Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







THAO THỨC MỘT TẤM LÒNG THỢ MỎ









T rao tập bản thảo này cho tôi, nhờ tôi đọc giùm, Đinh Văn Thái nói:

Tôi rất yêu thơ. Từ năm 1982, tôi tập làm thơ, chỉ với những suy nghĩ rất đơn giản, là để:

. Động viên đồng đội và đồng nghiệp trong chiến đấu, lao động và công tác

. Lưu dấu những kỉ niệm về con người, mảnh đất đã từng qua, từng sống và từng làm việc; những kỉ niệm về quê hương, về người thân, bạn bè và để tâm sự với chính mình: những suy tư về sự nghiệp và cuộc sống

. Chia xẻ với đồng nghiệp những trăn trở về ngành nghề, về quê hương và Tổ quốc. Đặc biệt để chia xẻ những khó khăn và vui buồn của những người thợ mỏ.”


Với tập sách đang có trên tay các bạn đây, Đinh Văn Thái đã làm được những gì anh muốn rồi. Trong đời một người, đã có thể xem đó là một hạnh phúc. Những bài như những trang nhật kí có phần còn đơn sơ, nhưng đã ghi lại những vùng đất anh đã từng qua, những con người anh đã từng gặp, “ chan hòa bè bạn, chân tình anh em”, có khi nhẹ như một hơi thở, thoáng như một ánh nhìn, từ biên giới và biển đảo phía Bắc: Điện Biên, Hà Giang, Lạng Sơn, Bình Liêu, Móng Cái, đảo Vĩnh Thực, … đến chót Mũi Cà Mau và đảo Phú Quốc ở phía Nam. Rồi Trường Sa trên biển Đông… Và những thành phố hải cảng nước ngoài, đây là Lào, Campuchia, Thái Lan, kia là Singapor, Hàn Quốc, Trung Hoa, Nhật Bản… Mắt nhìn từng ấy màu mây, tóc bay từng ấy gió biển… chỉ để yêu thêm vùng đất giản đị và nhỏ nhoi mà anh đã gắn bó cả đời mình, đã đánh cược vào hòn than và những người thợ mỏ, những khát vọng thiêng liêng và sự sống còn của cả cuộc đời mình…

Bạn ơi, tôi hiểu Đinh Văn Thái là như vậy đấy. Anh sinh năm 1958, tại Kim Anh, Kim Thành, Hải Dương, tốt nghiệp đại học Thương mại, Hà Nội. Năm 1977 anh nhập ngũ, trước năm 1985, từng công tác tại Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng. Sau năm 1985 anh về mỏ và ở đó cho đến nay. Hiện anh là Phó Bí thư thường trực Đảng bộ Công ti than Nam Mẫu, TP Uông Bí, Quảng Ninh. Đường đời có thể nói là suôn sẻ, sự nghiệp cũng có thể nói là vinh hoa. Vậy mà nỗi lòng anh cho ta biết cái mặn của biển cả, cái sâu của sóng sông và cả cái thăm thẳm không nhìn thấu của lẽ đời:


Buồn vui gói hết lo âu

Cuộc đời biển cả sông sâu khó lường…


Bởi thế, tập thơ mới có tên là THAO THỨC. Nhân vật trữ tình trung tâm là chính tác giả - một công nhân mỏ, thao thức với sự nghiệp làm than và đạo nghĩa với những người thợ mỏ, sâu tình, nặng nghĩa với cha mẹ và quê hương. Đồng thời anh cũng là một cán bộ quản lí, thời kinh tế thị trường, thì, với chức năng ấy, nỗi “lo âu” không thế nào “gói hết” được.

Nó tràn ra ngoài câu chữ:


Mỗi ngày tóc cứ bạc thêm

Thị trường đỏng đảnh, càng phiền, càng lo


Nó định danh trong những tính toán:


Công trường sản xuất ba ca

Đầu vào cân với đầu ra thế nào…


Tôi yêu đoạn thơ này:


Bao đêm bóp trán so đo

Ngổn ngang công việc, bơ phờ tóc râu

Nằm rồi chẳng ngủ được đâu

Thót tim chuông đổ, đỏ ngầu mắt khuya…


Khi làm đại diện báo Tiền Phong tại tỉnh Quảng Ninh, cũng có lúc tôi đã thót tim khi nghe bạn báo tin lò sập, còn bao nhiêu thợ khai thác mất liên lạc trong đất sâu. Tổng giám đốc TKV đã có mặt trên hiện trường rồi… Tôi vùng dậy, lên xe đi cùng nhóm phóng viên lên mỏ lúc trời đang tuôn nước…

Không thể ghi hết những nỗi niềm như vậy của Đinh Văn Thái. Ở đây, tôi không bàn về thơ với những đặc trưng của ngôn ngữ và thể loại. Tôi bàn về nỗi lòng người, những thao thức trong trái tim đang đập của một người thợ, của một người tham gia vào bộ máy quản lí sản xuất, với bao lo toan, không chỉ cho sản lượng than, mà cho cả sự an toàn của từng người thợ. Nặng nỗi lo toan, với bao “ngổn ngang công việc ” như thế, rải rác, tôi vẫn nhận ra một tâm hồn rung cảm hướng tới cái đẹp, ấy là khi anh đứng bên bờ hồ, ngắm một người câu cá trong bảng lảng sương thu, mà ngỡ như mình đang lang thang trong cõi mộng du nào. Và khi lên Yên Tử, tấm lòng phải trắc ẩn thế nào, mới có thể thấy được “mây bay mòn đá núi”, tâm hồn phải trong trẻo thế nào, mới có thể nhận ra bóng dáng của Phật Hoàng vẫn phảng phất đâu đây …



Và như thế bạn ơi, câu chữ của Đinh Văn Thái, ở những chỗ có phần tinh vi và sâu sắc, là biểu hiện giản dị và chân thành của nỗi lòng tác giả, do đó đã chạm được vào nỗi lòng của mỗi người đọc chúng ta. Tôi nghĩ cái gì đã đi ra từ nỗi lòng người thì sẽ trở về được với nỗi lòng người, cái đó tôi gọi là thơ. Cụ Lỗ Tấn từng dạy: “ Bất kể cái gì chảy ra từ tim đều là máu” cả mà.

Cũng bởi vậy, tôi viết những dòng này để giới thiệu một cây bút đã đến muộn, nhưng từ rất sớm, đã thao thức với bao nỗi niềm của Thơ về những người Thợ Mỏ và vì những người Thợ Mỏ.



TRĂNG TRÊN MỎ


Trăng dát vàng triền núi

Điện lấp lóa tầng cao

Đêm Than Thùng *rộn rã

Trong tiếng than rì rào.


Nhớ mảnh trăng năm nào

Trên đường ra chiến trận

Đêm nay trăng sáng thật

Rắc vàng phố mỏ khuya.


Ngắm vầng trăng đêm thu

Giữa tiếng rền máy mỏ

Hầm sâu bao gian khó

Vẫn lung linh sao trời.



Vô vàn vì sao rơi

Trước gương than lấp lánh

Đêm Than Thùng sóng sánh

Có trăng và đầy sao.


Trăng sáng trên trời cao

Sao sáng trên đầu thợ

Bao mùa trăng soi tỏ

Cùng ta vào ca ba.


15/8/2014


* Than Thùng: địa danh thuộc xã Thượng Yên Công- TP Uông Bí- Quảng Ninh.



HỒ YÊN TRUNG


Lãng đãng sương giăng tỏa mặt hồ

Rừng thông mê mải ngắm sương thu

Ai ngồi câu cá bên hồ sớm

Ta thức hay là đang mộng du.


10/2015


LÊN CHÙA YÊN TỬ


Lần theo từng dấu cũ

Đá xếp chồng trong mây

Một làn hơi thoảng nhẹ

Ngỡ Phật Hoàng đâu đây.


Bao lần đến nơi này

Yên Sơn trầm mặc thế

Nghe thấy tiếng sóng vỗ

Vọng về từ Đằng Giang.


Mắt vẫn nhìn xa xăm

Phật Hoàng ngồi lặng lẽ

Bảy trăm năm có lẻ

Giữa đất trời bao la


Bão táp với sương sa

Mây bay mòn đá núi

Mấy nghìn năm chống chọi

Có bao giờ được ngơi.


Sóng biển Đông gầm sôi

Chứa ngàn cơn dông tố

Nước Bạch Đằng vẫn đỏ

Dáng Phật ngồi trầm tư.


Tháng giêng 2016



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 08.11.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004