Việt Văn Mới
Việt Văn Mới








TƯ TƯỞNG VÀ HÌNH THỨC TRUYỆN KIỀU,

THƠ CHỮ HÁN, VĂN CHIÊU HỒN CỦA NGUYỄN DU









T ruyện Kiều, thơ chữ Hán và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du có mối liên hệ chặt chẽ với nhau… Các yếu tố hình thức truyện Kiều như mùi vị, âm thanh, ngữ âm và một số môtip khác…Tác phẩm của chúng tôi sẽ chỉ ra những sáng tạo, những tiếp biến đầy đủ cá tính của nhà thơ trong truyện Kiều…

Vài trích lược quan yếu trong lời nói đầu về sách TƯ TƯỞNG VÀ HÌNH THỨC TRUYỆN KIỀU, THƠ CHỮ HÁN, VĂN CHIÊU HỒN CỦA NGUYỄN DU do tác giả Trần Ngọc Hồ Trường – Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa biên soạn.

Với dung lượng 238 trang trên khổ giấy 14,5 x 20,5cm. ĐKXH số 1650 – 2016/CX/BIPH/26 – 100/ĐHQGTPHCM. Quyết định XB số 173/QĐ của NXBĐHQG – HCM cấp ngày 18-7-2016, Trần Ngọc Hồ Trường đã lập trình sách gồm 2 chương – Chương I - tựa đề đã kiến dẫn với 10 tiêu luận dàn trải. Chương II- Hình thức truyện Kiều qua 19 trình tự dẫn bình .


CHƯƠNG MỘT – TƯ TƯỞNG TRUYỆN KIỀU, THƠ CHỮ HÁN và VĂN CHIÊU HỒN CỦA NGUYỄN DU.

1-Quan niệm về bản thể con người.

Nguyễn Du thường ưu tư về cái chết của bản thân và tha nhân. Để đi sâu vào tiêu mục này, Trần Ngọc Hồ Trường đã dày công tham khảo gần 40 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Tác giả phân tích, bình giải, nhìn ra sự phong phú tính triết luận, và mới mẻ trong thơ chữ Hán cũng như truyện Kiều của đại thi hào dân tộc.

2-Tư tưởng nhân văn.Bối cảnh binh đao, chết chóc, biến loạn, “nắm xương vô định”…Tôn trọng quyền được sống, sự cao quý của con người, tư tưởng hiếu sinh.

3-Triết lý phóng nhiệm và khắc khắc khoải trong thơ chữ Hán. U mẫn thời thế, ẩn sĩ đắc chí, nhà Nho tài tử, hành lạc…Qua lăng kính thẫm định hàng chục bài thơ chữ Hán của Tố Như, Hồ Trường đã phục hoạt từng giai đoạn để đọc giả soi rọi cuộc đời quan trường, về lại Hồng Lĩnh, quan niệm Lão Trang, màu sắc Phật giáo của Thanh Hiên.

4- Quan niệm văn chương trong thơ chữ Hán. Dung lượng hơn 7 trang sách toát lên ý lực, gía trị, tương quan văn chương giữa chính với người đọc, quang phục đạo làm người. Vũ trụ con người chính là thời gian.

5- Giải thích lại một bài thơ của Nguyễn Du. Bài Tạp ngâm nằm ở vị trí thứ 46 trong Thanh Hiên thi tập. Đây là một trang khá lý thú. Hồ Trường minh dẫn từ những giải tích của nhà phê bình Hoài Thanh, dịch giả Đào Xuân Qúy, Ngyễn Lộc. Từ góc độ của mỗi phẩm bình mở ra tính xác luận thơ và cuộc đời của Nguyễn Du.

6- Môtip mùa thu trong thơ chữ Hán. Nếu như không đọc kỹ, không nghiệm luận 249 bài thơ chữ Hán của Nuyễn Du thì làm sao Trần Ngọc Hồ Trường xác quyết, trong đó có 61 bài trình bày cảm xúc về mùa thu, ý thu, sắc thu, cảnh thu, gió thu… chiếm 25% trong tổng số thơ chữ Hán của Hồng sơn liệp hộ.

7- Môtip trăng trong thơ chữ Hán. Đa dạng trong ý nghĩa, thể hiện thế giới tình cảm của nhân vật trữ tình và linh cảm với nhà thơ. Trăng trầm ngâm, hoang lạnh, u buồn.

8- Ảnh hưởng của Lão Trang trong thơ chữ Hán. Quy hợp trong 4 khía cạnh: vô vi nhị trị, tồn tại trong thế giới vô vi, khát khao được vô vi mà giữ Đức của Đạo cùng thiên chân, và bất bình với những hành động hữu vi.

9- Thơ chữ Hán của Nguyễn Du dưới góc độ văn hóa. Minh họa cho nội hàm này, Hồ Trường đã đi sâu vào hơn 20 bài thơ chữ Hán, làm hiễn lộ ra tinh chất ưu việt, tính văn hóa dị biệt của Nguyễn Du.

10- Một khía cạnh chân dung Nguyễn Du. Chua chát, đau đớn, trào tiếu, ngao ngán, mỉa mai, vui vẻ, xuề xòa, sâu sắc, nhẹ nhàng, tế nhị, bỡn cợt kẻ ngu trung…,một chân dung đa diện.


CHƯƠNG HAI - HÌNH THỨC TRUYỆN KIỀU.

Trong chương này, tác giả bố cục 19 phân đề đắc dụng theo trình tự:

1- Luận về nội hàm của mùi vị, đối với Nguyễn Du là cái chuẩn đề, thẫm âm, đánh giá, phân tích ca ngâm. Mùi vị trong truyện Kiều - những tinh hoa bóng bẩy trong mặn mà, nồng nàn, nồng ấm, nồng đượm, thơm tho, cay đắng, sực nức, mùi ca ngâm, kể cả hôi tanh. Mùi thơm (hương) xuất hiện nhiều nhất (33 lần). Và mỗi một hàm ý mùi vị trong thơ, tác giả minh chứng, dẫn liệu cụ thể theo mỗi câu tương hợp.

2-Âm thanh. Mang nhiều chức năng khác nhau – Tính chất của tình huống, sự việc và bản chất của nhân vật. Xôn xao – ào ào – náo động, hỗn loạnTiếng gà gáy, Hồ Trường đã nghe được 4 lần; trong đó có 3 lần trong đêm vắng. Tiếng vọng của trống canh, đồng hồ, tiếng chày nện, tiếng khóc… được phân tích, bình giải từng loại âm thanh, âm hình, âm vực, cường độ.

3-Không gian siêu hình. Bao gồm nhà chứa, nơi tu hành, chốn lầu xanh, phương lưu lạc, ngõ tha hương, không gian siêu hình (metaphysical setting), thế giới hiện thực, hồng trần, âm phủ, cõi ma, giấc chiêm bao, cõi mộng. Trong truyện Kiều, có 4 lần được Nguyễn Du mô tả giấc mộng. Ngoài ra, còn có không gian tiền kiếp, cõi trời.

4- Nhân vật dẹt (flat characher). Còn được gọi là nhân vật phụ, thể hiện những hành vi, và bản tính riêng. Trong phần này, Hồ Trường còn cho người đọc biết được một chi tiết thú vị, đó là Nguyễn Du đã loại bỏ hàng loạt các nhân vật dẹt trong cuốn tiểu thuyết mà ông đã vay mượn..

5- Hội họa trong truyện Kiều. Bao gồm tranh sơn thủy, nhân vật, sinh hoạt, phong cảnh…màu sắc thanh khiết,. Bố cục viễn cảnh, cận cảnh, ánh sáng, hoặc khỏa thân (Kiều tắm), biếm hài…

6- Biểu tượng ánh sáng và bóng tối. Ánh sáng nhân tạo (đèn, nén, đuốc, sáp, lửa. Ánh sáng thiên nhiên (mặt trăng, mặt trời, đêm tối, thanh thiên bạch nhật, bình minh, trăng vằng vặc. Thiều quang, bóng tà, đen rầm, tối rầm - ánh sáng liên quan đến thân phận.

7- Tự nhiên trong Kiều. Sông, suối, biển cả, rừng rú, chim muông, cây cỏ, các mùa trong năm, sương tuyết, đất, đá…là những hằng hữu trong môi trường sống. “Nước” xuất hiện 48 lần. “Rừng” 3 lần, và những lần như thế, bút pháp vĩ đại Nguyễn Du vẽ nên một tự nhiên khác nhau.

8- Dự báo. Xuất hiện rất dày và sự báo trước có một giá trị đối với sự kiện, số phận, tương lai…Có hai nhóm dự báo – của những nhân vật phi phàm (Tam Hợp đạo cô, Đạm Tiên, tướng sĩ), và của con người trần tục dựa vào dung mạo, thông tin…

9- Ngữ âm truyệnKiều. Phần hiễn ngôn trong thanh điệu, vần, phù trầm, bình thanh, âm vực, trọng âm của đoạn văn, đường nét trầm chìm của các âm tiết, nguyên âm “i”… làm tăng chất xúc cảm trong những câu thơ tình huống, ngữ cảnh, tính chất.

10- Nhân vật biểu tượng. Cuộc gặp gỡ Kim – Kiều ở mả Đạm Tiên, Kiều ra đi với Mã Giám Sinh. Về nhân vật, thì Từ Hải là biểu tượng của tự do, Hoạn Thư là biểu tượng của ghen tuông, Sở Khanh là biểu tượng của bịp bợm.

11- Thơ và các sinh thú khác trong truyện Kiều. Các sự kiện nội tâm trong Kiều, các nhân vật được thể hiện tới thơ ca và các sinh thú khác: cầm, kỳ, thi, họa, phong nguyệt…tạo nên sắc màu tao nhã,

12- Giọng điệu. Giọng điệu trong truyện Kiều như một hiện tượng nghệ thuật. Cấp độ và các loại hình giọng điệu cho thấy sự gập ghềnh, phiêu bạt, tư thế của người nói, các nhân vật và lý giải vai trò chức năng của thi phẩm.

13- Tiếng cười trong truyện Kiều. Âm sắc, trường độ, cường độ, hài hước, dắng cay, ngao ngán...

14- Đại từ nhân xưng. Đa dạng và có các cặp đại từ nhân xưng đi liền với nhau, có tính âm – dương – lưỡng cực: mình – kẻ - người – trai gái – thiếp – chàng, hay là: ai – ta/chúng ta – đôi ta. Kiều chỉ có 4 lần xưng “ta”.

15-Kỹ thuật chuyển đoạn. Mạch lạc, câu thơ đưa đẩy làm nên chức năng trung gian, hoặc uyển chuyển, mềm mại. Hình thái kết nối, móc xích giữa các đoạn tạo nên mạch thơ liền ý, làm sáng rõ nghệ thuật chuyển đoạn của Nguyễn Du.

16- Tiếp biến văn học Trung Quốc.

Cách chuyển ngữ khéo léo, sáng tạo mĩ học, dịch nghĩa thâm thúy, nâng tính lãng mạn, chọn lọc tinh tế khi vay mượn… Khuynh sắc khuynh thành/nghiêng nước nghiêng thành. Nhất cố, tái cố/ Một, hai…

17-Khung khổ, cấu trúc cốt truyện và kỹ thuật kể chuyện. Từ một cuốn tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc, Nguyễn Du chuyển thành “tiểu thuyết bằng thơ lục bát”, tạo nên một cấu trúc và kỹ thuật, có khung khổ mang tính xuyên suốt của sợi chỉ đỏ.

18- Ảnh hưởng lẫn nhau giữa truyện Kiều và ca dao. Phổ cập rộng rãi, giới bình dân ưa thích, chịu ảnh hưởng ca dao trên nhiều phương diện, và từ các biểu tượng mở rộng, gợi tình – ý – cảnh trong sắc thái thơ dân gian.

19- So sánh truyện Kiều và một số truyện Nôm. Trong đó có các Truyện Hoa Tiên (Nguyễn Huy Tự), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu), và những truyện Nôm vô danh, khuyết danh…Đối chiếu những truyện Nôm sinh sau ấy, để đọc ra những câu thơ đã vay mượn từ truyện Kiều.

Từ Đoạn trường Tân thanh của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), Nguyễn Du gỡ lớp bụi thời gian trong kho tàng văn học của quốc gia tỷ dân ấy, làm thành viên kim cương lấp lánh vĩnh hằng. Tương tự với hiện hữu văn chương kỳ diệu ấy, là nhà soạn kịch tài danh Pháp – Corneille (1606 - 1684 ) đã mượn Las Mocedades del Cid của Guillen de Castro (Tây Ban Nha) để chuyển thành Le Cid bất hủ.

Với 29 nội dung khiêm tốn của sách, đọc giả sẽ thấy được cuộc đời – sự nghệp văn chương – tính phóng nhiệm, dòng chảy cuộc đời, quan niệm Hiện Hữu và Hư Không (l’Être et Néant/ Being and Nothing), Vô tri (Inconnue/Unknow), Lý tính giữa Vô Tri và Hiện Hũu, sự Trở về/Thức dậy (Rever/awakening) của Nguyễn Du. Những giá trị nhân bản tinh truyền, những luận diểm, luận cứ, ý thức xã hội …trong quan niệm của Tố Như được Hồ Trường phục hoạt, khơi dậy qua quyển sách mang tính biên luận đầy đặn về cái nhìn tổng quát trước những biến dịch đổi thay trong xã hội - những điều trông thấy và về con người kiệm lời trong thời làm quan.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ VạnNinh NhaTrang ngày 28.11.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004