BẢN HỢP XƯỚNG
"Ông Đồ"



Có một điều ít ai biết là Vũ Đình Liên ngoài hai bài thơ Lòng ta là những hàng thành quách cũ Ông đồ đã được Hoài Thanh - Hoài Chân giới thiệu trong Thi nhân Việt Nam, còn có một “ bản hợp xướng ông đồ” khác nữa cực kỳ lạ lẫm, tài hoa…mà Vũ Đình Liên trước lúc đi xa đã kịp để lại cho đời.

Sinh ngày 15 tháng 10 năm Quý Sửu (1913) ở Hà Nội, Vũ Đình Liên là một trong những người được phong Nhà giáo Nhân dân đầu tiên của Việt Nam. Ông làm thơ không nhiều, nhưng đủ để ai đó khi nghe bài thơ ông đồ cũng đều phải nghĩ ngay tới cái tên Vũ Đình Liên tài ba : “Theo đuổi nghề văn mà làm được một bài thơ như thế cũng đủ. Nghĩa là đủ để lưu danh, đủ với người đời.”, “ Có những nhà thơ không bao giờ có thể làm được một câu thơ- tôi muốn nói một câu đáng gọi là thơ. Những người ấy hẳn là những người đáng thương nhất trong thiên hạ. Sao người ta thương hại những kẻ bị tình phụ nuôi một giấc mộng ái ân không thành, mà không ai thương lấy những kẻ mang một tình thơ u uất chịu để tan tành giấc mộng quí nhất và lớn nhất ở đời : giấc mộng thơ ? “( Thi nhân Việt Nam ). Vũ Đình Liên đã vinh hạnh bước qua ngưỡng cửa phong thần ấy để đi vào lòng người với tác phẩm thơ bất hủ : ông đồ của mình. Khi phong trào thơ mới ra đời người ta đã thấy thơ Vũ Đình Liên đăng rải rác trên các báo, điều này mặc nhiên cho phép người ta xếp ông vào hàng những người thơ cũ. Trong bối cảnh mà hai dòng thơ cũ mới xung đột nhau kịch liệt, ta thử trở lại bảy mươi bốn năm về trước tức là năm 1932 khi cụ Phan Khôi “trình chánh giữa làng thơ” bài thơ mới đầu tiên Tình già đăng trên báo Phụ nữ Tân văn số 122 của mình, thì cuộc bút chiến giữa hai phe thơ cũ, mới càng trở nên gay gắt. Chính Khái Hưng một trụ cột của báo Phong Hoá ngày đó tuy rất nhiệt tình bênh vực thơ mới, nhưng cũng phải đả kích những nhà thơ mới đã quá dễ dãi khi cho ra đời những đứa con tinh thần què quặt, thiếu tháng… Khái Hưng liền cho đăng bài thơ khá mai mỉa của ông :


“Vì thế kỳ báo này
Tôi lại
Viết một câu văn vui đại khái
Cũng bằng thơ mới
Nói thơ tự do thì có lẽ phải hơn, vì cứ mỗi lần
Gặp vần thì tôi tự do xuống dòng, bất kỳ câu ngắn
Hay dài, từ một đến mười hai chữ
Như thế hẳn
Chẳng khó khăn gì
Mà bỗng mình trở nên một nhà thi
Sỹ
Rồi các nhà phê bình sẽ
Tìm ra những cái hay của mình và có lẽ
Tôn bừa mình lên bậc thi hào
Thì mình cũng đành nhận chứ biết làm sao “

( Kiến thức ngày nay số 526 – trang 11 )


Một khi hai dòng thơ đối kháng cùng hạnh ngộ nơi một con người thường mang nhiều uẩn khúc kín đáo với thời cuộc, với bạn bè, đôi khi đâm ra nghi ngại chính mình dù chỉ trong thâm tâm, sự xung đột ấy có thể làm cho nỗi đau thoát ra bay bổng vào cõi thơ vi diệu. Trong giây lát may mắn nào đó một sự hợp nhất hoàn hảo của ý nghĩ sẽ chắp cánh cho ngôn từ thơ thăng hoa…Điều may mắn ấy đã đến với tấm lòng đôn hậu, thật thà của Vũ Đình Liên trước kia hay Huỳnh Văn Nghệ sau này.Với Vũ Đình Liên đó còn là một phong thái bình dị mà cảm động, ta có thể nghe thấy tiếng lòng u uất của ông trăn trở với bao điều muốn nói nhưng đã nghẹn ngào không thốt được nên lời :” Tôi bao giờ cũng có cái cảm tưởng là không đạt được ý thơ của mình. Cũng vì không tin thơ tôi có một chút giá trị nên đã lâu tôi không làm thơ nữa ”.

“Lòng ta là những hàng thành quách cũ
Tự ngàn năm bỗng vẳng tiếng loa xưa…”

( Vũ Đình Liên, tháng 9-1941 – Tinh Hoa )


Còn với Huỳnh Văn Nghệ cũng hai câu thơ thành danh đã đưa ông ngồi lên chiếu thơ trên : “ Từ thuở mang gươm đi mở cõi, trời Nam thương nhớ đất Thăng Long…”.Ngoài hai câu thơ ấy có mấy ai nhớ tới những bài thơ khác của Huỳnh Văn Nghệ ? Về khía cạnh này Vũ Đình Liên có khá hơn, ông đã biết che kín nỗi đau trong lòng mình đến thế nào, sắp xếp cho đứa con tinh thần của mình tiếp cận với người đọc ra sao, và ông đã không ngần ngại hạ mình trong thế khiêm nhường khi tuyên bố giải nghệ thơ... Ai cũng nghĩ ông đã rời khỏi thi đàn thật rồi, và cũng từ đấy người ta ít thấy thơ ông đăng báo như trước : “Trôi đi thuyền / cứ trôi đi xa nữa / Vỗ giăng khuya bơi mãi / Cánh chèo mơ..” và người ta lại càng tin hơn lời ông nói.

Không hẳn là con thuyền cứ trôi đi xa mãi, bỏ mặc ta là hàng thành quách cũ năm tháng rêu phong, hay chỉ làm một cái việc duy nhất là cho chữ cho đời, để rồi phải trăn trở khi sắp trở về với cát bụi..! Ngược lại, ngoài việc chính là dạy học, Vũ Đình Liên vẫn âm thầm phóng bút đề thơ, ông đã chưa hề từ bỏ hoặc xa lánh thơ bao giờ, để đến hôm nay – 1996 - khi đã thong dong về chốn xa ngàn, người ta không thể biết chính xác Vũ Đình Liên còn có bao nhiêu bài thơ khác nữa đang còn ở đâu đó trong dân gian ? Chính vì không muốn từ bỏ nghiệp thơ, và cũng không muốn ai biết đến điều ấy, Vũ Đình Liên làm thơ trong lặng lẽ và cũng chỉ để tặng người thân, bạn bè tri kỷ tri âm mà thôi. Một trong những người tâm phúc ấy của ông - một bạn thơ thời cố cựu chi giao của ông – cũng sống rất âm thầm lặng lẽ, lại càng âm thầm lặng lẽ hơn khi mà người chồng của bà : nhà văn Ái Mỹ – cũng là bạn của ông đồ - qua đời. Thành phố biển Nha Trang rì rào sóng vỗ nơi bà đang sống cũng là địa chỉ lưu giữ những bài thơ, bút tích, hình ảnh của ông đồ gửi vào tặng vợ chồng bà sau ngày giải phóng (1975 ). Người đàn bà thiện duyên ấy chính là nữ sĩ Trinh Tiên.

Tôi không có diễm phúc như nhà văn Vĩnh Hữu được bà cho xem tận mắt, chụp hình di cảo, đọc trực tiếp những bản thơ viết tay của ông đồ. Đó là các thi phẩm trác tuyệt và có phần lạ lẫm mà tôi trích lại sau đây ngỏ hầu các bạn, bốn bài thơ ( trong đó, bài Tưởng nhớ đã rất quen thuộc với chúng ta ) cùng bốn hình ảnh ông đồ được sáng tác trong nhiều thời điểm khác nhau rồi gộp lại thành bản hợp xướng ông đồ bất tử :


Tưởng Nhớ

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu…

Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời mưa bụi bay

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ..?

1936


Thuỷ Chung

Năm nay đào lại nở
Chật đường chợ hàng hoa
Từ đáy sâu quá khứ
Ông đồ lại hiện ra

Sáng nay mưa chớm tạnh
Nắng nằm trên giấy hồng
Một đám người ngồi cạnh
Có nhà thơ ngồi cùng

Tôi xin đôi câu đối
Cụ rọc tờ giấy điều
Bàn tay xưa viết nối
Những nét chữ thân yêu

Bài thơ “Ông đồ” mới
Dưới bút cụ nở ra
Tôi chân thành chép lại
Đánh dấu một mùa hoa

Chỉ thêm lời ghi chú
Vần thơ xưa, thơ nay
Thuỷ chung một lòng cũ
Dù vui buồn đổi thay.

1974


Hạnh Phúc

Năm nay đào lại nở
Mừng hội Đảng, hội Dân
Bút ông đồ lại hoạ
Những nét chữ đẹp thâm

Cờ biển ngập phố phường
Cánh đào bay thắm đỏ
Như cả ngàn mùa xuân
Nở hoa trên mỗi chữ

Người trẻ lại, già nua
Nghe mực gieo giấy hát
Nhìn ông đồ nhà thơ
Rỡ ràng một khuôn mặt

Thấy trong lòng say sưa
Dừng chân không muốn bước
Nghe đọc những vần thơ
Ngợi khen những nét bút

Xuân Cộng hoà Xã hội
Mai, đào, tươi thắm hoa
Một nguồn hạnh phúc mới
Trào ngọn bút, dòng thơ.

1977


Mùa Xuân Cộng Sản

Một cây đào muôn thuở
Năm, bốn mùa nở hoa
Một ông đồ bất tử
Tay với bút không già

Hoa tươi màu sông núi
Chữ thắm tình bốn phương
Cành đào và câu đối
Ngàn đời Tết Việt Nam

Nghiên bút xưa vẫn đợi
Từ ngàn năm bài thơ
Từ ngàn năm câu đối
Đảng sáng tác bây giờ

Nghệ sĩ với “ ông đồ”
Tình nước non vô tận
Như Đảng với Bác Hồ
Hương Đất Trời Cộng Sản

Năm, năm, đào lại nở
Vui người mới, hồn xưa
Một mùa xuân bất tử
Tươi nét hoạ, lời ca.

( Không năm tháng )


Còn có nhiều bài thơ khác như Bóng ông đồ ( xuân 1982 ) chiếc túi xách của người ông, ông không mất… v..v. Nhưng hơn hết, theo tôi bản hợp xướng ông đồ là sự kết hợp hài hoà và ấn tượng hơn cả, tôi cũng lấy làm tiếc cho Hoài Thanh - Hoài Chân đã không kịp cập nhật các tác phẩm thơ sau này của Vũ Đình Liên. Và cũng chỉ với mục đích giới thiệu đến những người yêu thích thơ ông đồ, nhưng chưa từng đọc hoặc nghe về bản hợp xướng thơ ông đồ, tôi xin mạo muội được viết ra đây. Cảm ơn nữ sĩ Trinh Tiên, nhà văn Vĩnh Hữu, những người đã rất trân trọng và yêu mến ông đồ, yêu mến thơ ông đồ, đã làm vinh danh thêm Vũ Đình Liên một lần nữa khi đã cho công bố bản hợp xướng này lên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thật là chưa phải lắm khi bài viết này không kịp đến với bạn đọc và những ai yêu mến ông đồ trong dịp xuân về, nhất là khi đất trời cùng giao hoà, bên chậu mai đào lung linh sắc thắm đọc thơ ông đồ, ngắm hoa đào khoe sắc khoe hương, ngắm những nàng thiếu nữ phơi phới xuân thì lả lướt trên những con đường quê thơm ngát, để nhớ, để thương, để hoài niệm…về một thời xa xưa yêu dấu nào đó thì thật là thi vị biết chừng nào. Chắc có lẽ trong chúng ta không ai là không bồi hồi xúc cảm khi nhớ tới ông đồ xưa, để tin rằng ông vẫn ngồi đấy với mực tàu giấy đỏ, với nét bút phượng múa rồng bay :

“Một ông đồ bất tử
Tay với bút không già”
“Một mùa xuân bất tử
Tươi nét hoạ, lời ca…”


Vâng, không nghi ngờ gì nữa ông đồ trong thơ của Vũ Đình Liên đã đi vào bất tử…


2006

____________________________________________________________

Tài liệu tham khảo :
. Thi nhân Việt Nam
. Kiến thức ngày nay số 526
. Bản hợp xướng ông đồ - Vĩnh Hữu – V.N Nguyễn Đình Chiểu


PHAN THÀNH MINH