Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






THIỀN CA 9, 4, 1 CỦA PHẠM DUY










 P hạm Duy từng được giới yêu nhạc tôn vinh là “phù thủy âm nhạc”. Chính những sáng tác của ông đã minh chứng điều đó. Thời gian sống ở nước ngoài, ông vẫn sáng tác đều đặn, trong đó có “Thiền Ca”. Có thể nói rằng, chính cuộc đời thăng trầm, lúc này, lúc nọ, lúc được yêu thương, lúc được ghen ghét, lúc trầm luân trong cõi tục lụy, lúc thăng hoa trong chốn phiêu bồng đã tạo nên 10 bài thiền ca đi vào cõi thực, chốn mơ, cõi nhân sinh, chốn vô thường vô lượng kiếp.

Mười bài thiền ca như vàng mười ngời ngời tồn tại cõi trần gian. Từ “Thinh Không” đến “Võng” cùng “Thế Thôi”, từ “Không Tên” đến “Xuân” và “Chiều”, từ “Người Tình” đến “Rắn”, từ “Thiên Đường Địa Ngục” đến “Nhân Quả”, mỗi bài có cách cảm, cách nghĩ riêng, nhưng đều tồn tại chất thiền như sự chứng ngộ của ông khi đã thấm đòn con tạo.

Nhưng, trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin nêu một vài suy nghĩ của mình về 3 bài trong số 10 bài “Thiền Ca” của Phạm Duy.

Trước tiên là bài Thiền Ca 9 (Thiên Đường Địa Ngục). Ca từ đầu tiên vẽ ra cõi Thiên Đường:


Vượt chín tầng mây tới Thiên Đường này

Tìm em chín nắng và chín mưa bay

Thấy em khỏa thân đứng bên Ngọc Hoàng

Nữ thánh, nam thần, đèn đóm sáng choang.

Làn gió trần gian thoát lên tầng trời

Làm cho huyên náo một cõi Thiên Thai

Gió tôi lên thì tắt đi đèn đóm

Mới hay Thiên Đường kia cũng tối om”


Cảnh Thiên Đường, đâu dễ đến. Phải “vượt chín tầng mây” mới tới được. Lạ ở chỗ, không phải đến Thiên Đường chỉ vì bản thân, mà đến chỉ vì “tìm em”. Mà ở đây “tìm em” những “chín nắng”, “chín mưa bay”. Quả là, đâu dễ gì đến Thiên Đường! Theo tôi nghĩ, dù có đến được Thiên Đường có Ngọc Hoàng, có nữ thánh, nam thần, mà chẳng có “em” thì Thiên Đường cũng chẳng là gì! Chính “em khỏa thân” mà Thiên Đường rực rỡ, “sáng choang”. Còn riêng “gió tôi” dù có đến Thiên Đường cũng chỉ làm huyên náo cõi Trời, làm đèn đóm tắt, tối om. Lời ca như trộn lẫn “em” và “tôi” cho người nghe cảm nhận rằng chốn Thiên Đường có một phần tăm tối. Chính phần tăm tối ấy là Địa Ngục:


Chín vạc dầu sôi đường vào Địa Ngục

Gặp em bội tình, tội gốc em mang

Em chọn nhục hình, giàn thiêu lửa đốt

Lửa cháy ngụt ngàn quỷ sứ la vang

Khổ lụy tận cùng là thoát đau thương

Tưởng Địa Ngục đen, ngục sáng hơn đèn”.


Em ở Địa Ngục và em chọn sự trừng phạt “nhục hình”, "giàn thiêu lửa đốt” như là trả nghiệp “bội tình”, đốt thiêu “tội gốc”. Em như hóa thân trong lửa cùng tiếng la vang của quỷ sứ: “Khổ lụy tận cùng là thoát đau thương/ Tưởng Địa Ngục đen, ngục sáng hơn đèn”. Địa Ngục giờ như sáng rỡ là vì có “em”.

Thiên Đường, Địa Ngục chính là “em”. Thôi thì cứ tìm “em” để trăn trở phận người…

Nghe ca từ cả bài, tôi cảm nhận rằng, chính cuộc sống của “tôi”, của “em” là Thiên Đường, Địa Ngục. Và chính cuộc sống này là nơi “tôi” và “em” phải trải nghiệm, tập thiền. Chất thiền theo ca từ trong bài này, theo tôi rất trần tục! Chính trần tục cho ta thấy cõi Thiên Đường cũng như chốn Địa Ngục. Và khát khao sống chính là:


Tìm em cao thấp chỉ là ảo vọng

Thôi! Ở lưng chừng

Nhớ nhau mà sống”.


Còn đây là bài Thiền Ca 4 (Không Tên). Như Phạm Duy đã nói về nội dung bài này: “Không tên là vô danh, không háo danh, khướt từ danh vọng”. Nói là nói vậy, chứ thật ra không sự vật, bản thể nào lại không tên. Nói không tên là để nói về cái tâm của chủ thể “lòng tôi”. Nghe cả bài, ta thấy cái tâm của chủ thể rộng lớn dường nào!


Một loài hoa không tên

Không sắc không hương

Mà như lòng tôi

Lộng lẫy thơm lừng

Tỏa ra bốn hướng


Một ngọn suối không tên

Bé nhỏ, ngoan hiền

Mà như lòng tôi

Nổi sóng lên đường

Thành bốn trùng dương


Và lòng tôi không tên

Như suối, hoa tiên”.


Đặc biệt, bài Thiền Ca 1 (Thinh Không), đây là bài mà tôi thích nhất. Lời ca như tan biến vào không gian, thời gian:


Thinh không

Trống trải mênh mông

Rộng rãi vô cùng

Cao thấp vô lường

À à a a bỗng

Đầy ắp sinh trùng

Tất cả là tôi

Mà cũng là chung…


Thinh không

Vắng vẻ trầm ngâm

Lặng lẽ âm thầm

Yên tĩnh vô cùng

À à a a bỗng

Rộn rã tưng bừng

Nhất nhất trùng trùng

Nhưng cũng là không”…


Tôi thích bài này bởi ca từ rất chọn lọc, mang hơi thở của thiền gắn với cuộc sống. Đoạn đầu của bài này vẽ ra một thinh không không giới hạn bởi không gian, thời gian. Tưởng thinh không chỉ có “trống trải”, “mênh mông”, “rộng rãi”, “cao thấp” “vô cùng” - “vô lường”, ai ngờ lại “đầy ắp sinh trùng”. Và cái tôi đã chuyển hóa thành cái chung của muôn loài. Còn đoạn hai của bài là tưởng là một thinh không vô âm - “vắng vẻ”, “lặng lẽ”, “yên tĩnh”, nhưng ai ngờ lại “rộn rã tưng bừng” để tất cả như hợp nhất, như sinh sôi, rồi trở về cõi thinh không.

Chất thiền của bài này, theo tôi nghĩ, đó chính là sự sống của muôn loài giữa cõi thinh không. Nghe cả bài, tôi như bay theo từng giai điệu âm thanh của ngôn từ. Tôi như lắng lòng, như thấy mình “Tất cả là tôi/ Mà cũng là chung”… Tôi như thấy trong tâm “Nhất nhất trùng trùng/ Nhưng cũng là không”…

Mỗi người có cách cảm nhận riêng về những Thiền Ca của Phạm Duy. Còn riêng tôi, nhất là khi nghe 3 bài trên, tôi như thấy mình thêm yêu cuộc sống trần gian này.


Tháng 01/ 2017



.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ ĐàNẵng ngày 14.03.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004