Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





TỪ HOA KHÔNG TÊN

ĐẾN NHỮNG ĐIỀU GIẢN DỊ (*)




K hi viết những lời này, tôi chưa gặp chị Bùi Thị Bình, nhờ duyên may mà được đọc cả Hoa không tênĐiều giản dị. Đó là thơ của một nguyên Trưởng phòng kinh tế thị xã Tam Điệp đã nghỉ hưu. Mặc dù in sau nhưng những lời thơ phải chắt lọc, góp nhặt từ những ngày còn túi bụi công việc cơ quan, từ những kỷ niệm tuổi thơ dãi dầu nắng mưa bão gió...Chị là một phụ nữ, bao nhiêu bận rộn giành cho chung riêng mà vẫn làm thơ. Chỉ điều đó cũng khiến nhiều người kính nể. Chị phải sắp xếp thời gian thế nào, phải từ chối bao nhiêu những điều tầm thường, nhạt nhèo, vớ vẩn...để đến giờ ta có những tập thơ trên tay. Tôi trân trọng đọc thơ chị và nhận ra Bùi Thị Bình rất ít nói về công việc chuyên môn của mình. Những lời thơ tâm tình, tâm huyết khi đau đáu, khi sâu đằm giành cho cha mẹ, cho chồng con, cho con trai con dâu, cho cháu nội, cho họ hàng, cho bạn hữu, cho những số phận không may trong đời mà chị gặp. Thơ chị làm như một sự giải tỏa những bức bối trong lòng. Cảm xúc lúc dạt dào, lúc nông gần nhưng chân thành. Tôi đánh giá cao sự chân thành, giản dị trong thơ chị. Chính điều đó khiến tôi chú ý khi đọc tập thơ này.

Toàn bộ tập thơ chỉ nói nhiều đến những mối quan hệ với người thân, với quê hương và tình cảm của tác giả nằm trong mối quan hệ đó. Sinh ra từ một miền quê “Nhà mình nghèo/ Cuộc sống chơi vơi/ Ngày qua ngày/ Bữa no bữa đói”. Trên quê nội thì “ Bao người oằn lưng kéo chài kiếm mớ tôm mớ tép/ Lòng sông Sối cạn trơ cua cáy đào lật đất/ Hạn hán bão bùng rình rập quanh năm”. Người dân thương xót đùm bọc, chở che nhau qua dông bão cuộc đời. Họ vất vả lo toan vẫn rất đỗi tự hào về quê hương Ninh Bình “Mảnh đất cố đô mảnh đất kinh kỳ/ Tài tử giai nhân ngày đêm tụ hội”. Trên mảnh đất quê hương cần lao khó nhọc ấy, chị có người cha luôn nhường nhịn “Áo chẳng đủ mặc ngày chăn chẳng đủ đắp đêm/ Khen ấm ổ rơm chăn giành con kẻo lạnh” và người mẹ yêu thương con hết lòng “Cuộc đời bao vất vả/ Liêu xiêu tấm thân gầy che chở một đàn con...Sớm tối chuyên cần/ Chắt chiu từng hạt lúa cọng rau nuôi các con ăn học” rồi nhiều năm sau ngày mẹ mất, chị vẫn thấy “Bóng mẹ mỏng tang/ Chập chờn...Trên đường quê cũ”. Như bao thôn nữ khác, lớn lên lấy chồng, chồng đi bộ đội chống Mỹ cứu nước. Một mình chị gắng gỏi nuôi con, chăm sóc mẹ chồng và chờ đợi. Ngày đêm sống vất vả, khó khăn, chung thủy đợi chờ. “Người nặng lòng yêu em từ thuở nhỏ...Vẫn nhớ thương em/ Khi em không hề biết”. Một người chồng trọn vẹn “Chỉ có đôi ta trên một đoạn đường/ Mà anh chẳng dám hôn em/ Khi em chưa cho phép/ Vẫn ấp ủ tình em trong ngàn mộng đẹp”. Chị ở nhà nuôi con, chịu bao khó khăn. Trong cuộc sống chung đụng, nhiều mâu thuẫn nảy sinh. Có khi gặp nỗi tình ngay lý gian, chị phải nhận những lời mắng mỏ, trách cứ từ bề trên. Tôi nghĩ chỉ những người phụ nữ năm xưa mới có thể nín nhịn như chị. “Thương con đâu dám phân trần/ Bao lời trách giận một mình mẹ mang/ Con người kiếp sống đa đoan/ Lỗi không có một mẹ toan nhận mười”. Nhận mười cho yên chuyện, cho họ hàng làng nước nhìn vào vẫn thấy êm đẹp trong lành. Người phụ nữ ấy phải hy sinh bao nhiêu nỗi niềm, công sức mới có thể nói với mẹ chồng: “Về làm dâu hơn ba chục năm rồi/ Con vẫn là con gái của mẹ thôi”. “Mẹ sinh ra anh cho con ở trên đời/ Nửa cuộc đời của con đấy mẹ ơi/ Không có mẹ làm sao con có được/ Người mà con yêu thương nhất trên đời”. Nay mẹ đã “Bệnh già đến không còn minh mẫn nữa/ Ăn uống nghỉ ngơi con phải là một nửa...Cả đời mẹ gian nan khó nhọc/ Nay mẹ già rồi đã có chúng con...Mẹ đừng buồn mẹ nhé/ Mẹ sinh ra cho con nửa cuộc đời yêu quý/ Thì con chính là con gái mẹ mẹ ơi!”.Tôi tin người mẹ chắc chắn mát lòng khi nghe con dâu nói những lời cảm động từ gan ruột mình và người chồng thấy hạnh phúc vô bờ khi người vợ thổ lộ tâm tình với mẹ mình như thế.

Những tình cảm mà chị giành cho anh chị em cũng thật cảm động. Người anh hy sinh tại chiến trường sau 39 năm mới tìm thấy mộ. Người mà khi cha mẹ còn sống “ Đã bao đêm xưa canh ba cha ngồi dậy/ Bên bếp lửa hồng đau đáu gọi tên anh/ Đã bao ngày qua mẹ nhắc nhở cháu con/ Cố gắng tìm anh về cho bằng được” và “Anh trở thành thần tượng của các cháu con”. Bên cạnh đó là những tình cảm đậm nhạt khác nhau giành cho những người thân trong gia đình như chồng con, cháu nội và anh em, họ hàng. Mỗi người một hoàn cảnh, một thân phận, một nỗi niềm đều gợi lại cho chị những tự hào, những xót xa, những hình ảnh thương mến, quen thuộc, gần gũi. Và chị nói về mình, về suy nghĩ riêng tư hằng ấp ủ, về những gì mình hằng chiêm nghiệm. Chị viết cho chị, vì chị, vì những người thương yêu. Chị mang “Một mảnh vai gầy...Thao thức suốt năm canh” bởi “Ngày qua ngày lòng dạ cứ xốn xang/ Ví thể phận mình chia làm ba được/ Phần cho mẹ lo chu toàn sau trước/ Phần cho cháu đích tôn phần ở lại chăm anh”. Và khi tình thơ, cảm xúc thơ lên cao, chị ví mình như hoa cỏ may khiêm nhường và bao dung “Không ganh tỵ chẳng đua chen/ Dù cho hơn thiệt đỏ đen nỗi niềm/ Không buồn tủi chẳng ưu phiền/ Nhẹ nhàng êm ái dịu hiền thẳm xanh/ Mặc lòng thôi cứ chân thành”. Chân thành mà sống, mà thanh thản mà cống hiến cho những gì mình yêu tin. “Sông sâu mình sẽ bắc cầu/ Non cao mình nguyện dãi dầu nắng mưa/ Bão giông cũng chỉ quá trưa/ Đói lòng rồi chắc đến mùa bội thu”. Đến giờ nhà chị đã “Tung tăng gà vịt đầy chuồng/ Ao sâu lắm cá góc vườn nhiều na/ Xum xuê cây cỏ lá hoa/ Mùa nào thức ấy... ”. Niềm hạnh phúc nhỏ nhoi đơn sơ ấy là mơ ước của bao nhiêu gia đình tần tảo sớm hôm.

Bên cạnh những trang viết đằm thắm về nghĩa tình cha con chồng vợ, về những người thân yêu còn một mảng nữa nói lên những suy nghĩ, chiêm nghiệm về cuộc đời không nhiều nhưng cũng kịp để lại những ấn tượng khó phai. Đó là những ngày tháng đợi chờ chồng “Hoàng hôn không đẹp những chiều vắng anh/ Sợ bình minh mới nắng lên/ Sợ hương hoa lạ trên miền đất quê...Sợ vui bầu bạn rủ rê...Sợ thời hiện đại sợ mê lòng người...” đủ mọi thứ sợ với người đàn bà một hai con vắng chồng trong thời buổi hiện tại. Rồi chị nói như đã chiêm nghiệm một thời gian dài “Cuộc sống sẽ bình yên cuộc sống vẫn muôn màu/ Sẽ tràn ngập yêu thương như lời thơ tiếng hát/ Nếu biết quan tâm đến nhau những điều nhỏ nhất” và “Cuộc đời như một cơn giông/ Sét vang trời đất mà không mưa về/ Cuộc đời bao nỗi sơn khê/ Niềm vui thì ít tái tê lại nhiều” rồi chị ước “Mong mọi sự tốt lành/ Để con người vạn phúc/ Để buồn đau mất mát/ Theo thời gian trôi nhanh”.

Chính vì những lẽ trên, bạn đọc dễ dàng nhận ra đây là thơ của một tấm lòng đôn hậu, vị tha, tận tụy trong giao tiếp và nhân cách tốt đẹp trong cuộc sống, trong sinh hoạt thường ngày. Tôi trân trọng những điều ấy và quý mến chị dù chưa từng một lần gặp gỡ.

Tất nhiên sau khi đọc cả hai tập thơ khá dày dặn này, bạn đọc cũng bắt gặp không ít những sạn cát, những cấn cặn. Điều ấy cũng thật dễ hiểu. Thơ chị nói đầy đặn về tấm lòng nhưng ít sáng tạo về câu chữ và cách lập tứ. Có những chi tiết cụ thể nhưng khó chấp nhận với bạn đoc. Ví như ngày giỗ mẹ nhớ về đấng sinh thành, chị lại hồi tưởng “Ai sẽ rót chén rượu đào dâng mẹ lúc đêm khua” (T.148 tập Hoa không tên). Có thể mẹ chị lúc còn sống thường uống rượu chăng hay là do thủ tục của việc cúng giỗ? Tôi thiên về lẽ thứ hai hơn. Nhưng tôi nghĩ nếu nhắc thầm với mẹ, người ta thường liên tưởng đến lá trầu, miếng cau...chứ ít người nhắc đến chén rượu đào. Cần nhắc thêm là chị bắt đầu lặp lại mình rồi cả trong cấu tứ (thơ chị thường không hay chú ý tới tứ) lẫn câu chữ. “Anh hãy phù hộ cho chuyến đi này vạn sự bình yên”(T.36 tập Điều giản dị) và ngay trang 38 kề bên, chị viết “Và mong cho chuyến đi này vạn sự bình yên”. Trong tập Hoa không tên, bài “Nhớ cha” chị viết “Hình bóng cha kính yêu - người con thương yêu nhất” (T.49) thì ở trang 145 cùng tập, lại có “Mẹ kính yêu của con ơi/ Con yêu mẹ nhất đời” và trang 43 trong tập Điều giản dị còn thấy “Bao nỗi nhớ niềm thương tới anh trai của em/ Người em thương yêu nhất”. Tôi tin đó chưa phải đã hết những câu mà bạn đọc thấy trùng ý, trùng lời, trùng cách nghĩ.

Với những trang viết này, tôi không có ý và cũng không thể tìm hết những cái đẹp, cái hay của tập thơ. Điều đáng trân trọng là tâm huyết của một cựu công chức làm công tác quản lý đã bày tỏ nỗi lòng mình với mọi người, với cuộc đời trong tình hình xã hội mà đạo đức tác phong phải trau dồi, bồi đắp tích cực hiện nay... Những mặt hạn chế là chuyện bình thường và có thể rất khó sửa với cây bút đã vào độ chín như chị nhưng chúng tôi tin, chị là người nhân hậu và các tập thơ: Hoa không tên - Điều giản dị chính là tấm lòng người rất cần có mặt trong cuộc sống hiện nay.


(*) Hoa không tên. Tập thơ. Nhà xuất bản Công an nhân dân. 2008

(**) Điều giản dị. Tập thơ. Nhà xuất bản Văn học. 2010.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 23.6.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004