Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Tính Chân Thật trong

“Trời Cao Đất Thấp Chúng Ta Thì…”!






     Đây là tập tùy bút của tác giả Trần Hữu Ngư, dày 340 trang, phụ bản Đỗ Hồng Ngọc mang logo nhà xuất bản Mỹ Thuật (Hà Nội) -2015, không ghi rõ nơi in theo quy định, nhưng từ đầu năm 2016 đã rao bán trên mạng và phát hành tại Bình Thuận và Tp.Hồ Chí Minh. Nội dung gồm phần nhiều bài viết ngắn, tản mạn về tình yêu âm nhạc khá phong phú, thú vị. Trong tập tùy bút có một số bài mang nỗi niềm ký ức của tác giả qua một thời với quê hương La Gi, Hàm Tân, Tân Thành (Bình Thuận)… đây cũng là điều đáng quý. Nhưng rất tiếc, qua đó tác giả đã bộc lộ sự vội vàng và sa đà lại coi đó là những phát hiện độc đáo do thiếu sự tìm hiểu thấu đáo qua những tư liệu từng được khẳng định. Do giới hạn của một bài viết, chỉ xin được giới thiệu một vài chỗ rất dễ gây nhầm lẫn cho người đọc.

     Bài “Gió Tết” trang 126, tác giả viết về địa danh La Gi mượn từ một giai thoại:“…trong thời Pháp thuộc, người Pháp đến Lagi, lúc bấy giờ vùng đất này còn hoang vu, người Pháp hỏi thông ngôn: Nơi đây tên là gì? (dịch). Người thông ngôn nghe không rõ hỏi lại người bên cạnh: Là gì? Thằng Pháp “quất” vào “Là gì”. Và nó chết tên từ đó”. Tiếp đến là: “Trước 1975, La Gi viết dính liền nhau (Lagi), nay không hiểu dựa vào đâu mà người ta viết Lagi rời nhau thành hai chữ”. Thật ra nếu có “phịa” chăng hoặc bằng thể loại “tùy bút” tác giả cũng nên chịu khó tìm hiểu về quá trình hình thành một địa danh, nhất là một địa danh hành chánh của một địa phương phải dựa trên nhiều cơ sở vì đó là một phạm trù lịch sử, có tính khoa học. Không thể nào từ thái độ “lấc cấc” của một anh thông ngôn mà tên lính Tây lấy đó đặt tên cho vùng đất đã định danh trên bản đồ từ dưới thời phong kiến. Vậy người Pháp đặt chân đến La Gi đầu tiên là khoảng thời gian nào để tác giả coi đó là cái mốc ra đời địa danh La Gi. Nếu đọc Đại Nam nhất thống chí quyển 12 (Bình Thuận) do Quốc sử quán nhà Nguyễn soạn xong năm 1882 và được Tu Trai Nguyễn Tạo dịch vào năm 1963, thì địa danh La Gi đã có rồi và được dịch từ chữ Hán ra quốc ngữ là La Di. Kể cả trên “Bình Thuận toàn đồ”, phần Nam phủ Hàm Thuận, vẽ sau năm 1832 ghi bằng chữ Hán tên hai con sông là Maly (Sông Phan) và Sông La Di (Sông Dinh). Hoặc qua biểu dâng vua của Nguyễn Thông trong châu bản “Doanh điền biểu văn” năm 1877 cũng nêu rõ vị trí quan trọng của cửa tấn La Di trên đường vận chuyển sản vật rừng, lúa gạo phía nam của tỉnh ra Phan Thiết. Do cách ghi chép theo phiên âm nên các văn bản hành chánh thời Pháp lúc là La Di, lúc là Lagi nhưng vẫn cho thấy địa danh La Gi đã có từ lâu tức khi chưa có dấu chân người Pháp đến đây. Địa danh La Gi trở thành thiêng liêng, máu thịt của một địa phương không thể nào được khai sinh từ một câu chuyện “hề” vô vị. Thêm nữa, đến bây giờ mà tác giả còn thắc mắc và lại khẳng định trước 1975 địa danh La Gi đều viết liền nhau (Lagi) mà nay lại viết rời ra. Là một địa danh hành chánh, dù tên gọi xuất xứ, nguồn gốc thế nào, nhưng khi được Việt hóa phải viết đúng với âm ngữ đó. Giáo trình tiếng Việt và các văn bản của Chính phủ qui định về cách viết tên, địa danh hành chánh đã đề cập từ lâu. Trước năm 1975, các văn tự, địa chí, chứng thư khá kỹ càng đều ghi La Gi rời ra, lại còn có cả gạch nối đối với những danh từ kép và nhất là cách viết về địa danh (La-Gi). Tuy nhiên cũng có một vài văn bản, bài báo viết như tác giả lấy đó làm căn cứ, kể cả bây giờ vẫn có nhưng không phải là phổ biến.

     Ở bài “Ngày ấy, Phan Thiết” trang 213, tác giả Trần Hữu Ngư viết: “Đi cho đến hừng đông thì Camp Edépic đã hiện ra trên một động cát có doi đất chòi ra phía biển. Ngày đó dân làng tôi đâu biết chữ tây chữ u gì, nghe Cam Edépic thì đọc Căn a-sơ-bíc”. Rồi còn giải thích rất tự tin “Người ta bỏ chữ Ed- épic đằng sau mà chỉ đọc đơn giản là Căn”. Đó là tác giả viết về trại lính Pháp đóng trên phi trường Phan Thiết và cũng là một địa danh gắn với lịch sử chiến tranh nổi tiếng của Bình Thuận mà lại viết không chính xác và không hiểu nghĩa của từ đó là gì? Thực ra căn cứ này thường được viết tắt và gọi là Camp ESEPIC (tức gồm các chữ đầu của Ecole Superieure d’Education Physique de Indo-Chine (Trường cao đẳng thể dục thể thao Đông Dương) và Camp có nghĩa là trại (lính), đồn (binh). Như vậy không biết tác giả dựa vào đâu để có “Camp Edépic” ? Cũng không thể đổ cho lỗi bản in vì được lặp lại nhiều lần và chính tác giả là người sửa bản in.

     Không những chừng đó mà còn dễ gặp trong tập sách nhiều “lợn cợn” khác. Ở bài “Ký ức một thời viết báo tỉnh lẻ” trang 173, tác giả viết “…đầu 1964 tôi tập tễnh viết báo với tư cách là Thông tín viên. Nói viết báo cho nó oai, chứ thực ra đó là những mẩu tin ngắn thuộc loại xe cán chó, chó cán xe…”, thế mà sau này không biết tác giả ở cương vị, uy thế nào mà đã tự hào: “…ngày ấy tôi là người viết báo ở một tỉnh lẻ của chế độ cũ, có rất nhiều chuyện vui buồn, như chuyện tôi từ Tòa hành chánh tỉnh Bình Tuy đi vào Sài Gòn bằng trực thăng để cứu Chef Bình Tuy (ý nói là Tỉnh trưởng tỉnh Bình Tuy) vì một bài báo đang đăng…”. Tác giả lại mâu thuẫn với hành động xả thân của mình (nếu có) khi tỏ ra tâm đắc: “tôi quan niệm rằng, dù ở bên này hay bên kia nếu anh giữ được cái tâm và không “bồi bút” thì bài viết của anh sẽ được mọi người tin yêu”! Việc làm cứu Chef bằng khả năng của một anh viết báo tỉnh lẻ thời ấy, nếu đúng như thế thì cũng tự tố cáo cái thân phận là công cụ, bồi bút rồi. Một số bài như “Làm thơ để làm gì…? trang 181, tuy chỉ nói đến nhân vật “hắn” đi học tập cải tạo ở Đồng Tháp một cách chi ly để người đọc là người thân thiết của tác giả sẽ không khỏi thắc mắc do hoàn cảnh nào để có năm tháng “cải tạo” và nghĩ đó là tự sự của tác giả. Vậy mà ở bài “Niềm kiêu hãnh dưới cờ” trang 267 lại gay gắt: “Tôi tin nhân quả và tâm linh –những ông “cách mạng 30” đã từng làm khổ dân ngày ấy, như người lớn và học sinh khốn khổ vì cái lý lịch (cha làm mà con phải chịu!) –hôm nay một số đã chết bất đắc kỳ tử số còn lại, thân bại danh liệt…”. và tác giả nhắc đến anh cán bộ thôn, tức xếp cùng dạng cách mạng 30, để rồi viết: “mấy lần về Chợ cá biển tìm thăm anh ta, nhưng không gặp, chắc cũng đã đi theo các cụ …rồi!”. Trong thực tế, sau ngày giải phóng cũng có một số người có những hành động quá quắt, hạch sách dân nhưng không vì vậy để rồi trên trang giấy văn chương lại hạ bút bằng một thái độ nguyền rủa, hằn học thì không nên.

     Ra đời được một tác phẩm phải có sự đầu tư bằng tất cả tâm huyết, niềm đam mê chưa đủ mà còn cần đến những yêu cầu cơ bản khác.Đừng biến tùy bút thành “tùy tiện” phóng bút. Tập sách này sẽ được người đọc đón nhận với những điều mới lạ, thú vị trong lĩnh vực âm nhạc của một thời kỳ nhưng với những bài tùy bút văn học mang tính tự sự bằng chủ quan, thiếu cân nhắc của tác giả đã tự đánh mất đi giá trị của tác phẩm.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BìnhTuy ngày 04.3.2016.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004