, hoa , lá, , hình người đẽo cây , hình người gánh con,đá cầu , chèo thuyền.


Cánh thợ G thì xin hầu chuyện các cụ:
- Tổ tiên con đã từng dựng đình này , xin các cụ chọn mẫu Đình Thổ Hà (Việt Yên): gồm toà tiền tế , Toà đại đình hình chữ công, dài 27 mét , rộng 15,8 mét có 7 gian. Bộ khung có 48 cột gỗ lim chịu lực , chạm khắc tiên nữ cỡi rồng, tiên cỡi phượng , rồng , nghê, thú , hoa lá.

Các cụ cho các cánh thợ tranh cãi nhau , vạch lưng nhau. Không có đình nên họp nhờ ở nhà thờ họ Trần. Cuộc họp mà cứ như mổ bò. Cánh chân sào đi qua Lục Đầu Giang , tưởng xóm bến có đám đâm chém nhau.
Cả Xóm Bến râm ran khắp luỹ tre đến chợ chiều.Một cối thúng góp xây đình thôi mà cứ như cắt tiết cả nhà họ.
Các cánh thợ đều muốn làm "đẹp mặt" cho mình. Nhưng hiềm một nỗi "tiền ít không thể có nhiều thịt ngon" .
Đã trừ người mẹ goá con côi, kẻ tàn tật neo đơn rồi , từ ẵm ngửa , bất kể gái trai , ai cũng phải đóng một cối thóc. Tính ra thì được bao nhiêu cái cột lim . Đình Xóm Bến nên 48 hay 60 cột lim.
Xây đình mà bé dân vùng này thiên hạ vẫn cứ khinh mình cho . Thật là uất ức!. Nếu dư tiền gỗ lạt thì chỉ ới một cái, lái gỗ ở Lục Đầu Giang này chỉ một loáng 40 chứ 60 cột hoặc cả rừng gỗ lim cũng có .
Cay cực nhất là các cụ cao tuổi. Cay vì chỉ còn trơ ra cái Xóm Bến không có đình, cực ở chỗ mình nghèo quá. Cái khó nó bó cái khôn.
Các trưởng họ mất ăn mất ngủ.



Đùng một cái , Như mơ giữa ban ngày, có ông Tri phủ họ Trần hồi ở Lạng Giang hồi ở Thuận An , gốc ba đời ngời Xóm Bến hồi hưu về dâng hương giỗ họ Trần ở quê. Tri phủ hôi hồi được tin ý nguyện của dân.
Tri phủ họ Trần không có con trai , chỉ một mụn con gái. Nhưng con gái đã lấy con ông bạn học "thuyền theo lái gái theo chồng" về nhà chồng ở Kinh Thành. Bà Tri phủ cũng từ tâm. Nhà bà là một đại gia vùng Lục Đầu Giang . Bà bàn với ông bán hết trang trại riêng và toàn bộ tài sản , cả của hồi môn riêng của bà . Họ từ tâm làm công đức cho Xóm Bến xây đình.
Được tinTri phủ họ Trần và vợ xin công đức cho làng xây đình. Cả xóm Bến như mở cờ trong bụng.
Tâm nguyện của vợ chồng Tri phủ họ Trần chỉ là xin làm cái Bia Hậu. Vì sinh con một bề , không ai thừa tự cúng giỗ. Sau này quy tiên , cứ đến ngày giỗ làm mâm cỗ và thắp cho họ nén hương !
Cả làng như trút được gánh nặng .
Các cánh thợ đấu giá , làng chọn ra hai cánh thợ , song song cùng chia đôi phần mộc ra mà làm. Họ không độc quyền bắt bí dân làng được . Cánh nào thất tín sẽ bị đuổi.
Càng gần ngày khớp phần mộc , hai cánh thợ càng phấn khích , thâu đêm suốt sáng tiếng đục đẽo chí chát át cả tiếng chó cắn trộm ban khuya.
Hai năm trời kéo dài, có cô con gái họ Lê còn bị Một Tay Thợ Mộc tên Kha Nam Định "ca đổ", cô ấy đã sinh được cu cậu bụ bẫm, Bố là thợ mộc làm đình , nên thằng cu bố Nam Định , mẹ Xóm Bến được đặt tên thằng Vũ Văn Đình. Hôm dựng đình cô còn bế con về thăm quê ngoại .
Pháo nổ vang trời suốt hôm đặt nóc đình . Xác pháo ngập đầy sân đình,Trẻ con lội đến đầu gối. Pháo xịt ngòi , trẻ bới trong đống xác pháo còn còn đốt đì đoàng hàng tháng mới hết.
Gió thổi xác pháo bay ngập đường làng. Vỏ pháo đỏ nhuộn đỏ ối cả ao đình. Cá nổi chết trắng xoá.
Cánh thợ có chú Kha -Tay Thợ Mộc làm rể làng giựt giải trong hai cánh thợ. Thực ra hai cánh thợ mộc đều ngang tài ngang sức , cha ông họ đã từng tham gia dựng đình làng lớn nhất Việt Nam.
Tiền thưởng cũng chỉ là một con lợn gần tạ. Nhưng "con gà tức nhau tiếng gáy". Cánh thợ thua ấm ức lắm. Miếng ăn giữa đình mà bị cướp mất.
Làng xì xào , cho rằng các cụ Xóm Bến thiên lệch nhóm thợ chú Kha - con rể của làng mình.



Đình xây xong ,dân Xóm Bến đi chợ , mặc cả to tiếng hơn , không còn phải lý nhí lép vế như ngày xa. Cỗ bàn đám ma , đán cưới , đám giỗ , dân Xóm Bến ưỡn ngực trên đường hàng tổng, dân Thiên hạ bây giờ thấy dân Xóm Bến ngồi mâm nào lại thích ngồi sán lại. Có phải vì cái Đình Xóm Bến to nhất vùng Lục Đầu Giang này?.
Dân ở Kinh Thành về Xóm Bến , họ cứ ngờ ngợ , nửa tin nửa ngờ đình này hao hao giống Đình làng Đình Bảng! Có lẽ thợ mộc học lỏm đây ?
Cũng phải thôi, cánh thợ đã học lỏm cha ông khi dựng đình Đình Bảng . Những chạm khắc họ lại học mót Đình Diềm.
Dân Lục Đầu Giang khẩu truyền , nếu ai làm điều phúc đức cho dân thì khi gặp ngttời đó , ai cũng đều chặc lỡi , rồi thốt lên: ' Trời ơi " phúc nhà bác to bằng đình Xóm Bến "



Đất lành chim đậu .
Chú thợ Mộc Nam Định làm rể Xóm Bến , bẵng đi,rồi xin ở rể làng này. Trai làng trắng trợn chửi vỗ mặt chú : Đồ chó nằm gầm trạn?
Chú vẫn bỏ ngoài tai.
Quê chú ở Nam Đinh.
Dòng họ Vũ nhà chú hiển hách lắm . Lắm người làm quan to ở Kinh Thành . Nghe nói làng Chú , đến Tri phủ , khi có đám ở đình còn phải đứng , không có chỗ ngồi! Chi nhà Chú yếu đuối nhất họ Vũ.
Bố Chú năm ấy cay cú bàn với vợ con chạy cái chân Phó lý để mát mặt với làng với họ Vũ. Nhưng họ Đặng có dùng quỷ kế, vứt bã rượu vào bếp nhà bố Chú . Rồi vu cho bố Chú nấy rượu lậu. Nhà chú thế là tay trắng "mất cả chì lẫn chài" .Bố Chú đưa vợ con lên mạn ngược . Còn chú nghe lời vợ về Xóm Bến này.



Chú thợ mộc tên là Kha họ Vũ Nam Định.
Thấy chú đẹp trai , giọng nói du dương lại có tài viết lách chữ Hán Nôm , Làng xếp cho Chú việc phụ giúp các chức sắc của làng. Chức sắc vừa ý ngay vì Chú sáng dạ . Chú biết Hán Nôm . Chú lại có tài viết chữ Nho. Chú khéo tay về mộc .
Trong làng ai cần xin câu đối , hoặc đám ma cần xin văn tế , chú giúp được ngay.
Làng cần thông báo cái gì thì chú trèo lên cây đa cao chót vót giữa làng , dùng cái mo cau cuốn lại :

" a nô (đúng phải là A LÔ)
a nô
a nô
dân nàng chú ý
Theo ước định của các trưởng tộc
Hội nàng năm lay ...
Vật giải nhất một chiếc mâm đồng...."


Hoặc khi có cỗ bàn ở đình làng thì chú phải quét dọn sàn đình , sân đình sạch sẽ. Rồi chú phải giải chiếu phân ngôi cho các chức sắc và trai đinh trong làng. Cỗ bàn của các cụ , chú phải lo liệu tươm tất. Riêng chú bao giờ , theo lệ làng cũng dành cho một mâm ngồi riêng. Chú Kha , dân Xóm Bến gọi là Chú Mới . Còn Dân Lục Đầu Giang , ai cũng gọi chú là chú Mõ. Cái đình Xóm Bến to hao hao như cái đình làng Đình Bảng này , nếu thiếu bóng dáng chú Kha thì thành cái đình hoang.
Vũ Văn Đình con chú đã được chú dạy Hán Nôm để nối nghiệp Chú!

Lá đa sẽ ngập sân đình!
Đình sẽ hoang liêu!




TS. NGUYỄN VĂN HOA



TRANG CHÍNH TRANG THƠ TRUYỆN NGẮN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC