Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới











Trần Nhuận Minh – Dòng Sông Thơ Chảy Mãi






C ó một dòng sông thơ đã chảy không ngơi nghỉ suốt nửa thế kỷ qua. Cuốn theo dòng sông ấy là số phận của các tầng lớp nhân dân Việt Nam, trong mọi va đập của thời cuộc, dù là ở trong nước hay ở nước ngoài. Đó là dòng sông thơ Trần Nhuận Minh. Dòng sông ấy, nước chỉ chảy xuôi ra biển nhưng có nhiều tầng, có tầng chảy dưới sâu trong các lớp đất đá, có tầng bay ở trên trời là những làn mây trắng mong manh như một nỗi ám ảnh không nguôi trong lòng bạn đọc chúng ta.

Nhà thơ Trần Nhuận Minh sinh ngày 20/8/ năm Giáp Thân (1944 ), quê ở làng Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1982. Từ năm 1962 đến nay, ông sống và làm việc tại Quảng Ninh, từng làm Bí thư Đảng Đoàn, Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Quảng Ninh, Tổng biên tập báo Hạ Long, Ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam… .Ông cũng là người đưa ra ý tưởng của nhiều giải thưởng văn học nghệ thuật mà Quảng Ninh vẫn duy trì cho đến nay, như Giải văn nghệ Hạ Long, giải thơ Lê Thánh Tông và góp công lớn vào sự ra đời của Ngày thơ Quảng Ninh từ năm 1988, là tiền đề cho sự ra đời ngày thơ Việt Nam hiện nay… Trong Bảo tàng Văn học Việt Nam tại Hà Nội, có phần trưng bày về tác phẩm và cuộc đời sáng tạo của ông cùng nhiều nhà thơ, nhà văn danh giá khác của cả nước. Và con đường đến với thơ của ông cũng tự nhiên như lẽ đời.

Từ tập thơ đầu tay Đấy là tình yêu xuất bản năm 1971, đến nay, qua 50 năm cầm bút, 33 tập sách, trong đó có 19 tập Thơ, 3 tập Truyện vừa, 1 tập Văn, 1 tập Tiểu luận và 9 tập Biên khảo đã được xuất bản ở trong nước, chưa kể 1 tập thơ xuất bản ở nước ngoài và hai tập biên khảo về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông, mà tác giả là nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học hàng đầu của đất nước. Riêng tập Nhà thơ và hoa cỏ (xuất bản năm 1993) đã tái bản tới 22 lần và lập kỷ lục Việt Nam về tập thơ thời kỳ đổi mới có số lần tái bản nhiều nhất – một hiện tượng hiếm có của thi ca Việt Nam. Điều đó chứng tỏ thơ ông được nhiều người hâm mộ. Tập Nhà thơ và hoa cỏ được đánh giá là tập thơ đi tới tận cùng của hiện thực xã hội khi Trần Nhuận Minh viết về đủ " các thành phần" từ công an, thầy giáo, thày bói, đến nhà cầm quyền, các đại văn hào, thi hào, anh hùng, cho đến những tên trộm cướp, người ăn mày… với một chủ nghĩa nhân văn cao cả. Nhà thơ mất tới 15 năm để hoàn thành tập thơ, và bạn đọc tác phẩm này của ông sẽ thấy ông rất yêu kính những người lao động. Ông đã viết về họ bằng cả tấm lòng.

Đây là hình tượng Bá Kim, một bà mẹ ở làng quê, có hai con đều là liệt sĩ : “ Bá chả yêu cầu điều này, điều nọ / Trước móc cua bây giờ cũng móc cua / Mu bàn tay chéo chằng vết xước / Cái giỏ treo bên liếp tre thưa”…

Và đây nữa, hình ảnh những công nhân: “ Các chị sửa đường / Hai bàn tay vá từng hòn đá nhỏ / dưới trời tầm tã mưa / “ Các anh thợ lò/ Lưỡi búa xả vách than tóe lửa / Cái nóng như nung trong mũ nhưa…”

Soạn bộ sách Thi nhân Việt Nam hiện đại – nhà biên khảo Thái Doãn Hiểu xếp Trần Nhuận Minh lên đầu tập và phong cho ông là vị nguyên soái , với bài Trần Nhuận Minh: thơ phải lay động mọi người về số phận của nhân dân. Trần Nhuận Minh đã từng tâm sự:

Viết được một câu thơ trung thực với Nhân Dân/Tôi đã đi qua bốn mươi năm bão táp /Cả xã hội diệt trừ cái Ác/ Cái Ác vẫn ngang nhiên cười nói giữa đời... ”

Phẩm chất của thơ là Chân Thiện Mĩ. Nhưng thơ ông đặc biệt để cao và phấn đấu cho các Thiện.

Ông hi vọng : “ Sẽ đến ngày cái Thiện lên ngôi / Bạo lực và cường quyền / Tất cả thành vô nghĩa

Giáo sư Phong Lê, nguyên Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam, từng nhận định rằng, trong sự nghiệp sáng tác của Trần Nhuận Minh thể hiện khá rõ 3 lần định vị cho thơ. Lần thứ nhất là từ nông dân đến với công nhân. Lần thứ hai là từ công nhân đến với nhân dân. Và lần thứ 3 là từ nhân dân đến với con người. Dù ngay từ sáng tác đầu tiên, bài Chiếc đòn gánh cong, đăng báo từ năm 1960, khi ông mới 16 tuổi, vấn đề số phận của nhân dân cũng đã hé lộ. Nhưng phải đến sau năm 1986, khi văn chương đã cởi mở hơn, vấn đề SỐ PHẬN của nhân dân mới xuất hiện đậm đặc trong các chân dung thơ của ông, thành một dòng chảy riêng, mà nhà thơ Vân Long là người đầu tiên nói rằng, trong làng thơ Việt Nam, chỉ mình ông có dòng thơ này. Có lẽ vì thế chăng, mà ông đã quyết định bỏ lại 166 bài thơ và 2 trường ca đã xuất bản trước năm 1986 để tự làm mới mình từ đầu … Trong các nhà thơ Việt Nam cùng thế hệ ông, cũng chỉ có một mình ông đã quyết liệt làm việc ấy.

Nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học, đều có một nhận xét chung: “Trần Nhuận Minh là một nhà thơ thế sự.” Bởi các bài thơ ông viết đều phản ánh nỗi đời, lẽ đời, với những mảng hiện thực xã hội sâu sắc, thậm chí nhiều khi gai góc thẳng thắn và đầy chất chiêm nghiệm, ngẫm nghĩ …Thêm một phát hiện thú vị khác là thơ Trần Nhuận Minh rất giầu chất suy tưởng, nó có màu sắc triết học, nhưng tỏa ra nhẹ nhàng như hương của một loài hoa. Những câu thơ rất giầu chất chiêm nghiệm, như một sự tổng kết lẽ đời, nó có thể tách ra khỏi tác phẩm, sống độc lập ở bên ngoài tác phẩm, ví như: “ Sống úp mặt xuống đất / Chết ngửa mặt lên trời” “ Trước cần lí lịch tốt / Giờ cần có lắm tiền “ hoặc “ Cái ÁC vỗ vai cái THIỆN / Cả hai cùng cười đi về tương lai” Hoặc câu thơ nhiều người thuộc lòng mà không cần nhớ tên tác giả : “ Lòng tốt gửi vào thiên hạ / Biết đâu nuôi bố sau này …”

Ông lại có những câu thơ mà ý tưởng của nó được chiết xuất từ khoa học vật lý lí thuyết, đến các kinh sách phương Đông cổ đại và giai điệu của âm nhạc Việt Nam truyền thống và phương Tây hiện đại mà ta có thể dễ dàng nhận ra khá rõ trong Bản xô nát hoang dã, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh … Sự kết hợp hài hòa giữa hiện thực nghiêm ngặt và trữ tình bay bổng trong Nhà thơ và hoa cỏ, triết lí bản thể trong 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh, hài hước dân gian trong Miền dân gian mây trắng… Cho thấy một Trần Nhuận Minh, uyên bác, phong phú và đa dạng đến mức nào. Tác phẩm của ông đã được dịch ra 9 thứ tiếng nước ngoài, nhiều nhất là tiếng Anh, mới nhất là tiếng Đài Loan, sau khi đã xuất bản tập tuyển dày dặn bằng tiếng Trung ở Bắc Kinh Trung Quốc. Ông còn là người sáng tạo ra hai hình tượng đặc biệt độc đáo là Đấng Mê Tơi Đấng Âm U trong thi ca – để lí giải những vấn đề về tâm thức mà con người bao đời muốn vươn tới nhưng không bao giờ nắm bắt được

Ngoài 5 lần được giải cao nhất giải thưởng Văn nghệ Hạ Long được trao 5 năm 1 lần và 22 giải thưởng thơ văn khác của các cơ quan Trung ương, năm 2007, Trần Nhuận Minh đã vinh dự được trao giải thưởng Nhà Nước của Chủ tich Nước, về văn học nghệ thuật đợt 2 – với chùm tác phẩm Nhà thơ và hoa cỏ (xuất bản năm 1993) và Bản xô nát hoang dã (xuất bản năm 2003). Đây có thể coi là những tác phẩm tiêu biểu cho hành trình thơ rất dài của ông, và 2 tập thơ đó như 2 thái cực cần có của cuộc sống – 1 đi đến tận cùng của cái thực còn 1 đi đến tận cùng của cái ảo.

Từ Nhà thơ và hoa cỏ đến Bản xô nát hoang dã đã có 1 bước chuyển mới về bút pháp. Bản Xônat hoang dã  gồm 36 bài, TNM vận dụng đặc trưng của thể loại sonata âm nhạc vào thơ. Ít ai biết trước khi viết tập thơ này, nhà thơ đã trải qua 1 biến cố lớn của cuộc đời. Ông bị tai nạn giao thông ở Hải Dương và đã chết lâm sàng trong vòng 4 tiếng đồng hồ. Không hiểu sức mạnh nào đưa ông trở về cõi sống và khiến ông viết Bản xô nát hoang dã trong trạng thái thanh thản, trong trẻo, tinh khiết, mà sau này dù muốn, ông cũng không thể viết lại như thế được nữa.

Với giải thưởng nhà nước, ông đã đóng góp cho thơ ca vùng mỏ thêm một đỉnh cao. Bởi đến nay, Quảng Ninh mới chỉ có 3 tác giả có được vinh dự ấy, đó là Võ Huy Tâm, đợt 1, Trần Nhuận Minh, đợt 2 và Lí Biên Cương, đợt 3, trong đó Võ Huy Tâm và Lí Biên Cương là nhà văn đều được truy tặng. Trong hơn 50 năm qua, Quảng Ninh – với danh sơn Yên Tử, biển và than, đã tạo cho thơ ông nhiều cảm xúc dồi dào. Một số bài thơ được phổ nhạc, trở thành những ca khúc được yêu thích như Chiều Yên Tử, Chơi thuyền trên vịnh Hạ Long, … và đặc biệt Vùng than quê hương tôi, nhạc sĩ Lương Vĩnh phổ thơ ông đã được tặng Giải thưởng Nhà Nước năm 2007.


Ngoài thơ, ông còn có ba tập truyện vừa: Trước mùa mưa bão (xuất bản năm 1980, in lần thứ 6, năm 2012), Hòn đảo phía chân trời (xuất bản năm 2000, in lần thứ 6 năm 2015) được đưa vào sách giáo khoa từ năm 1980 đến nay.

Một tác phẩm khác có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp văn chương của ông là tập Đối thoại văn chương, non 1000 trang, nhà thơ Trần Nhuận Minh lần lượt trả lời 265 câu hỏi của nhà thơ Ca na đa Nguyễn Đức Tùng, “về văn chương và xoay quanh văn chương” nhưng đem lại cách nhìn và sự chiêm nghiệm sâu sắc về nghiệp văn, đời văn của nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng ở trong nước và cả trên thế giới. Ở đó còn có sự phát hiện, định đoạt, đánh giá lại các giá trị của văn chương với một thái độ chân thành, trách nhiệm của một người nghiên cứu sâu sắc và nghiêm cẩn về văn học nghệ thuật. Đây cũng là kết quả quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc và công phu của hai tác giả, cộng với một vốn sống dồi dào và một tầm tri thức rộng rãi. Riêng nhà thơ Trần Nhuận Minh đã viết và chỉnh sửa đến 17 lần trước khi xuất bản cuốn sách này. Buổi hội thảo về cuốn sách diễn ra tại Trung tâm văn hóa Pháp Lepace – Hà Nội dịp đầu năm 2013 đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình văn học nghệ thuật có uy tín trên cả nước .

Cuối năm 2014, “ Tinh tuyển thơ Trần Nhuận Minh” đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Trung tại Bắc Kinh (Trung Quốc). Đây cũng là một sự kiện rất đáng lưu ý của thi ca Việt Nam, bởi số lượng các tác phẩm thơ của Việt Nam từ trước tới nay được Trung Quốc chọn xuất bản là không nhiều. Dịch giả, GS – TS Trung Hoa, Phùng Trọng Bình giới thiệu ông với nhân dân Trung Quốc: Đọc thơ Trần Nhuận Minh là bước vào thế giới tinh thần của cả một dân tộc… Trần Nhuận Minh là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam... Thơ ông đã được tham khảo trong việc dạy và học về văn học Phương Đông ở một số trường đại học Hoa Kì và nhiều trường Đại học ở Trung Quốc

Sau tập thơ Cánh rừng đã bay về trời xuất bản năm 2012, tập thơ thứ 19 Thành phố dịu dàng ra mắt dịp đầu tháng 11/2015, ông còn đang hoàn thiện cuốn tiểu thuyết Cõi Người đã được ông ấp ủ, và viết đi viết lại từ hàng chục năm nay. Tiếp cận với nhiều trang bản thảo của ông, chúng tôi nhận ra ông lấy chính làng quê mình làm trung tâm tác phẩm và cái tên làng Điền Trì hiện lên qua rất nhiều chương. Vì lẽ đó, chúng tôi đã đến thăm làng ông, mới biết Từ đường dòng họ ông, được Tham tụng - Hình bộ thượng thư Trần Thọ, tước Phương Trì Hầu, tên chữ là Nhuận Phủ, đồng thời là nhà thơ và nhà ngoại giao nổi tiếng ở thời Lê, xây dựng từ sau năm ông thi đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất, 1670. Ngay từ đôi câu đối cổ đã cho biết dòng họ ông hiện nay là hậu duệ vua Trần, từ Tức Mặc chuyển về để tránh sự hủy diệt của Hồ Quí Li. Và cuốn tiểu thuyết CÕI NGƯỜI cuả ông cũng khởi nguồn từ đó cho đến nay là 600 năm, với bút pháp hiện thực mà đầy biến ảo, rất độc đáo. Đó là những sáng tạo không bao giờ ngưng nghỉ của một tài năng đã ở độ tuổi chín nhất của đời mình, một nhân cách nghệ sĩ, đồng thời cũng là một nhân cách công dân rất đáng nể trọng. Các tác phẩm của ông như một dòng sông nhỏ đã chảy ra biển lớn, hoàn thành sứ mệnh của mình, hòa vào cuộc đời và làm đẹp thêm cho cuộc đời này, như câu thơ mà nhiều người đã đọc đâu đó trong tác phẩm của ông: “ Dòng sông chỉ trung thành với ngọn nguồn / khi đưa nước được ra tận biển”.


 
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 28.02.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004