Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





HÌNH TƯỢNG NGƯỜI THỢ LÒ QUA

TIỂU THUYẾT “ÁNH ĐÈN LÒ” CỦA VŨ THẢO NGỌC









T ừ cổ chí kim, Vũ Thảo Ngọc là nhà văn nữ duy nhất của Việt Nam trưởng thành từ người thợ (trước chị, có Nhà thơ Hoàng Việt Hằng từng là công nhân Nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, Công ty Xây dựng số 1 Hà Nội, nhưng thời gian làm thợ không nhiều). Trước khi vào học Khóa 6, Trường Viết văn Nguyễn Du, Vũ Thảo Ngọc từng làm thợ bơm nước moong, Mỏ than Cọc Sáu - một công việc vô cùng vất vả. Sau khi tốt nghiệp, chị về làm Thư kí Tòa soạn Báo Hạ Long; hiện chị là chuyên viên, đặc trách công tác văn hóa, văn nghệ của Tập đoàn TKV. Chị đã cho xuất bản trên 20 đầu sách với các thể loại: Truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, tiểu luận văn học, thơ. Nhiều tác phẩm của chị đã đoạt giải thưởng văn học của tỉnh Quảng Ninh; của Tổng Liên đoàn Lao động VN; của Hội Nhà văn và nhiều giải thưởng khác. Tiểu thuyết “Ánh Đèn Lò” là tác phẩm mới nhất của chị, do Nxb. Lao động ấn hành quý IV năm 2016. (Lời CM- TPM)

Tôi được nhà văn Vũ Thảo Ngọc gủi tặng cuốn tiểu thuyết “Ánh Đèn Lò” mới in quý IV năm 2016. Sau đó là lời nhắn : Anh đọc để chia sẻ với Ánh Đèn Lò.

Tôi biết chị nguyên là thư ký Tòa soạn Báo Hạ Long. Khi chị làm biên tập cho báo HL chị đã nói“Tôi ghét sự lười biếng của người làm biên tập không đến đầu đến đũa đọc qua loa biên tập qua loa…người biên tập phải có trách nhiệm làm cho nó sáng lên, hay hơn mới hết trách nhiệm…” (Báo Hại Long số 486 ngày 20-6-2015).

Tôi nghĩ trong sáng tác tác phẩm Văn học của mình chắc chắn chị cũng đặt ra tiêu chí đó để thực hiện : Luôn nêu cao tính trách nhiệm, làm việc kỹ lưỡng, căn cơ trong ngôn từ, không qua loa đại khái.

Bài báo của chị : “Mùa Xuân ở phía con đường đã chọn” trên Báo Hạ Long số Xuân Ất Mùi, chị cũng đã viết : là người đam mê văn chương, chữ nghĩa nên tất cả những gì thuộc về…vật chất chúng tôi đều ‘ chẳng coi là gì’ và mải miết phía con đường văn chương đầy khổ ải và mong ước nhân vật của mình sẽ bay lên cùng trời cuối đất, dù không là hôm nay thì sẽ là ngày mai”

Tôi cũng được đọc “Thức cùng trang viết”( Tiểu luận và phê bình- NXB VH- Quý III-2014) của chị.

Tôi đã đọc hình tượng người thợ Mỏ trong sáng tác của Nguyễn Sơn Hà của Phạm Học. Tác giả viết về Nguyễn Sơn Hà : “ Nhà văn Nguyễn Sơn Hà thuộc đội ngũ những người viết văn về đề tài người thợ mỏ và công nghiệp khai thác than từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước. Gần như tất cả những sáng tác của ông đều viết về Vùng Mỏ…” ( Báo Hạ Long 520 ngày 20-11-2016).

Tôi cũng đã đọc” Sáng tác Văn chương về người thợ Mỏ, những thử thách không dễ vượt qua” () Báo HL 517 ngày 5-10-2016) của Trân Nhuận Minh . Ông đã nêu lên tất cả nhà văn nhà thơ sống làm việc trên đất Mỏ . Về Văn ông nhắc đến : Võ Huy Tâm,Nguyễn Dậu, Võ Khắc Nghiêm, Sĩ Hồng., Nguyễn Sơn Hà, Trần Tâm…Về thơ ông nhắc đến Mai Phương, Thi Sảnh, Yên Đức, Trịnh Công Lộc, Lê Hường, Hoàng Tháp , Vũ Thế Hùng, Đức Doanh…

Ông đã viết về Vũ Thảo Ngọc : “ Có người dường như cả đời cầm bút chỉ thủy chung với đề tài than như Vũ Thảo Ngọc dù là tiểu thuyết truyện ngắn hay bút ký…”

Tiểu Thuyết “ Ánh Đèn Lò” của Vũ Thảo Ngọc ra mắt trình làng lần này lại khẳng định lời nói của ông là đúng.

Ông viết tiếp : “ Những thành tựu trên, của các thế hệ tác giả là một hiện tượng có thật, chứng tỏ dòng văn học viết về những người thợ Mỏ đã tồn tại khách quan như một bằng chứng lịch sử vẻ vang phong trào công nhân, góp phần làm giầu có thêm những giá trị văn hóa và tinh thần của thời chúng ta đã sống và đang sống”

Khi công tác ở Vùng Mỏ, tôi đã đọc một số tác phẩm viết về công nhân mỏ như Tiểu thuyết Vùng Mỏ của Võ Huy Tâm. Than Mặt Quỷ của Trần Chiểu. Miền Đất Đỏ của Trần Tâm. Thợ Lò cũng là chiến sĩ của Đoàn Kiển. Những Sắc Màu Than của Nguyễn Huy Trợ .Đá Cháy của Trần Nhuận Minh , nhưng xem ra toàn của Đấng Mày Râu viết cả, cho nên hôm nay được đọc Tiểu Thuyết “Ánh đèn lò”của Nữ Nhà Văn Vũ Thảo Ngọc viết về Mỏ lại càng làm cho chúng tôi thích thú hơn, và quý trọng chị hơn.

Tôi đã đọc tiểu thuyết “Ánh Đèn Lò” một mạch. Đúng như lời giới thiệu”Ánh Đèn Lò” lấp lánh như những vì sao của ông Đoàn Kiển . Ông Kiển viết : Những câu chuyện có thật tưởng như tản mạn của những “gã thợ lò”, của những giám đốc Mỏ, của chị em nhà sàng, thợ nhà đèn hay của những nhà quản lý ở đâu đó trong các mỏ than, ở cả vùng mỏ đã được tác giả xâu chuỗi, kết nối và chuyển hóa một cách khéo léo và sinh động thành câu chuyện hay xuyên suốt cuộc đời làm thợ chống cuốc hầm lò của “gã thợ lò” Đào Văn Đáo.

Chị đã viết vể cái Ánh đèn lò thật đẹp với tâm trạng đầy cảm xúc yêu thương với người công nhân mỏ, lời văn mượt mà dễ đọc vốn có của chị : “ Chỉ cánh thợ lò mới thấu hiểu cái ánh đèn lò của mình dẫn đường cuộc đời một người thợ đào lò đi và đến như thế nào. Cái ánh đèn trên mũ lò như đôi mắt thứ hai của một người thợ lò để họ dấn bước từng ngày trước gương than. Cái ánh đèn lò ấy như người bạn đồng hành cùng người thợ để anh chinh phục những tầng than trong lòng đất tối thui trong suốt cuộc đời. Cái ánh đèn lò như người anh,người bạn, như người yêu để cùng anh vững bước một khi vào ca. Với Đáo ánh đèn là ngôi sao vĩnh cửu dẫn dụ anh từng bước dù thành công hay thất bại thì luôn là ngôi sao hộ mệnh cho anh vững tin vào cuộc đời. Và mắt Đáo cũng chỉ quen với ánh đèn lò là thế, vì vậy mà mỗi khí được nghỉ ngơi ra ngòai phố anh nhìn cái gì cũng thấy …lóa.”.

Chị đã tự thú trong lời bạt cuối sách, muốn viết trực diện về thợ lò thực khó. Dù tôi mới…có ba lần được đi thực tế vào lò chợ cùng cánh thợ lò ở Mỏ than Nam Mẫu, Mỏ than Khe Chàm, mỏ than Mạo khê…”

Tôi cũng biết chị từng làm công nhân vận hành bơm thoát nước đáy mong than Cọc Sáu nên ngôn ngữ lời ăn tiếng nói của chị dùng khá nhuyễn đúng là của cánh thợ lò : Chị tả bữa tiệc gia đình : “ Vợ chồng Đáo trịnh trọng áo dài, comlpe ngượng ngập như ngày làm đám cưới. Hai vợ chồng tay trong tay đi nâng rượu mời mọi người. Ánh mắt của hai vợ chồng Đáo như ánh sao lấp lánh lại như ánh đèn lò của Đáo mỗi khi vào ca…”

Chị tả về người Giám đốc mỏ khi lò mỏ gặp sự cố hiển hiên ra trước mắt mọi người : “ Trong cuộc đời làm giám đốc lâu năm như Nam, anh không bao giờ quên cái đận ở lò Bình Minh để xây ra vụ nổ khi mê tan làm thiệt mạng mười chín thợ mỏ! Đó là nỗi đau vô cùng to lớn của đời anh, nó luôn là nỗi đau dai dẳng và một món nợ với những người thơ lò trong anh. Rồi nhiều vụ tai nạn đáng tiếc xẩy đến với cánh thợ lò, như bục nước đường lò khai thác, bị mưa lũ bên ngoài nhấn chìm đường lò và rất nhiều người thợ nhiều thế hệ đã không may mắn được cống hiến trọn vẹn cho dòng than tuôn chảy, là nỗi âu lo của vợ con công nhân mỏ khi mất việc làm, khi một đường lò nào đó bị ngừng trệ khai thác…

Chị đã có những đoạn văn đặc tả rất hay về tình cảm vợ chồng Nam Thu : Nam nhận quyết định ra Quảng Ninh công tác với bao nỗi niềm. Biết Thu buồn nhưng không dám nói ra. Trước ngày đi, Nam đã có những lời có cánh với Thu : Em ạ! Anh biết em buồn vì phải xa nhau nhưng em cứ để anh ra công tác ngoài đó, anh thề sẽ phấn đấu cả cuộc đời này vì tình yêu của em. Chị đã đi sâu vào tâm lý của người vợ nói lên cái suy nghĩ của Thu “ Thu chỉ biết ngớ người vì thường ngày Nam rất tếu táo, nhưng khi nói đến việc này Nam bỗng trở thành người đàn ông chững chạc! Mãi sau này, mỗi khi có dịp ôn nghèo kể khổ, Thu thường phá lên cười vì không hiểu về lý do gì mà mỗi câu nói tỏ vẻ đàn ông ấy của Nam mà làm Thu xiêu lòng không năn nỉ anh ở lại Hà Nội nữa.

Chi đã viết về cái chất công nhân của người thợ lò :Bộc trực thẳng thắn : Đáo đã nói lên cái sự suy nghĩ của mình : “Tôi phản đối những ý nghĩ đen tối của các anh, các anh hãy làm một thằng thợ lò như tôi trong lò…Các anh đừng cậy quyền này nọ mà áp đặt sự việc với động cơ xấu xa. Các anh có còn nhớ vụ bục nước ở mức âm 130 năm kia không, Ai có chứng kiến cái chết của anh em trong lò mới thấu được hành động của tôi, năm đó, khi chúng tôi cùng lực lượng cứu hộ vào, cái ngách lò thượng ấy cái ngách mà chúng tôi vẫn thường chờ những cơn gió tự nhiên thổi vào, khi nước dâng ngập, anh bạn thợ lò của tôi không thể thoát được đã dán mình vào đó mà trút hơi thở cuối cùng. Chỉ có thợ lò mới đặc tả được cái chết tức tưởi như vậy được…Ấy vậy mà Nhà văn Thảo Ngọc đã tả được cái chết một căn kẽ, chứng tỏ chi đã tìm hiểu rất sâu kỹ công việc lò bễ. Chị đã có một câu nói làm cho cán bộ quản lý phải giật mình : Trong lò tối thui nhưng lòng thợ lò chúng tôi sáng không tối đen như các anh. Thế đủ chưa thưa các ông cán bộ.

Chị đã tập hợp vào hàng ngũ thợ lò trong Ánh Đèn Lò với đủ các thành phần : Từ anh nông dân nông thôn đến, Anh Công nhân Quân khí chuyển về, Anh trí thức ở thành phố ra, đến cô gái tiểu thư đài các theo chồng, những thanh niên xung phong chuyển ngành… chín người mười suy nghĩ, nhưng rôi tất cả đều Kỷ Tâm ( Kỷ luật- Đồng tâm ) …đều đã đến với vùng mỏ xa xôi, lớn lên và trưởng thành.

Trong cuộc sống ở Mỏ không gì là không thể diễn ra : Hỷ Nộ Ái Ố. Cũng có lừa lọc gian dối, tham lam : Chị tả về Nguyễn Phô quản đốc phân xưởng bằng câu nói phi đạo lý : Tôi nói cho các anh biết, đừng có hỏi han linh tinh, lang tang, số lượng đó là do tôi đi ngoại giao với cấp trên về sản lượng của phân xưởng mà ra. Nếu không khai khống sản lượng thì làm sao có lương cao thế.Các anh tưởng các anh đào, cuốc giỏi à. Không có đâu nhá. Nếu thằng Phô này mà không khéo léo ngoại giao thì còn lâu phân xưởng mới có năng suất cao như thế….

Chị đã kể cho bạn đọc nghe một câu chuyện nực cười hết chỗ nói : Úi giời ơi là giời. Con đĩ kia thì gác cửa giếng bên trên, thằng đực kia thì gác cửa giếng phụ, phải mê nhau lâu rồi. Không hiểu sao cả hai dám bỏ ca, mỗi đứa chạy một nửa cái giếng phụ dốc ngược đó rồi dính với nhau. Hahaha…Đang hành sự thì ông giám đốc Nam lại đi tới nơi…Chị chỉ lướt qua cho bạn đọc vui vẻ, rồi chị có cái kết rất nhân văn để đi vào công việc đời thường, chỉ cái tình của than mới có : Nghe trình bày xong ông tha bổng. Ông bảo hai đứa lập tức báo cáo công đoàn phân xưởng để chủ nhật tổ chức đám cưới. Ông giám đốc sẽ làm chủ hôn…hahaha…

Chị tả vể “Gã thợ lò” Đáo thật chi tiết hấp dẫn, chị đã lột tả được nhân cách của người thợ lò thật thú vị : Có lẽ cái tính lì, cái bản tính gan góc từ nhỏ đã

hình thành nên một gã thợ lò cóc tía sau này của Đáo…trong lò sâu không phải lúc nào cánh thợ cũng được đối mặt với những gương than nục nạc, nhiều khi gặp phải những vỉa than có kẹp xít hay đá rắn thậm chí có nhiều vỉa “vách sa, trụ nổi”… Dù đã có những chiếc ống thông gió to đùng thổi sâu vào trong lò gió tươi để duy trì dưỡng khí mà thở nhưng áo của cánh thợ chống cuốc lúc nào cũng ướt sũng mồ hôi. Những chiếc áo có thể vắt ra cả vài lít nước trong một ca lao động…Trong Ánh đèn lò còn có rất nhiều công việc, hành động cụ thể chi tiết được chị đưa vào một cách rất tự nhiên, tinh tế, hấp dẫn, thú vị : Nào chuyện vợ chồng muốn bỏ nhau, nào việc đi tán gái của cánh thợ trẻ, chuyện mát mẻ của cánh thợ đã có tuổi thích “ăn chả”. Rồi chuyện bóng bàn của những cầu thủ hiếu thắng, chuyện bóng đá nữ mặc quần soọc chạy lông nhông trên sân….

Để kết thúc bài viết của mình, xin nói về bữa cơm gia đình của “Gã thợ lò” : Bữa cơm tiễn con vào đại học…không niềm vui nào hơn cái niềm vui ngọt ngào, cái thành quả đặc biệt của vợ chồng Đáo bao năm qua gắn bó với đất mỏ… chả ai nghĩ con mình lại có thể bước vào cổng trường đại học…Giờ chân trời của con thật cao vời vợi… Liên đã thốt lên : Thằng Để giỏi quá, nó xa hẳn vòng tay cha mẹ rồi. Nó học xong đại học nó có thèm về mỏ không hả bố Đáo?...

Gã thợ lò trả lời thế nào xin bạn đọc xem Ánh Đèn Lò…

Để dừng bút, tôi xin trích và ghi lại lời bạt với tiêu chí của chị : Là người viết bao giờ cũng muốn viết hay, độc đáo, lạ và hấp dẫn phục vụ bạn đọc, nhưng với tôi chỉ mong những trang viết của mình được tri ân và chia sẻ cùng những người Thợ Mỏ mà tôi là một người đang đứng trong đội ngũ trùng điệp đó – Thợ Mỏ Việt Nam.


( Viết sau khi đọc “Ánh đèn lò” của nv Vũ Thảo Ngọc)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Uông Bí ngày 27.12.2016.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004