Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




MÁI TÂY








M ột hôm gần đây, tôi về thăm bạn tôi là ông Nhượng-Tống ở một làng hẻo-lánh giữa Hà-Nam và Nam-Định. Bạn tôi là một người đã từng hoạt-động nhiều, nhưng khi còn ở chốn xa-xăm hay khi “về vườn” (mà sao tôi không gọi được thế?), bạn tôi vẫn tỏ ra là một thi-sĩ có nhiều tài, một thi-sĩ bình-dị và trong trắng. Hiện nay, an-nhàn như một kẻ dật-sĩ, bạn tôi nằm dịch những án văn cổ như Ly Tao, Hồng Lâu Mộng…

Bản văn bạn tôi vừa dịch xong, chính là bản Tây Sương-Ký. Lẽ ra tôi đọc ngay lúc ấy cho thỏa lòng bấy lâu mong-ước, nhưng gặp nhau có một đêm, chúng tôi còn phải nói với nhau những chuyện khác. Tôi bình-sinh tuy không được đi nhiều, nhưng có điều này rất lấy làm tự đắc là không phải bao giờ cất chân đi cũng là vì một “đại sự”, nghĩa là không phải có “đại sự” tôi mới nghĩ đến sự xê dịch… Thường thường, một mình tôi băng hàng mấy trăm cây số để viếng cảnh đẹp hay là chẳng đẹp, đi hàng chục cây số để tới thăm một người bạn thân hay là chẳng thân. Được nói chuyện một đêm với bạn, sáng ăn một bữa cơm rồi lại ra về, thế cũng đủ lấy làm hoan-hỷ… Chúng tôi đã nói về văn-chương, về thời-thế và về cả việc kinh-doanh nữa… Nhưng có một điều là chúng tôi không nói đến Tây Sương-Ký. Có lẽ bạn tôi muốn dành hết cả sự bất ngờ cho tôi trong khi đọc sách.

Hai hôm sau, tôi mở sách ra đọc - một bản thảo gần 250 trang! Thú thật, lúc mở sách ra, tôi hơi cảm-động, cảm-động như khi được nói chuyện lần thứ nhất với một người tình-nhân. Sự cảm-động ấy dần dần tiêu-tán hết… Đọc gần nửa cuốn sách, tôi luôn luôn như phải nén giữ sự căm-giận của tôi. Đã nhiều lần tôi nói lẩm-bẩm: “Sách xoàng quá! Thế mà cả nước Tàu đều thán-phục, thì thật là một sự điên-rồ chưa từng thấy…”. Thực ra trong hơn trăm trang đầu ấy, cũng có một vài đoạn hay, nhưng cái hay không đủ kéo lại cái sự bằng-phẳng, nhạt phèo của các đoạn khác… Hôm đầu, tôi đành bỏ dở sự đọc, thất-vọng vô cùng… Tôi nói một mình: “Cái anh Nhượng-Tống kể cũng thừa công và rỗi việc thật!”. Có lúc tôi muốn ngờ rằng: hoặc giả người dịch bất-tài không lột được nguyên-văn chăng? Nhưng tôi thiết nghĩ sự bất-tài của người ta cũng có hạn, cái anh Nhượng-Tống có dịch sai hay dịch kém đến đâu, cũng không thể làm hại người xưa đến thế… Còn như cái nhà phê-bình Thánh-Thán múa tay, múa chân, đọc câu văn nào cũng lấy làm đắc ý, thì nghĩa làm sao? Có khi, một chữ một câu đủ làm cho văn chương ông ta tuôn ra như sông dài biển cả, nhưng lại có khi, ông chỉ phê có một chữ: “Hay!” hay “Tuyệt!”. Tôi nghĩ: “Anh này cũng lại chỉ là một người điên mà thôi”. Nhưng người ấy mà điên thì trong cả nước Tàu ai lại là không điên? Đọc đi đọc lại những lời phê của Thánh-Thán, tôi không thể nào tin được rằng nhà phê-bình ấy là giống dễ có ở đời, như thường đã sản-xuất ở nước vào khoảng năm 1935, 1936. Thánh-Thán quả là một nhà văn sáng suốt, tài-bộ, sâu-sắc và phong-nhã. Một nhà văn tiêu-biểu cho cái tinh-thần tráng-kiện, xuất-sắc, có nét, có cạnh, của nước Tàu… Nhiều đoạn văn của Thánh-Thán có thể ký tên: Pascal. Ta hãy thử đọc vài đoạn nhỏ về văn Thánh-Thán, ở chỗ nói: “cái rất nhỏ…”, ở chỗ nói: “núi Khuông lư”, ở chỗ nói: “dâm thư” thì rõ. Đó là những đoạn văn hay trong những đoạn văn hay nhất mà tôi thấy nhan-nhản trong những lời phê bình của Thánh-Thán. Nhưng tôi sợ đó chỉ là những đoạn văn hay mà thôi, và không thể là những lời phê- bình đúng.

Tôi cho rằng: Thánh-Thán chỉ mượn Tây-Sương một cái cớ để nói chuyện với người đời sau như trong bài tựa đã nói, và tôi lại cho rằng: vở kịch Tây-Sương không xứng với lời phê của Thánh-Thán. Nhưng tôi có thể nào đọc dở một tập sách danh-tiếng như thế không? Và có nên lên án ngay khi chưa xét hết tập hồ-sơ không?

Hôm sau, tôi lại mở sách ra, đọc nốt…

Vẫn một cái đôi xoàng-xĩnh, nhạt-nhẽo ban đầu, nhưng tôi biết từ đây đã xen vào một cái gì, một thứ ánh sáng mới, một sức mạnh huyền-diệu… Tôi bắt đầu bị lôi cuốn. Bên cạnh văn “Mái Tây” tôi cũng vẫn đọc những lời phê của Thán, và đã lo cho tài của Thán không xứng với Tây-Sương. Đã 12 giờ đêm… tôi vẫn ngồi đọc! Mỗi phút mỗi trang đã đưa lại cho tôi một thú-vị, một sự bất-ngờ. Tôi đã hiểu thế nào là Tây-Sương, thế nào là cái hay của Tây-Sương, và tôi không cần lời phê Thánh-Thán nữa. Tôi chăm-chú, tôi thành-kính đọc có một thôi hết vở kịch. Khi gấp sách lại, như có một ngọn gió lạnh thổi qua tâm-hồn tôi. Tôi mới hiểu tại sao người xưa lại sợ, không dám đọc những thơ hay trong lúc đêm lặng.

Bây giờ tôi đã hiểu rồi… Lời tựa của Lý Trác-Ngô có lẽ không nên có, cả lời phê của Thánh-Thán có lẽ cũng là thừa… Duy có lời dịch của Nhượng-Tống thực là nên có. Vì, dầu muốn tiến theo ngả nào, người Việt-Nam cũng không thể không biết đến những áng văn như Tây-Sương-Ký. Ta đã biết cái tư-tưởng thiết-thực của Khổng-Mạnh, ta đã biết cái triết-lý bóng bẩy của Lão-Trang, ta lại cần phải biết cái thi-vị huyền-diệu của Tỳ-Bà của Tây-Sương, của Ly-Tao. Chuyển dịch một tư-tưởng từ tiếng này qua tiếng khác, không khó, nhưng chuyển dịch một câu văn hay từ tiếng này qua tiếng khác, thật quả là không dễ. Nhượng-Tống dịch Tây-Sương kể cũng đã xứng với cái công việc mà mình đã tự ủy-thác cho mình. Vì không những là một nhà nho, Nhượng-Tống còn là một thi-sĩ nữa.

Vậy thì “Mái-Tây” (Tây-Sương-Ký) là thế nào?

Nó chỉ là một vở kịch không phải để diễn, mà cốt để đọc, nó là “một tấc lòng lưu lại nghìn sau”, như lời Lý Trác-Ngô đã nói.

Cái tấc lòng ấy là một câu chuyện tình đã xảy ra ở mái tây ngôi chùa Phổ-Cứu, một ngôi chùa công đức của Đức Bà Võ Tắc-Thiên. Cạnh chùa có một biệt-thự của một vị tể-tướng họ Thôi. Thôi tướng-công xây cái biệt-thự ấy để làm nơi dưỡng-lão; không ngờ trời chẳng độ, tướng-công chết ngay hôm lạc-thành biệt-thự. Vì thế cả nhà ở lại chùa, chịu tang. Thôi tiểu thư cũng ở lại; một hôm nàng ra sân chùa đứng chơi, tình cờ gặp Trương Quân-Thụy là một thư-sinh con quan, có trí lớn, vừa phiêu-lưu vừa cầu học. Thôi Oanh-Oanh là một người đẹp. Mà Trương Quân-Thụy là một khách tài-hoa. Cả tấn kịch ở “mái tây” là ở đó. Quân-Thụy cảm Oanh-Oanh ngay từ phút đầu nên cố xin ở lại chùa trọ học, cốt để cho gần Thôi Oanh-Oanh. Nhưng thực ra, chàng đã tính lầm:

Tuy trong gang tấc mà nghìn quan-sơn…,

Càng gần, chàng càng thấy xa Oanh-Oanh… Trong thời-gian ấy thì không biết bao việc nữa đã xảy ra. Giặc vây chùa, đòi lấy cho được Oanh-Oanh. Mẹ Oanh-Oanh trong lúc khốn-nguy, hứa gả cho kẻ nào có thể cứu nguy được cho nhà mình. Người ấy, than ôi! không ngờ lại là Trương Quân-Thụy, nhưng một khi nguy đã hết rồi thì lời hẹn xưa cũng bị quên đi. Mẹ Thôi Oanh-Oanh không muốn gả nàng cho Quân-Thụy nữa, chỉ bằng lòng cho hai người kết làm “anh em” mà thôi. Thôi Oanh-Oanh, cũng đau-đớn như Quân-Thụy về sự lỗi hẹn nhưng nàng vẫn tỏ ra là người con nhà nề-nếp, phải giữ giá cao… Tất cả sự khổ-sở, “gian-truân” của kẻ si-tình là ở chỗ này. Nhưng cuối cùng lễ-giáo cũng không giữ được lòng người. Một hôm, Thôi Oanh-Oanh để mình trôi theo giòng tình-ái. Nàng tìm tới Trương Quân-Thụy, và hiến cả tấm lòng trinh-bạch mà xưa nay nàng vẫn gìn-giữ cho chàng. Việc ấy đến tai mẹ, nhưng biết làm thế nào! Mẹ nàng cũng đành để cho hai linh-hồn ấy tác-hợp với nhau vậy… Nhưng bà không muốn rể bà chỉ là một chàng áo vải. Vì thế, giữa ngày ân-ái, đã diễn ra cảnh sinh-ly. Chàng phải vào kinh chạy theo công-danh.

Sự đau buồn của hai người thật đã đến chỗ bút không đến được, trừ ngọn bút của tác-giả:

Bầu trời trời thăm thẳm xanh lơ, Đìu hiu mặt đất, lơ-thơ hoa vàng. Gió tây thổi buốt can-tràng, Về nam, cái nhạn Bắc, kêu thương lạc-loài.

Rừng sương ai nhuộm đỏ tươi ?

Phải chăng nước mắt của người biệt-ly ?

Tơ liễu dài, dài có ích chi ?

Buộc sao được gót ngựa phi dậm trường !

Xum vui sao khéo muộn màng ? Chia lìa sao khéo vội vàng, xót xa ?

Rừng thưa ơi ! có thương ta, vì ta, rừng níu bóng tà lại nao ! Ngựa kia, chầm chậm chứ nào ! Xe này liều liệu theo vào cho mau. Tương-tư vừa mới qua cầu, Biệt-ly lại chuốc mối sầu mang mang…

Chợt nghe một tiếng “Lên đường ?” Rụng rời tay ngọc, xuyến vàng rộng thênh.

(Tây-Sương-Ký)

Đó là nỗi buồn mênh mông trong lòng kẻ đi, người du-lịch thiên vạn cổ. nhưng mà thật ra, một khi vừa rứt áo, cái buồn mới bắt đầu… Mà cuộc ly-biệt ấy là một cuộc ly-biệt lâu dài như trời đất, mà đi một đoạn đường, lại thấy diễn thêm một lần ly-cách. Tuy rằng ly-cách, mà nào có rời được nhau ra. Từ đây, trong đêm, Trương vẫn nghe có tiếng nói thân-yêu theo dõi chàng, tiếng đập lên và dội lại như cái điệp-khúc của bài “Ly-cách”. Có khi chàng thấy nàng đến cạnh mình, hoặc khuyên-lơn, hoặc âu-yếm… Lại một hôm, thấy tiếng gõ cửa, thì chàng lại thấy Oanh-Oanh đẩy vào, chàng nói với Oanh-Oanh:

Có công lặn-lội thăm tìm,

Đêm khuya, sao chẳng mặc thêm áo giầy ?

Hài thêu, sương ướt bùn lầy,

Bàn chân đi vội chắc xầy da non ?

Sự thương-yêu của một người đàn ông như thế thật là tỉ-mỷ, thật là không cùng. Nhưng, than ôi! đó chỉ là lời hỏi-han sự thương-yêu trong giấc mộng mà thôi. Rồi sau cuộc sinh-ly, là gì nữa…? Tác-giả đã bỏ bút vào hộp, như viên võ-tướng tra gươm vào vỏ. Sau quyển sách là sự lặng-lẽ, sự tịch-mịch của muôn đời… Không một lời nào nói về sự đoàn-tụ mà người ta ước mong, không một lời nào nói về người thiếu-phụ mà người ta muốn biết số-phận, không một lời nào nữa! Ta nên biết rằng: Thôi Oanh-Oanh là một cô gái nghìn vàng, lại là một bậc tuyệt-thế giai-nhân, trước kia đối với gã si-tình đương chiều chuộng để yêu cho được mình, thì nàng làm ra vẻ cao-nghiêm biết chừng nào, thế mà khi đã biết số-phận mình rồi, nghĩa là đã là người vợ của Trương Quân-Thụy rồi, thì lúc chàng ra đi, nàng chỉ đọc mấy câu:

Rẻ rúng thôi đành phận !

Van lơn nhớ buổi đầu…

Xin đem lòng lúc trước

Thương lấy kẻ về sau. (Tây-Sương-Ký)

Thật là giọng một kẻ biết thân-phận mình, thân-phận một người vợ trong xã-hội Á-đông, một người phục-tòng, một người khốn-khổ. Mà số-phận khắt khe của nàng, đến đoạn cuối này mới chỉ là bắt đầu vậy.

Ý hẳn người viết ra muốn bảo rằng: Tây-Sương-Ký không phải là một tấn kịch của một người nào, hay của một nhà nào.

Tây-Sương” chính là một tấn kịch vô-hồi, diễn đi và diễn lại trong đời người ta, một tấn kịch của mọi người, của mọi nhà, của mọi đời.

Ở phương Tây, kịch Roméo và Juliette còn sống mãi, thì kịch Tây Sương-Ký ở phương Đông cũng còn chưa chết trong lòng người. Thật là một con thuyền đã cắm neo ngoài dòng thời-đại! Thôi Oanh-Oanh ở trong lòng mọi người đàn bà, Trương Quân-Thụy ở trong lòng mọi người đàn ông. Trương và Thôi không phải là giống riêng, do một thời-đại nào tạo nên, một xã-hội nào sản-xuất ra cả.

Lý Trác-Ngô trong bài “Tựa Tây-Sương-Ký” có nói.

Việc viết văn, để tấc lòng lại nghìn sau, đáng thương biết mấy”. nhưng ta là người sau, chợt tìm thấy mình, cái hình-ảnh mình, trong một áng văn, ở một vài nghìn thu trước, việc ấy cũng đáng cảm-động, đáng mừng, đáng sung-sướng biết bao nhiêu. Cái thú-vị đọc “Tây-Sương-Ký ” ở chỗ đó vậy.


HOÀNG KIM THƯ st.


. Cập nhật theo nguyên bản của cố tác giả ngày 28.7.2016.


trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn