Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Chợ Tết




NGÀY XUÂN VUI CÙNG MỘT BÀI THƠ TẾT




TẾT PHONG LƯU


Năm ngoái năm kia đói miệng chết

Năm nay phong lưu đã ra phết

Thóc mùa thóc chiêm hãy còn nhiều

Tiền nợ tiền công chưa trả hết

Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng

Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt

Ta ước gì được mãi như thế

Hễ hết tết rồi thời lại tết.


NGUYỄN KHUYẾN


(Theo Văn đàn bảo giám của Trần Trung Viên Hư Chu)


Nguyễn Khuyến(1835-1909) là người quê làng Yên Đỗ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam còn có tên là Thắng, hiệu Quế Sơn. Người đời thường gọi ông là Tam Nguyên Yên Đỗ vì ông từng đổ đâu cả ba kì Thi Hương, thi Hội, thi Đình dưới triều vua Tự Đức. Con đường làm quan của Nguyễn Khuyến khá hanh thông, có lúc lên đến chức tổng đốc. Nhưng ở chốn quan trường chỉ hơn mười năm ông đã sớm cáo quan về quê dạy học và sống thanh bạch cho đến cuối đời do không muốn thấy những cảnh trái tai gai mắt của xã hội phong kiến suy đồi. Nguyễn Khuyến làm thơ nhiều thể dạng, nhiều đề tài, Nhưng nức tiếng nhất vẫn là thơ Nôm với chùm thơ mùa thu đặc sắc: Thu điếu, thu ẩm, thu vịnh. Sống với nông thôn, vị quan cáo lão hồi hưu với thái độ “Minh triết bảo thân” như nhiều kẻ sĩ đương thời lúc nào tấm lòng cũng gắn bó với những thôn dân quê nhà. Ông đã vui buồn cùng họ, hòa mình vào cuộc sống thường nhật của họ nên những bài thơ ông viết lúc này đều thể hiện điều đó. Trước khi đến với “Tết phong lưu” trên đây, Nguyễn Khuyến đã từng lo buồn, xót xa trong bài thơ “Chợ Đồng”, một phiên chợ họp sớm ngày 24 tháng chạp trong một năm mất mùa, đói kém với cảnh:

Hàng quán người về nghe xáo xác

Nợ nần năm trước hỏi lung tung..

(Chợ Đồng- Văn đàn bảo giám)


Vậy nên, Tết năm nay được mùa, dân chúng ấm no, cái Tết đến trong thơ Nguyễn Khuyến đầy chất trào phúng và đầy tiếng cười vui. Tấm lòng nhà nho yêu nước, thương dân lại rộng mở qua từng câu thơ dí dõm, duyên dáng.


Năm ngoái năm kia đói miệng chết

Năm nay phong lưu đã ra phết


Ngay mấy câu thơ đầu, phần khai đề, bài thơ đã mở ra tiếng cười tràn ngập niềm vui. Chỉ như những câu nói ngoài miệng, ta có cảm giác ai đó trong thôn làng đang cất tiếng reo vui, hỉ hả từ “Đói miệng chết” đến “phong lưu đã ra phết”. Cái khéo nhất, đặc sắc nhất của bài thơ là cách gieo vần. Nhà thơ chọn vần “ết” tức vần trắc, một loại vần rất khó gieo mà người xưa thường gọi là “khổ vận” hoặc “tử vận” để gieo suốt bài thơ Đường thất ngôn bát cú, loại thơ độc vận (một vần cho suốt bài, gieo ở câu 1, 2, 4. 6.8). Vần “ết” lại trùng với chữ Tết nên suốt bài từ chết, phết, hết, thịt, Tết đọc lên nghe xôn xao, rộn ràng âm hưởng Tết.

Và đúng như tựa đề, bài thơ từ tiếng cười vui ban đầu đã mở ra một cái “Tết phong lưu” tức Tết phong phú, sung túc mọi thứ. Hãy nghe tiếp hai câu thừa và hai câu chuyển:


Thóc mùa thóc chiêm hãy còn nhiều

Tiền nợ tiền công chưa trả hết

Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng

Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt


Rõ ràng nhà thơ như đang kể, đang khoe về sự no đủ của Tết năm nay. Thóc mùa, thóc chiêm, hai vụ lúa trong năm vẫn còn đầy bồ, tiền thì còn dư thừa.. Phải hiểu câu “Tiền nợ tiền công chưa trả hết” như một cách nói hoán vị nghĩa là tiền nợ, tiền công đã trả xong, đã thanh toán xong mà tiền vẫn chưa hết mới thấy ý nghĩa của Tết phong lưu. Chưa hết, ngoài lúa thóc tiền bạc dư giả, những câu sau chính là sự tưng bừng rộn rả của không khí Tết ở khắp nơi: Trong nhà, ngoài cửa, kẻ lo gói bánh chưng, người lo mổ heo chia thịt Tết.. Bốn câu thơ với từng cặp đối theo luật thơ Đường vừa giúp ta hình dung được những phong tục, những hình ảnh về cái Tết rất truyền thống cùa một vùng quê ngày xưa lại vừa cảm nhận được cái không khí vui tươi, náo nhiệt của những cái Tết được mùa, no ấm. Những câu thơ như thể hiện niềm vui sướng hạnh phúc mà người viết đang nhiệt tình chia sẻ cùng những người nông dân chân chất, hiền hòa. Những từ “Rộn rịp, bi bô” quả rất gần gũi, thân thiết với cuộc sống đầy hình ảnh, âm thanh của đời thường.

Chính vì thế, nhà thơ không thể không bộc lộ suy nghĩ, tâm trạng của mình qua hai câu cuối cũng là hai câu “Hợp”:


Ta ước gì được mãi như thế

Hễ hết tết rồi thời lại tết.


Vị tam nguyên Yên Đỗ không viết hoa chữ tết nhưng sao kẻ viết bài này cứ muốn viết hoa thật đẹp, thật lớn hai chữ Tết trong câu thơ. Bởi điều mơ ước của nhà thơ đẹp quá, tấm lòng ưu ái nhân dân của vị “quan triều Nguyễn cáo về đã lâu”* kia cao cả quá! Cái Tết ông đang mong ước cho dân chính là một cái Tết no đủ, hạnh phúc như thế. Có thóc gạo đầy bồ, tiền bạc rủng rinh, có bánh chưng xanh câu đối đỏ trong nhà, có nồi thịt thơm phức trên bếp ..để mọi người có thể vui vầy, thư giản trong mấy ngày xuân mà quên đi bao cực nhọc, vất vả suốt một năm dài.

Còn nhớ trong một mùa xuân khác, Nguyễn Khuyến từng nhìn lại bản thân trong tiếng than buồn:


Sách vở ích gì cho buổi ấy

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già

(Cảm xuân- Văn đàn bảo giám)


Vậy nên hiếm hoi lắm vị thi sĩ nông thôn ấy mới được nhìn một cái Tết vui. Nói sao ông không trải rộng lòng mình với cụm từ “Ta ước gì” đầy cảm xúc thế kia!

Đắm mình trong một mùa xuân mới, dù cách xa tam nguyên Yên Đỗ hơn trăm năm, có lẽ những điều ông từng cảm nhận, những ước mơ suy nghĩ của ông cũng như tấm lòng ưu ái đối với nhân dân kia vẫn chưa hề xa lạ với chúng ta. Và vì vậy, “Tết phong lưu” vẫn thấp thoáng đâu đó để ta cùng chia sẻ với nhà thơ niềm mơ ước:


Ta ước gì được mãi như thế

Hể hết tết rồi thời lại tết.


*Câu thơ trong Di Chúc:

“ Đề vào mấy chữ trong bia
Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ CầnThơ ngày 05.01.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004