Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





Nói Lại Câu Chuyện Tưởng Chừng Đã Khép

– Cải Tiến hay Làm Rối Tung Chữ Viết !



T rên diễn đàn các trang mạng vừa qua,PGS.TS Bùi Hiền đã gây sóng dư luận về vấn đề cải tiến chữ viết tiếng Việt.Ông cho rằng chữ quốc ngữ của ta (chữ Việt) hiện nay có nhiều hạn chế, thiếu khoa học như một âm có nhiều cách thể hiện, có những phụ âm không cần thiết .Ông đưa ra một bộ chữ cái (phụ âm) thay thế “khoa học” hơn, giúp mọi người ít viết sai, học sinh thoát khỏi ám ảnh lỗi chính tả và người nước ngoài dễ học tiếng Việt hơn… Ông cho biết công trình đã được nghiên cứu 20 năm nhưng chưa hoàn chỉnh.


Nhìn lại lịch sử hình thành chữ Quốc ngữ


Chữ Quốc ngữ là tiếng Việt được ghi âm bằng hệ chữ chữ cái La-tinh (bảng chữ cái a,b,c…). Khoảng từ thế kỷ XV-XVI, các giáo sĩ đạo Thiên Chúa từ Âu Tây tìm đến các nước phương Đông.Tại đây, họ đã đem bảng chữ cái La-tinh của người châu Âu ghi phiên âm tiếng nói các dân tộc bản địa.Bộ chữ La-tinh ghi tiếng Việt được các giáo sĩ như Francisco de Pina, Gaspar d’ Amaral, Antonio Barbosa… chế tác với sự cộng tác của nhiều người Việt, nhiều giáo sĩ khác. Thành tựu có ý nghĩa nhất là việc in được cuốn “Từ điển Annam, Bồ-đào-nha, La-tinh” (Dictionarium annamiticum, lusitanium et latinum) năm 1651, do Alexandre de Rhodes soạn. Lưu hành trong phạm vi truyền đạo, bộ chữ Việt dạng la-tinh được cải tiến nhiều lần, quan trọng nhất là sửa đổi của Pierre Pigneaux de Béhaine (cố Bá Đa Lộc), người khởi soạn “Tự vị Annam-Latinh” (1772-73), và được hoàn chỉnh bởi Tabert, người soạn “Nam Việt dương hiệp tự vựng” (in 1838).


Những đóng góp sửa đổi


Trong quá trình hình thành và phát triển mấy trăm năm,hệ thống chữ viết tiếng Việt - trước PGS.TS Bùi Hiền,một số nhà nghiên cứu dân tộc học và ngôn ngữ học đã đóng góp nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi,bổ sung nhưng tất cả dừng lại ở những gợi ý đề nghị tham khảo chờ nghe phản hồi từ thực tế.

- Ông Nguyễn Bạt Tụy (1920-1995) là người mở đầu xu hướng cải tiến chữ viết theo nguyên tắc âm vị học (mỗi âm vị được ghi bằng một ký tự hoặc cụm ký tự riêng biệt không trùng với cách ghi âm vị khác). Ông đã có những khám phá mới về âm vị tiếng Việt và đề xuất nguyên tắc ghi âm dựa trên âm vị (mà ông gọi là âm tiêu) trong cuốn Chữ và vần Việt khoa học (1950) và được hỗ trợ bởi những thí nghiệm tại Viện Phát âm Paris, nay là Viện Ngôn ngữ và Phát âm tổng quan và ứng dụng (ILPGA).

Nguyễn Bạt Tụy đã bỏ 2 chữ ă  â với lý do đó chỉ là a và ơ có giọng ngắn chứ không phải nguyên âm riêng biệt và dùng â để thay cho ơ.

Ông bổ sung 7 ký tự vào bộ chữ cái: ç (có trong tiếng Pháp) để thay ch, j để thay gi, z để thay d, ký tự phiên âm quốc tế ŋ (hoặc để nguyên ng cho tiện hơn) để thay ng  ngh, ñ (có trong tiếng Tây Ban Nha, hoặc nk cho tiện hơn) để thay nh, w để biểu thị bán nguyên âm thay cho o hoặc u (như eo thành ew, yêu thành iêw, loại thành lwạy, quá thành kwá), đặt dấu “>” (về sau dùng dấu “˘” cho tiện hơn) trên phụ âm cuối (hoặc bán nguyên âm cuối) để cho thấy nó đã tác động đến nguyên âm đứng trước thành nguyên âm ngắn để bỏ 2 chữ ă và â vẫn dùng với âm /ă/ (“á”) và /ɤ̆/ (“ớ”).

Ông còn thay đ bằng d, bỏ h trong gh, dùng k cho cả 3 chữ c, k  q, dùng x cho cả x  s, thay nguyên âm y bằng i (chỉ dùng y khi là bán nguyên âm ở cuối âm tiết).

Ông đã phát hiện ra rằng các cụm ký tự ch  nh ở đầu âm tiết và cuối âm tiết thể hiện những âm vị khác nhau, nên đề xuất viết chích thành çík, nhanh  thành ñeŋ + >.

Ngoài ra, Nguyễn Bạt Tụy còn có một số thay đổi khác như thay đổi các phụ âm cuối cho phù hợp với âm vị và việc thay ă  â trước chúng bằng a, thay ơ bằng â (ví dụ ac, ăc, ăn, ap, ăp, at, ăt, ay, ây, ec, êt, óc, ooc, ôc, ôt, ơi, ơm, ơn lần lượt thành ag, ak, an, ab, ap, ad, at, ey + >, êy + >, eg, êd, ók, og, ôg, ôd, ây, âm, ân).

Dấu thanh điệu được đánh đúng vào nguyên âm phát âm chính trong tổ hợp nguyên âm, ví dụ dìew (điều), lữây (lưỡi). Dù đã chú ý đến khó khăn của việc sắp chữ ty-pô và đánh máy chữ thời ấy (ông cho rằng các nhà in sẽ tự đúc con chữ mới thay cho việc nhập con chữ của Pháp). Cải cách của Nguyễn Bạt Tụy quá mới mẻ, triệt để và khó in ấn nên thoạt nhìn khá khác biệt và không được hưởng ứng.

- GS Hoàng Phê (1919-2005) đã dày công nghiên cứu và đề xuất cải cách chữ viết theo từng bước một, tránh gây sốc trong một chuyên khảo Vấn đề chữ quốc ngữ (1961). Bộ chữ cái được thêm các chữ f, w  z.

Ông cũng có những điểm đề xuất giống như của Nguyễn Bạt Tụy như thay đ bằng d, dùng k cho cả 3 chữ c, k  q, bỏ h trong g  ng, thay nguyên âm y bằng i (chỉ dùng y khi là bán nguyên âm ở cuối âm tiết), dùng w để biểu thị bán nguyên âm u, tiến tới thay cả bán nguyên âm o.

Ông đề xuất thay cả  d  gi bằng z, thay  ph  bằng f. Ông còn có những đề xuất khác để phiên âm tên nước ngoài. Tuy nhiên những đề nghị này không được thực hiện.

-PGS Phan Ngọc Trong cuốn  Hình thái học trong từ láy tiếng Việt  (2013), chỉ nêu cách cải tiến tối thiểu bám sát âm vị mà không gây nhiều xáo trộn.Ông viết: "Có lẽ nên giải quyết một vài hiện tượng gây rắc rối cho việc sử dụng và viết lại các nguyên âm cho ổn. Cần ra một tờ báo viết theo cách viết mới để giúp bạn đọc quen với cách viết này, sau đó mới bàn đến việc cải tiến chữ Quốc ngữ”.

Về âm vị phụ âm,ông dùng  c  thay cho cả 3 chữ  c,k     q ; dùng z thay cho cả  d     gi , bỏ  h  trong   gh     ngh ,  y   được thay bằng  i  (ví dụ: thay ay, ây  bằng  ăi, âi). Ông bổ sung  w  để ghi âm đệm thay cho  o     u : wa, wă, wâ, we, wê, wi, wơ  thay cho  oa/ua, oă/uă, oâ/uâ, oe/ue, uê, uy, uơ.

Như vậy,có 2 chữ cái bị loại bỏ (q     y ), còn  k  vẫn dùng trong  kh , 2 chữ cái mới được thêm vào là  w     z . 3 nguyên âm đôi  ia, ua, ưa thống nhất viết là  iê, uô, ươ  như trong trường hợp có phụ âm cuối (bia, thua, mưa  thành  biê,  thuô,   mươ).

Một số vần được viết lại ao, au  thành   au, ău;   ách, anh, eng  thành ec, eng,   eeng  (nhanh, xẻng  thành  nheng ,   xeẻng );  eo   thành  eu (nghèo   thành  ngèu ).Các âm cuối  ch,nh   sẽ thành  k, ng  (ếc, bệng, thíc).


Đề xuất của PGS.TS Bùi Hiền


Theo ông Bảng chữ cái tiếng Việt nên có thêm các chữ “f, j, z và w”, đồng thời bỏ hẳn các phụ âm ghép “ng, nh, ngh, gh, ch, tr”; bỏ hẳn chữ “đ”; sửa cách đọc một số phụ âm như c=tr, ch; x=kh… Ông đồng hóa các phụ âm tr-ch, s-x, z-d-gi-r… Thay phụ âm ng, ngh=q, c=k, kh=x… Thí dụ như “giáo dục” thành “záo zụk”,"ngôn ngữ" là "qôn qữ"…

Dư luận cho rằng sự bổ sung chỉnh sửa nêu trên thiếu căn cứ và không theo quy luật nào. Nhiều chữ cái Latin trong bảng chữ cải tiến không rõ dựa trên cơ sở nào để ghi âm đọc của người Việt như chữ q đọc là “ngờ”, w đọc là “thờ”, c đọc là “chờ”…? Đòi ghi đúng âm thì phải theo chuẩn quốc tế chứ không thể kí âm tùy tiện . Càng tranh luận càng rối, nhức óc…do vậy Bộ GD&ĐT phải lên tiếng tạm xếp lại.

Ngôn ngữ,chữ viết tiếng Việt qua thời gian dài phát triển đã trở thành công cụ sắc bén làm nên sức mạnh tinh thần dân tộc. Tất cả những đề xuất cải tiến từ trước đến nay đều không nằm ngoài mong muốn tiếng Việt ta ngày càng hoàn thiện,trong sáng tiện dụng phổ biến – Tuy nhiên “…Ngôn ngữ, dù là âm thanh hay chữ viết, đều là khế ước của cộng đồng, không cá nhân, thậm chí là nhóm người thiểu số nào, có thể áp đặt một cách duy ý chí. Đến mức quyền lực to như cụ Hồ cũng không thể áp đặt. Bằng chứng: cách viết gi thành j, c thành k, ph thành f, d thành z… của cụ thời đó cũng không ai học tập và làm theo. Ngay cả gợi ý thuần Việt hóa từ Hán Việt như “nữ ca sĩ” thành “người hát gái”, “nhà hộ sinh” thành “xưởng đẻ”, “phi công” thành “giặc lái”… của cụ bị người ta đem ra đùa vui, mặc dù cụ chưa bao giờ có ý đồ áp đặt.” (FB. Chu Mộng Long)

Vừa rồi ngày 14/01/2018, PGS.TS Bùi Hiền cho biết, Cục Bản quyền tác giả (Bộ VHTTDL) vừa cấp giấy chứng nhận ông là tác giả và chủ sở hữu của công trình nghiên cứu cải tiến chữ viết tiếng Việt. Chia sẻ xung quanh vấn đề này, PGS.TS. Phạm Văn Hảo,Tổng biên tập Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, Hội ngôn ngữ học Việt Nam cho biết, cần phải phân biệt rõ ràng “vấn đề cấp giấy chứng nhận bản quyền” và “giá trị khoa học của tác phẩm”. “Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Không phải được cấp giấy chứng nhận bản quyền tác giả thì tác phẩm của ông Hiền có giá trị khoa học. Ông ấy đi đăng ký bản quyền như thế với mục đích giảm bớt đàm tiếu của xã hội trong thời gian qua. PGS Bùi Hiền đang dựa vào một “chứng chỉ” của cơ quan nhà nước để khẳng định giá trị tác phẩm mà ông nghiên cứu - Ở góc độ khoa học, đề xuất của PGS Bùi Hiền không khả thi và không thực tiễn bởi lẽ tiếng Việt đã ổn định qua nhiều năm.”

Về mặt xã hội, hậu quả của việc cải tiến tiếng Việt mà PGS.TS. Bùi Hiền đưa ra nếu được chấp nhận sẽ vô cùng khủng khiếp. Riêng chuyện làm lại chứng minh thư, làm sổ hộ khẩu, tên đường phố… thì hàng triệu, hàng triệu thay đổi trong khi chữ viết không có gì mắc mớ đến mức phải làm một cuộc cách mạng như thế. Bên cạnh đó, trong hệ thống con chữ của PGS.TS. Bùi Hiền đưa ra thiếu tính hệ thống. Tóm lại, đề xuất của PGS Bùi Hiền cả về nguyên tắc viết chữ, thói quen sử dụng con chữ đều không có giá trị.(nguồn kienthuc.net.vn)


Nói lại câu chuyện tưởng chừng đã khép để có dịp nhìn rõ hơn diện mạo tiếng Việt - thứ công cụ hàng ngày chúng ta quen sử dụng đê tư duy,giao tiếp như “cơm ăn nước uống”,nhưng có lẽ ít ai tẩn mẩn xăm soi hình vị cấu trúc con chữ làm gì (trừ các chuyên gia Ngữ học). Nhìn rõ để trân quý giữ gìn vũ khí tiện lợi,tinh tế,sắc bén - là chất keo kết dính, làm nên sức mạnh văn hóa đoàn kết dân tộc,phát triển đất nước, hội nhập toàn cầu.

Cải tiến là sửa đổi làm tốt hơn chứ không nên “nhiệt tình” làm rối tung,rối mù,để rồi “toàn thể nhân dân”cùng mắc kẹt trong đống bùng nhùng.Nhìn sự việc như thế,tôi lại xoay ra thầm“cám ơn” PGS.TS Bùi Hiền đã nêu ra một phản đề thu hút được sự quan tâm “rầm rộ” của mọi người Việt trong và ngoài nước. Cám ơn truyền thông - nói nôm na,đã “giương cung” cho bạn đọc “lắp tên” góp ý làm sáng rõ vấn đề !


(Saigon,14/01/2018) - Bài viết tham khảo nguồn internet.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 21.01.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004