Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Hermann Hesse(1877-1962)



HERMANN HESSE










Hermann Hesse là nhà văn của Hậu chủ nghĩa biểu hiện (Nachexpressionismus). Con người ông luôn chuyển động giữa hai cực Đông-Tây. Con đường sáng tác của Hermann Hesse đi từ tình cảm cô đơn và nỗi buồn lãng mạn cuối thế kỷ XIX đến tầm nhìn xa trông rộng có trách nhiệm đối với xã hội. Ông là nhà văn hiện thực phê phán lớn của văn học Đức thế kỷ XX và là nhà văn được đọc nhiều nhất trên thế giới.

Hermann Hesse sinh ngày 2.7.1877 ở Calw vùng Wũrttemberg (Đức) và mất ngày 9.8.1962 ở Montagnola (Thụy Sĩ). Cha của ông đã sống ba năm ở Ấn Độ với tư cách là nhà truyền giáo, mẹ ông là con gái của nhà truyền giáo, nhà An Độ học, tiến sĩ Hermann Gundert- một người có học vấn uyên thâm về An Độ và có riêng một thư viện lớn.Cậu bé Hermann đã từng đọc sách trong thư viện này. Cảnh gia đình trí thức ngoan đạo với sự pha trộn của nhiều nền văn hoá khác nhau ảnh hưởng rất sâu đậm trong con người nhà văn Hermann Hesse. Tâm hồn ông luôn chuyển động giữa hai cực Đông-Tây để đi tìm một nhân lọai thuần khiết, một nhân lọai sống trong cảnh bình yên. Những kỷ niệm thời thơ ấu của nhà văn ta luôn thấy trong nhiều tác phẩm của ông. 1890 ông học Trường La Tinh. 1891, ông học thần học. Ông bỏ học do thấy mình không thích hợp với nghề làm giáo sĩ, rồi 1892 ông học nghề buôn bán sách. 1899-1904, ông sống ở Bael (Thụy Sĩ) và mở hiệu sách cũ. Từ 1904, ông sống ở Gaienhofen bên bờ hồ đẹp như mộng là Bodensee (bên này hồ thì thuộc về Đức, bên kia hồ thuộc Thụy Sĩ) và chuyển sang viết văn chuyên nghiệp. Cũng năm 1904 ông xuất hiện trên văn đàn với tác phẩm Peter Camenzind. Đây là một tiểu thuyết giáo dục (Bildungsroman) rất hấp dẫn bạn đọc đương thời. Nó có tính chất tự truyện về một thanh niên sống lang thang, mang trong mình nhiều hoài bão, nhưng không thích nghi được với đời sống bon chen ở thành phố lớn trong xã hội tư sản, cuối cùng đành phải trở về quê nhà sống an phận là chủ quán. 1911, ngán cảnh náo nhiệt của thời cuộc nên năm 1912, Hermann Hesse sang Thụy Sĩ và nhập quốc tịch nước này.

Hermann Hesse là đại diện tiêu biểu cho văn học nhân văn tư sản Đức . Con đường sáng tác của Hesse đi từ tình cảm cô đơn và nỗi buồn lãng mạn của cuối thế kỷ XIX đến tầm nhìn xa trông rộng, có trách nhiệm đối với xã hội ở thế kỷ XX, ông ước mơ và tin chắc vào tương lai tốt đẹp hơn của con người. Ông nhận giải Nobel văn học năm 1946, vì những tác phẩm của ông mang đậm truyền thống nhân đạo cổ điển, thể hiện bằng một văn phong súc tích. Nhiều tác phẩm của ông được cả bạn đọc phương Tây và phương Đông yêu thích.

Những tác phẩm tiêu biểu khác của Hermann Hesse là:

Knulp (1915) là tên nhân vật chính, đồng thời là tên tiểu thuyết. Bản thân cuộc đời lãng tử của Knulp đã là một bài thơ không lời. Cuộc đấu tranh sinh tồn và những gian truân trong cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa – nhạc sĩ, họa sĩ Gertrud (1910) được phản ánh trong tiểu thuyết cùng tên. Hermann Hesse xuất bản tác phẩm Demian (1919) với bút danh Emil Sinclair. Tiểu thuyết viết về một thanh niên đi tìm số phận như mình nghĩ cho chính mình (tác giả đã đưa phân tâm học vào trong tiểu thuyết) nhưng không sao đạt được: đó cũng là tình trạng của thanh niên tư sản thời bấy giờ. Tác phẩm tiêu biểu nhất của Herrmann Hesse là Sói đồng hoang (Der Steppenwolf, 1927). Hermann Hesse như ở trong trạng thái giữa mộng và hiện thực trong một câu chuyện cổ tích thời trung cổ trong tiểu thuyết Narziss và Goldmund (1930). Ở đây tác giả muốn hoà giải giữa tư duy và hành động. Tác phẩm lớn cuối cùng của Hermann Hesse là Chơi bằng những viên ngọc bằng thuỷ tinh (Das Glasperlenspiel, 1943). Chuyện xảy ra vào năm 2000, một nhóm trí thức có lối sốngkết hợp tư tưởng Tây và Đông. Ở tuổi chín chắn và như một nhà thông thái, Hesse viết tiểu thuyết này. Tiểu thuyết mang tính chất giả tưởng và tượng trưng, nói lên khả năng và cần thiết phải hành động vì tương lai tốt đẹp của loài người.

Mùa hè cuối cùng của Kingsor (Kingsors letzter Sommer, 1920) Siddharta (1922) là những truyện hay của Hermann Hesse. Ngoài viết văn, Hermann Hesse còn viết luận văn. Nhiều luận văn của ông rất sâu sắc và có tư tưởng nhân bản. Trong bức thông điệp Hermann Hesse gửi tới buổi lễ trao giải Nobel văn chương năm 1946 có đoạn viết:

Tôi cảm thấy gần gũi với quý vị cũng như với ý tưởng đã truyền cảm hứng cho Qũy Nobel, ý tưởng cho rằng tinh thần có tính quốc tế và siêu quốc gia, nó cần phải phụng sự hòa bình và hòa giải.“

*Sói thảo nguyên

Tiểu thuyết Sói thảo nguyên xuất bản năm 1827. Nhân vật chính trong tác phẩm là Harry Haller, người tự gọi mình là Sói thảo nguyên. Harry Haller là một nhà trí thức có tài và nhạy cảm. Ở tuổi gần năm mươi, nhưng Haller vẫn sống cảnh đơn chiếc, nhà ở thuê. Ông hay phiền muộn, chán đời và thù xã hội. Khi Haller dọn khỏi nơi ở thuê, cháu bà chủ nhà tìm thấy một bản thảo và cho xuất bản. Sách có nhan đề Chỉ dành cho những người điên.

Cuộc sống lang thang vô định làm cho Haller thấm thía nhớ cảnh đầm ấm bình thản ở nhà. Cuộc đời ấy đưa đẩy Haller qua nhiều quán trọ, kết bạn với những kẻ phiêu đãng. Tình cờ- trong lúc ngà say đi ngòai đường- Haller đọc một tấm bảng có hàng chữ Rạp hát thần: Không phải ai cũng vào được, chỉ dành cho người điên. Haller bước vào thì một người đàn ông dúi cho cuốn sách Khái luận về sói thảo nguyên. Không phổ biến cho tất cả mọi người. Tập khái luận này kể về chính Haller, một người có cá tính kép: người và sói thảo nguyên (STN có đặc điểm sống riêng khác hẳn so với sói thông thường). Người văn minh và sói thích sống ngòai vòng cương tỏa xã hội. Trong sách có đưa ra một tiên đóan, Haller sẽ " tìm ra được trong một rạp hát thần… thứ mà ông cần để giải thóat cho linh hồn lạc lõng." Trong một lần đi lang thang, Haller được một người chỉ cho chỗ giải trí: quán khiêu vũ Con Ó đen, nhưng đang đi thì Haller lại gặp thầy cũ của mình và tới thăm gia đình thầy. Trong lúc trò chuyện, thầy trò tranh luận gay gắt về bài báo đả kích Hòang đế, quân đội và chế độ quân phiệt ( do chính Haller viết). Haller tiếp tục lang thang ngòai đường và tới nơi khiêu vũ lúc nào không hay. Ông được người đẹp Hermine niềm nở đón tiếp. Mỗi lần gặp Hermine, Haller đều được nàng chỉ dẫn cách sống hưởng lạc, rồi bạn của Hermine là Maria lại dạy cho Haller nghệ thuật yêu đương. Không những thế Haller còn được tay thổi kèn saxophone là Pablo dạy cho về nghệ thuật và cách sống của một tay lõi đời. Cuối cùng thì Haller cũng tới được rạp hát thần. Nơi đây có đủ mọi trò "vui". Trước mỗi cánh cửa có treo bảng đề trò "vui". Haller bước vào cửa cuối cùng thì thấy Pablo và Hermine trần truồng ngủ với nhau. Nhớ tới lời hứa với Hermine, Haller rút dao găm đâm chết Hermine và bị xử tội với hình phạt là phải cười ré lên. Qua đó, Haller tự nhủ:" Một ngày kia ta sẽ là một tay chơi xuất sắc. Một ngày kia, ta sẽ học cười."

Sói thảo nguyên phản ánh cuộc đấu tranh nội tâm của tác giả với thái độ phê phán khía cạnh tha hóa đạo đức của văn minh phương tây. Con người hiểu biết và nhạy cảm Harry Haller sống trong xã hội như một người ngòai cuộc (Aussenseiter) đi tìm cái Tôi đích thực của mình và cái hài hòa trong cuộc sống nội tâm bị giằng xé giữa nhục dục và tâm hồn, giữa cái thôi thúc của bản năng và văn hóa. Xung đột nội tâm trong con người tự cho mình là sói thảo nguyên(thính tai, tinh mắt)-Harry Haller- chia thành hai phía, nhưng thực chất chỉ là xung đột giữa bản tính người và bản tính thú. Tiểu thuyết bộc lộ rõ cái chao đảo khủng khiếp trong tâm hồn Haller, nó chẳng khác gì một bản tiểu sử tâm hồn con người đi tìm sức sống mới lành mạnh hơn hiện trạng xã hội tư bản. Tiểu thuyết gây nhiều tranh luận với những ý kiến trái ngược nhau, nên 1961, Hesse viết thêm phần phụ chú nhằm " phác họa ra một bệnh trạng và khủng hỏang- nhưng không phải dẫn đến cái chết và hủy họai, mà trái lại: dẫn đến chữa trị."

* Tiểu thuyết Steppenwolf đã dịch sang tiếng Việt với tên Sói đồng hoang, Chơn Hạnh và Phùng Thăng dịch theo bản tiếng Pháp, CA DAO xuất bản, 1969.

*Loài sói thảo nguyên thon và nhỏ con, sống đơn lẻ. Nó rất thính tai và phóng mắt nhìn xa tới đường chân trời. Thảo nguyên mênh mông và bằng phẳng với thưa thớt cây, nên những lòai thú dữ sống ở thảo nguyên(trong đó có sói thảo nguyên) không thể rình bắt con mồi , chúng bắt con mồi bằng rượt đuổi.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 10.01.2016.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004