Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



SÁNG TÁC

VĂN CHƯƠNG VỀ NGƯỜI THỢ MỎ -

NHỮNG THỬ THÁCH KHÔNG DỄ VƯỢT QUA






C ông nhân mỏ là một bộ phận quan trọng của công nhân Việt Nam, nếu không nói là bộ phận quan trọng nhất. Văn học về giai cấp công nhân và những người thợ mỏ Việt Nam là một trào lưu có thật và thực sự có ảnh hưởng trong vòng hơn 30 năm (1953 – 1986). Nó đã thực sự ra đời từ năm 1953, khi người công nhân mỏ Võ Huy Tâm viết cuốn tiểu thuyết đầu tay Vùng mỏ, được xuất bản lần đầu tiên thành sách, dù trước đó 1 năm, năm 1952, bản thảo tập tiểu thuyết này đã được tặng giải nhất truyện và ký, Hội Văn nghệ Việt Nam. Đến nay tác phẩm này đã được in đến lần thứ 7. Trong phong trào sáng tác của công nông binh, và về công nông binh, theo tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông, cuốn sách này vẫn ở đầu bảng. Các tác phẩm sau đó đáng chú ý như các tiểu thuyết: Những người thợ mỏ của Võ Huy Tâm, Bất khuất của Lê Phương, Mở hầm của Nguyễn Dậu, Mảnh đời của Huệ của Võ Khắc Nghiêm, Thành phố thời mở cửa của Sỹ Hồng, Thời gian đang đi của Nguyễn Sơn Hà, Nắng lửa của Hoàng Văn Lương, Đất bỏng của Trần Tâm… và đặc biệt gần đây, cuốn truyện kí tự thuật Tình yêu ở lại của Đoàn Kiển là một tác phẩm quan trọng, rất đáng được ghi nhận. Về truyện ngắnNgười kiểm tu của Tô Ngọc Hiến, Đêm ấy vùng than ai thức của Lí Biên Cương và nhiều tác phẩm khác. Về thơ là các sáng tác của Mai Phương, Thi Sảnh, Yên Đức, Đào Ngọc Vĩnh, Ngô Xuân Hội, Trịnh Công Lộc, Lê Hường, Trần Ngọc Tảo, Nguyễn Ngọc Sính, Hoàng Tháp, Vũ Thế Hùng, Đức Doanh, Nguyễn Thị Xuân, Trần Đình Nhân, Hoàng Tuấn Dương, Lê Xuân Nguyện… và nhiều người khác. Có người dường như cả đời cầm bút chỉ thủy chung với đề tài than như Vũ Thảo Ngọc, dù là tiểu thuyết, truyện ngắn hay bút kí. Đấy là chỉ kể những tác giả tiêu biểu nhất, những tác phẩm được nhiều bạn đọc lưu ý nhất. còn các cây bút phong trào thì rất nhiều, không thể kể hết.

Bản thân tôi cũng đã góp vào gia tài chung này, một tập truyện vừa Trước mùa mưa bão, 1980, đã tái bản 7 lần; một bản trường ca Đá cháy, 1985, đã xuất bản 24 lần và ba tập thơ Âm điệu một vùng đất, 1980, đã in lần thứ 2; Nhà thơ áp tải 1989; Nhà thơ và hoa cỏ 1993, đã in đến lần thứ 22. Đấy là những tác phẩm đã được tặng giải thưởng cao trong các cuộc vận động sáng tác về giai cấp công nhân của Tổng Công đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam. Đầu năm 2016, tôi đã tập hợp lại những sáng tác đó, trong một hợp tuyển, lấy tên chung là Đá Cháy, hướng tới kỉ niệm 80 năm ngày Hội truyền thống cuả những người thợ mỏ Việt Nam ( 12/11/1936 - 2016).

Những thành tựu trên, của các thế hệ tác giả, là một hiện tượng có thật, chứng tỏ, dòng văn học viết về những người thợ mỏ đã tồn tại khách quan, như một bằng chứng lịch sử vẻ vang của phong trào công nhân, góp phần làm giầu có thêm những giá trị văn hóa và tinh thần của thời chúng ta đã sống và đang sống.

Bây giờ, Hội Nhà văn Việt Nam vẫn có “Ban văn học đề tài”, nhưng ai cũng biết, đề tài không còn là vấn đề quan trọng nữa và thậm chí cũng không còn có ý nghĩa gì nữa. Nhưng đặt ra vấn đề “đề tài” sẽ giúp cho “công tác phong trào” của Hội, gắn bó với thực tế đời sống, để hy vọng từ đó mà tạo dựng các tác phẩm từ muôn mặt của đời sống. Bởi vấn đề không phải là viết về đề tài gì, công nhân hay bộ đội, mà là viết như thế nào để tác phẩm trở thành tác phẩm nghệ thuật có đẳng cấp. Tôi xem xiếc Trung Quốc, thấy cô gái ra sân khấu, trong tay chỉ cầm có mỗi một sợi dây thừng như bất cứ sợi dây thừng nào, mà cô làm nên một tiết mục kỳ lạ, làm kinh ngạc cả thế giới. Vấn đề đâu có phải ở sợi dây thừng. Và bí mật nghề nghiệp lại càng không ở sợi dây thừng. Các dòng sông đều đã hòa nước vào biển rồi. Chẳng ai thấy cần thiết phải phân biệt, để nhận ra đâu là nước sông Hồng hay nước sông Tiền Giang trong biển Đông… Tôi có một số cuộc nói chuyện và tiếp xúc với nhiều bạn đọc ở các thư viện một số tỉnh thành, tôi được biết, các tác phẩm từng được coi là kinh điển của một thời văn học công nhân Việt Nam như bộ Cửa biển của Nguyên Hồng, Vùng mỏNhững người thợ mỏ của Võ Huy Tâm, đã từ rất lâu, từ nhiều chục năm, không có ai mượn đọc và có lẽ do đó, sách cũng không được tái bản trong cơ chế sách của thời kinh tế thị trường. Ngay trong nhà trường, từ năm 1980, tiểu thuyết Vùng mỏ của Võ Huy Tâm và từ năm 2000, truyện vừa Trước mùa mưa bão của tôi cũng thế, không còn được trích học trong sách giáo khoa phổ thông. Lí do vì sao, chắc chắn không phải tại những nhà biên soạn sách. Cho nên chưa bao giờ như bây giờ, sáng tác về đề tài công nhân, đặc biệt là công nhân mỏ, đang chịu những thử thách vô cùng to lớn, không dễ vượt qua.

Là người ham sáng tác về đề tài công nhân, tôi đã đọc hầu hết các tác phẩm viết về công nhân của các nước, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa, có ngành công nghiệp khai khoáng phát triển, trong đó chủ yếu là ngành khai thác than, để học tập cách viết của họ, có lẽ đến khoảng 100 cuốn, đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt. Nhiều cuốn trong đó được coi là kinh điển, là những cột cây số cắm mốc trên chặng đường văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhất là ở Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Đông Đức, Trung Quốc và Chile cánh tả… vân vân… đến nay không một tác phẩm nào trong số đó, còn lại, dù chỉ là một cái tên, kèm theo 1 dấu phảy, trên hành trình phát triển văn học của các nước đó, do chính các nhà phê bình nghiên cứu của nước đó viết, trong con mắt và sự tiếp nhận của ngày hôm nay. Đó là một sự thật đáng sợ. Chúng ta không thể quay lưng với những thực tế này, nếu muốn tìm những kiến giải mới cho chặng đường phát triển tiếp theo của dòng văn học công nhân, để hi vọng nó có thể đồng hành với thời đại, với dân tộc và hi vọng nó sẽ có mặt trong gia tài văn hóa và tinh thần của các thế hệ con cháu chúng ta.

Riêng sự tiếp nhận của tôi, tôi cho rằng, các tác phẩm thuộc dòng văn học này, phần nhiều là sơ cứng, thiên về kể lại cuộc đấu tranh ai thắng ai, tốt thắng xấu, trong đó cái tốt và cái xấu cũng được định danh theo một hệ quy chuẩn nhất định, với một cấu trúc có sự dàn xếp và áp đặt của tư tưởng, cuối cùng chiến thắng thuộc về hệ tư tưởng mà chúng ta muốn có, hoặc thuộc về thế hệ trẻ, đang vươn tới hệ tư tưởng đó - dĩ nhiên rồi - ít có hoặc không có những xúc động của lòng người, những vấn đề gay gắt của số phận người, của dân tộc, của các tập tục và tham vọng, các vấn đề vô cùng phong phú, nhiều chiều về con người, trước sự va đập của thời cuộc, hay xa hơn, những choáng ngợp trước vũ trụ và tâm linh... Những nỗi niềm muôn thuở ấy, thực chất không có liên quan, hoặc không có liên quan nhiều lắm đến các vấn đề mà ta thường áp đặt cho nó. Trong bản chất, nó là một thực thể sống, tồn tại khách quan, như nó vẫn có từ thời nảo thời nào đến bây giờ, đó là tính người và chỉ có tính người, một tính người thăm thẳm sâu xa, với các sự cố, vừa bạo liệt, vừa đa dạng và tinh vi, đến mức không ai có thể đo đếm được.

Nhưng công nhân, trong đó có công nhân mỏ, cũng là con người. với bao nhiêu vấn đề của con người, những dằn vặt lo toan trước những biến thiên của hiện thực đời sống, thậm chí của lịch sử, để “tồn tại hay không tồn tại”, chứ không phải là các vấn đề khác. Vậy thì tại sao ta lại cứ sợ hãi không dám đụng đến, lại cứ né tránh để cầu mong sự an toàn tuyệt đối cho cái cá nhân còm cõi và mong manh của mình, khi chính Đảng của chúng ta đã dạy chúng ta là phải nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật như tinh thần cách mạng của Đại hội VI của Đảng.

Từ quan niệm đó, sau Đổi mới 1986, tôi đã bỏ lại phía sau 25 năm cầm bút của mình để hướng ngòi bút vào các vấn đề của con người. Vì thế trong thơ tôi, mới có người công nhân mỏ Mạo Khê, năm 1988. đi bán tín phiếu ở Bên đường để lấy tiền mua gạo cho con, hạ giá đến 75 % rồi vẫn không có ai mua. Và nhiểu cảnh đời sáng tối khác nhau. Tôi chỉ xin dẫn 1 bài là Cháu đi đào than thổ phỉ, viết năm 1993, năm mà Thủ tướng Chính phủ phải về tận vùng than để dẹp nạn.


CHÁU ĐI ĐÀO THAN THỔ PHỈ


Tháng trước còn qua nhà chú

Hôm nay cháu đã chết rồi

Mừng ơi!

Cháu đi đào than thổ phỉ

Lấy tiền nuôi mẹ nuôi em

Sập lò, cột đè gẫy nát

Xác buộc túm trong vải bạt

Than đổ ứ đầy lên trên

Xe chạy trốn người, qua đêm...


Cháu nằm bẹp dưới thùng xe

Nước than ngâm cháu đen sì

Rửa đến bao giờ cho sạch

Mừng ơi!

Đã qua cái thời đói rách

Làm sao còn khổ thế này

Đêm khuya, mưa tầm tã trút

Xe về bánh lầy, bánh sụt

Đường dài, gió lùa hun hút...


Mẹ cháu sẽ nhận được gì

Tiền ư? Gạo ư? Vải ư?

Em cháu sẽ nhận được gì

Cặp ư? Sách ư? Bút ư?

Cháu nằm túm trong vải bạt

Mặt mũi than đè giập nát

Xe than đổi một mạng người

Chú biết kêu cùng ai được

Mừng

ơi!...

1993


Bài thơ này, nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét rằng, đó là “Tiếng kêu rỏ máu năm đầu ngón tay ” của Trần Nhuận Minh và giáo sư tiến sĩ Trung Hoa Phùng Trọng Bình khi dịch bài thơ ra tiếng Trung đã giới thiệu với nhân dân Trung Quốc: “ Tiếng kêu của con chim đỗ quyên đến nhỏ máu ra từng chữ một”.

Tôi biết những bài thơ như thế, các đồng chí lãnh đạo ngành than có thể chưa hẳn đã vui và các cơ quan chức năng có thể chưa hẳn đã thích. Nhưng biết làm sao? Tôi nghĩ đó là thơ về con người, số phận và hạnh phúc của con người trong một thời đại mà con người rất khó lựa chọn. Và thơ văn chỉ viết về họ với các cấp độ đại để như thế mới hi vọng sau này con cháu còn đọc được. Đọc để nhận ra một thời, thời đó có thể một lần đi rồi không trở lại nữa – đó là nét ưu việt của thời đại chúng ta – nhưng nó khắc vào lòng người những đấu ấn không dễ phai mờ. Và tôi nghĩ, văn chương thứ thiệt xưa nay thường là như vậy, một loại văn chương không xu thời, không cơ hội, không dối trá, nhằm phản ảnh một đời sống đúng như nó đã có. Tôi nghĩ, thử thách của sáng tác về đề tài công nhân, và không chỉ về đề tài công nhân, mà là tất cả các đề tài khác của nền văn học ta hiện nay, đều là ở chỗ này chăng? Và tôi đã thử tìm cách vượt qua mà không biết có vượt qua được không? Tất nhiên trong hiện thực đời sống công nhân, đó chỉ là một góc, có thể không cơ bản, tùy theo quan niệm của từng người, nhưng nó hợp với sở trường của tôi, với tạng của tôi. Tôi nghĩ ở các góc khác, bừng sáng và hùng vĩ hơn, sẽ có những tác giả khác, sức bút hơn tôi, sẽ bù vào cái khoảng trống hạn chế mà tôi không lấp đầy được, dù trong trường ca Đá Cháy, viết từ năm 1985, tôi đã có những cố gắng nhất định. Tôi hi vọng như thế và bày tỏ sự lạc quan về chặng đường đi tiếp, để trong một tương lai gần, nền văn học của chúng ta sẽ có những tác phẩm hay hơn, lớn hơn, về những người thợ mỏ và không chỉ về những người thợ mỏ.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 19.9.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004