Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

nhà thơ Trần Nhuận Minh




Đôi Suy Tư Tản Mạn

VỀ THƠ TRẦN NHUẬN MINH








T hơ hay, thơ đích thực, không bao giờ là độc quyền cho bất cứ thi sỹ nào. Hai mươi năm nay, nổi lên hiện tượng Thơ Trần Nhuận Minh, chủ yếu qua tập Nhà thơ và hoa cỏ. Chúng ta chưa bàn vội đến ý tưởng tốt đẹp của nhà thơ là ôm trùm toàn bộ vũ trụ thi ca đương đại. Ôm trùm nói đây là ước vọng làm chủ những phong cách thơ chủ đạo. Điều quý nhất có thể ghi nhận tức thì là ông đưa thơ trở về với sứ mệnh hồn cốt của thơ. Sau năm 1975, thơ càng ngày càng xa đời sống. Thơ mọc như nấm sau mưa, song đa phần chỉ là thú thù tạc, hay nói như các lão nông, chỉ là “đưa cay”, giữa những người vô công rồi nghề, giữa những người cùng hội cùng thuyền, hay giữa những kẻ thích “bốc thơm nhau”, giữa những người ngầm tán thưởng nhau là thâm thuý, là tinh hoa, hay thầm thoả ước những trò chơi chữ người ngoài không hiểu nổi. Thơ hóa thành bong bóng xà phòng muôn hồng ngàn tía, ảo vọng mông lung vô thưởng vô phạt, hoặc những cái bóng che đậy sự trống rỗng, tệ vô cảm và vụ lợi. Sự hạ thấp thơ thành trò chơi, thành vật trang trí và làm duyên khiến công chúng quay lưng lại. Suốt lịch sử văn học, chưa khi nào thơ được dùng để dối mình dối người tràn lan và không còn biết ngượng như bây giờ. Người ta tung hô “cách tân” như việc cố tình viết cho được những câu thơ loằng ngoằng bí hiểm, thực chất chẳng có gì để cảm và để hiểu. Người ta trưng ra những chủ nghĩa xa lạ, ví như “hậu hiện đại”, tuồng như cho tới giờ, hậu hiện đại là thành tựu huy hoàng nhất của văn học nói chung và thi ca nói riêng. Cứ theo hậu hiện đại mà sáng tạo tất có thành công trên cả tuyệt vời. Thật kỳ cục, sao có thể quên rằng dẫn dắt thơ là “cuộc đời vĩnh viễn tươi xanh”, chứ không phải “lý thuyết một màu xám xịt”.

Trong bối cảnh bàng bạc đáng ngán và đáng lo ấy của thơ Việt Nam, Trần Nhuận Minh bức bối dóng lên hồi chuông cảnh tỉnh về hiện tình xã hội qua số phận những người lao động bình thường. Nhiều năm rồi, những con người bé nhỏ thấp cổ bé họng dần dần bị đẩy khỏi văn chương nghệ thuật. Trần Nhuận Minh dám dũng cảm đề cập thật dóng diết tới những mất mát tổn thương do vật đổi sao dời mà họ phải gánh chịu. Vật lộn chật vật để mưu sinh, những ngang trái trong và ngoài nước, a dua theo thời, vứt bỏ nghĩa tình, chạy theo ăn chơi và đồng tiền bất nghĩa, sẵn sàng tỏ quyền uy lãnh chúa của kẻ mạnh…, tất cả biến thành nạn nhân của chủ nghĩa thực dụng vốn hoàn toàn xa lạ với người chân quê, với đồng quê, thiên đường của điều hay lẽ phải, của đồng cam cộng khổ, của nhường nhịn buồn vui và chia ngọt sẻ bùi. Nông thôn có nguy cơ đánh mất chất thuần hậu và bao dung, tôn thờ tình nghĩa, vốn là nền tảng của tâm hồn dân tộc, của văn hoá ngàn đời, nền văn hoá nhân lên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng và trường tồn của nhân dân Việt Nam. Xin ghi nhận, thơ Trần Nhuận Minh không một chiều thô thiển. Bên cạnh nỗi bất an trước nhân tình đảo lộn, hồn quê có cơ vẩn đục là niềm tin rằng cuộc chiến đấu cho công bằng và lẽ phải cũng như sự hướng thiện không gì suy xuyển vẫn tiếp tục ngoan cường. Hai cuộc hiến ấy hun đúc nên sự hiền minh là cõi riêng bất khả xâm phạm, là chỗ dựa hay bệ phóng, là bầu trời tự do hay vũ trụ hút hồn của mỗi người Việt Nam. Sự hiền minh đó vẫn tồn tại và phát triển là nhờ vô số người lao động bình thường, hoặc chỉ đơn thuần chân tay như Bá Kim, Ông Vọng, hoặc các kỹ sư tâm hồn như nhà văn Võ Huy Tâm, hoặc các trí thức đúng nghĩa như chính Trần Nhuận Minh, hoặc các chính khách vì dân như “nhà khoán mười” bất hủ Kim Ngọc. Suy cho cùng, chính “những con người bé nhỏ” như vừa dược nêu là chủ nhân thực sự của cõi thế, là trụ cột của cuộc sống nhân loại. Nếu tác giả bài viết không nhầm, sự hiền minh Việt Nam được thể hiện lần đầu tiên trong Thơ Trần Nhuận Minh, với Nhà thơ và hoa cỏ. Ông không trực tiếp bàn bạc đến nó, song sự liên tưởng, một sức mạnh của thơ ca đích thực, “dẫn dụ” người đọc tới khám phá tưởng chừng bất ngờ của nhà thơ hiện diện như một người thân giữa công chúng thơ thực thụ. Việc hiện diện “quái kiệt” hiếm hoi này, chúng tôi sẽ nói tới trong phần cuối của bài viết.

Dường như táo bạo hơn thơ Nguyễn Bính, thơ Trần Nhuận Minh thâm nhập vào gan ruột của đồng quê, phơi bày những sự thật không thể coi thường hay chối bỏ. Nó như phát huy tối đa những thế mạnh hay chủ nghĩa hiện thực trữ tình của ca dao và dân ca sẽ sống mãi tới muôn đời. Hiện thực nông thôn hôm nay hiện lên thật sinh động và thôi thúc suy nghĩ và hành động trong những vần thơ Trần Nhuận Minh tưởng chừng đơn giản nhưng không kém phần tinh tế. Đáng mừng thay, sau Nguyễn Bính, hồn quê Việt Nam như được tái sinh, thăm thẳm tình người, bâng khuâng thao thức, cồn cào khoan dung. Cao sâu hơn, khái quát hơn và chân thực hơn những câu ca dao vẫn đang truyền miệng, đại loại “Xã viên làm việc bằng hai/Để cho chủ nhiệm mua đài tậu xe”, “Xã viên làm việc bằng ba/Để cho chủ nhiệm xây nhà tậu trâu”, những bài thơ về nông thôn của Trần Nhuận Minh ghi lại dược những cảnh những tình một đi không trở lại, tương tự những nhố nhăng đau xót một thời nô lệ trong thơ Trần Tế Xương bất diệt. Một đảng viên trung kiên, bị những người vừa được mình giải phóng, xử tử. Họ không biết bắn, nên dùng cuốc bổ vào đầu. Chưa chết, người đảng viên vẫn kêu họ là “Đồng chí !”. Một đảng viên già, xin ra khỏi Đảng, để an tâm làm thật nhiều tiền (vì giờ tiền mới là tất cả) và cưới vợ lẽ hơ hớ, với “hai hàng xe bình bịch”. Một cán bộ thành đạt, quên người vợ lam lũ nuôi con một mình nơi xóm cũ xa xôi, chỉ lo sướng thân mình, thuê hai hầu gái để giặt quần và đấm lưng. Một công nhân cần tiền mua gạo cho con khỏi đói, đứng mãi bên đường, rao bán tín phiếu – lương trả bằng tín phiếu – dù rẻ hơn rất nhiều, vẫn không sao bán được. Một kẻ giàu sụ, bỗng nhà bị niêm phong (hẳn do làm ăn phi pháp), ra đường ăn mày. Một thanh niên xuất dương, biến thành kẻ cướp, trong khi cha mẹ ở quê vẫn tưởng y đang học hành để nên tiến sỹ. Rồi nhiều thân phận phụ nữ trớ trêu trong muôn vàn tâm trạng. Một cô giáo về hưu đi làm thầy bói. Một người suốt đời phụng sự chồng con, khi chồng lên “nhất huyện”, bị hất ra đường, phải đi rửa bát thuê, gặp người quen là lủi. Một cô gái xinh đẹp, chỉ vì trái ý “người ta”, bị đẩy đến đường cùng, phải bán trôn nuôi miệng, nhưng vẫn muốn khách mua hoa cầm lấy tay mình, cho mình nhận tiền đỡ ngượng…Những cảnh đời ấy thực ra không khiến bi quan nản chí, vì vẫn còn đó những tấm lòng, như của Bá Kim hay Ông Vọng, và của thi nhân Trần Nhuận Minh (như sẽ nói sau). Hẳn không cố ý, Trần Nhuận Minh đã làm được một cuộc cách tân thơ đáng nể. Đổi mới cách nhìn nhận thực tế và sứ mệnh thi ca, đó mới là cách tân thực sự.

Thơ Trần Nhuận Minh có vẻ thật dễ làm. Nắm vững hiện thực rồi, nắm vững thi pháp rồi, ông nhìn vào đâu hầu cũng thấy thơ. Hiển nhiên cái nền của cảm hứng và thi pháp là một tấm lòng, một tấm lòng của triệu triệu tấm lòng. Không có tấm lòng như vậy, ông đã bỏ qua những cảnh tình “không thể nào quên” và những nỗi niềm muôn điệu của đời sống hôm nay không chỉ nơi thôn dã. Chất cá nhân của ông, hay nói theo ngôn ngữ hàn lâm, “cái tôi trừ tình”, từ đó cứ tô đậm tính đặc thù hình như mất hẳn trong thơ bây giờ. Những tâm sự của ông là gió thổi căng cánh buồm thơ, là những nốt đàn trầm vọng mãi trong lòng bạn đọc. Từ giọt lệ rơi trước cảnh một nơi đáng lẽ phải là di tích lịch sử bị biến thành nơi nuôi bò, nỗi thèm một chén trà khi biết bạn vốn là một nhà lãnh đạo giờ âm thầm lao vào những niềm vui trần thế đáng xấu hổ, như buôn lậu và chơi trống bỏi, hay tiếng kêu “Trời ơi, tách bạch mà chi !” trước một người mợ có chồng chết đột ngột, cho đến những băn khoăn về chuyện “bất khả tri” trước nhiều hiện tượng, cái tôi nhà thơ trở về là một bộ phận cấu thành tất yếu của tiếng thơ, khiến thơ gần gũi thân tình với công chúng. Thơ Việt Nam hôm nay hầu như vắng bóng những thi sỹ sống và làm việc như bộc lộ hết mình một cách tự nhiên giữa thanh thiên bạch nhật và giữa đồng bào mình mà nhà thơ coi như người thân hay bạn hữu. Trần Nhuận Minh xuất hiện trên thi đàn như một tầm cỡ như vậy. Đúng sai, phải trái, tốt xấu đều rạch ròi ngay nơi ông. Vâng, nghệ sỹ ít ra cũng phải công minh, chính trực, phải là một con người mẫu mực bao dung. Trần Nhuận Minh lên án những người đánh hội đồng một em bé vì quá đói mà ăn cắp một chiếc bánh mì. Ông trách cứ những người vô tâm, đúng Giao thừa, đuổi những em bé lang thang cơ nhỡ khỏi xó trú ngụ bấy nay của chúng. Ông xót xa cho một phụ nữ Việt Nam bị cướp ở Nga. Ngoài chuyện cô gái làm tiền nói trên, ông ghi lại thật sửng sốt sự ăn năn của một nhân viên bảo vệ già sắp qua đời. Trước đây vì quá tận tâm với nhiệm vụ, cụ đã xử tệ với bao en bé không có tiền, tìm mọi cách vào xem phim bằng được. Giờ cụ chỉ muốn xin lỗi chúng. Trần Nhuận Minh kiêu hãnh khi viết về Ông Vọng suốt đời đánh giậm, lơ mơ tin mình sẽ có cái gì. “Cái gì” ấy, thực ra ông Vọng có rồi, nó là sự hiền minh. Một hiền minh khác là Võ Huy Tâm, nhà văn vùng mỏ. Nhà văn phải vào núi kiếm cái ăn để viết văn. Xong bản thảo, ông cho vào bao tải về Hà Nội để in sách. Bao công sức cho áng văn này. Nhưng nhà văn cười hà hà hiền hậu. Còn Trần Nhuận Minh thì “nhòe mắt cay”. Ôi tình người, tình đời, nghiệp chướng văn chương ! Đoạn kết bài thơ Bá Kim nhất định khiến nhiều người rơi lệ. Không phải vì lòng thương hại. Bá Kim hy sinh hai con cho Tổ quốc, trọn đời bắt cua kiếm sống và phục vụ bà con xóm gần làng xa, không tơ hào gì của người khác, hay ngay cả của nhà nước mà bá có quyền. Bá sống thanh cao và ra đi thanh thản. Như suốt đời bá sống thanh thản, bí quyết của hạnh phúc của con người. Chúng ta rơi lệ vì tâm niệm sâu thẳm của nhà thơ. Ông hiểu linh hồn của những người như Bá Kim liên tiếp hòa nhập vào cây cỏ, biến thành cây cỏ. Và ông đã chắp tay vái lạy cõi người tươi đẹp bất tử này. Sự cung kính bạn đọc, cung kính cuộc đời, ấy là bí quyết thành tựu của Thơ nói riêng và văn nghệ nói chung. Văn chương trẻ mãi không già, phần chính nhờ những sắc màu tâm sự và sự cung kính như thế. Thơ Trần Nhuận Minh được tái bản liên tục, mười mấy lần trong hai thập kỷ. Song dường như nó chưa đến được với người yêu thơ rộng rãi như thơ Nguyễn Bính, một loại rượu cổ truyền, càng lâu càng đằm càng thần diệu. Mong nỗi bâng khuâng không đáng có mau qua đi và qua đi mãi mãi.

Cái vái lạy nói trên là bản lĩnh và niềm vui trường tồn của Trần Nhuận Minh và của người yêu thơ. Ông như muốn bộc bệch rằng Sức sống của thơ ca Việt Nam, hạnh phúc của thi sỹ Việt Nam nằm trong tâm hồn Việt Nam, đặc biệt trong nhu cầu của người dân thường Việt Nam được chia sẻ chí tình chí nghĩa.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 17.5.2018.


Quay Lên Đầu Trang

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004