Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Triệu Từ Truyền –

Hòn Sỏi và Giọt Nước Mắt Ta Bà






Tôi gọi đó là nợ. Món nợ của hòn sỏi nhỏ Triệu Từ Truyền, trót mang trên người giọt nước mắt ta bà của văn chương. Tập thơ “Hạt sứ giả tâm linh” anh vừa đưa tặng có 79 bài, nhưng với tôi hầu như bài nào mang nặng một thứ. Cái thứ bồng bềnh như mây, lãng đãng như khói và mong manh như chút nắng chiều. Cái thứ là tiếng cười, là nước mắt, là những đêm thức trắng, ngày ngẩn ngơ. Là chiếc cầu bắc ngang qua con sông chữ, nhận chìm cả một đời Triệu Từ Truyền ngụp lặn trong đó, để có những vần thơ. Trước sau vẫn vậy, hồi nào tới giờ vẫn vậy, nó ở trong thơ và nó đi vào đời, bình thản như một chứng nhân, một cơn gió nhẹ thoảng buổi trưa hè… Gọi nó bằng một chữ TÌNH của Triệu Từ Truyền liệu có đủ chăng?... Hay bởi tại cái đa mang của một tâm hồn nghệ sĩ, mà phó mặc cho con tim mình lên tiếng nói.  

Ngay từ ở thập niên 60, thơ tình của chàng trai trẻ Triệu Từ Truyền đã không đơn thuần là những rung cảm của đôi trai gái, nó là sự hòa quyện của con người với chung quanh, nó luôn có sự hiện diện của thế giới mênh mông trong cái không cùng của Trời đất, cái thênh thang của tự nhiên và đầy trăn trở của cuộc sống: 


Anh gắn lên môi điếu thuốc chưa đốt

vì không hộp quẹt

nhưng có dòng khói từ trong mũi bay ra

khói của lựu đạn cay

và giọt máu hồng

trên đầu điếu thuốc của anh

 

Anh nghĩ tới em

điếu thuốc đã tàn

dù không hộp quẹt 

(Điếu Thuốc – 25/11/1964-

Đêm Lên Cơn Dài/ Bộ lạc Mới xuất bản 1965-Saigon)


Cái tình chui vào trong nỗi đau. Nỗi đau hình thành thân phận tuổi trẻ ngày ấy và bây giờ. Cái tình đó cũng “lớn” dần theo thời gian. Nó ám ảnh, nó làm thành những câu hỏi, và Triệu Từ Truyền buộc phải trả lời nó bằng những câu thơ. Những câu thơ luôn ẩn chứa những thắc mắc, những đè nén của cái tình không tuôn cùng một lúc, cho tới bây giờ :


mù sương trôi chân núi

mây đục phủ đầu gành

cúi mình như tàn lụi

trong sợi nước mong manh

 

đá chồng chất chân thành

phơi lòng ra nắng gió

sao không thấy xuân xanh

mãi bươi tìm dưới cỏ…

( Vườn Xuân – trang 47)


Và cũng từ rất sớm, Triệu Từ Truyền đã mang thơ với ý tưởng là một thứ ngôn ngữ cử động, nó chất chứa ý nghĩa,nhu cầu tâm hồn, u uất siêu hình, mà tiếng nói hằng ngày không biểu hiện, bộc lộ hết được. Khát vọng bày tỏ xuất hiện trong tâm trí như một nhu cầu tự thân:


Tiếng khóc là tiếng hát

Mỗi giọt nước rơi trầm lạnh

Giọt khô buốt giá bay theo

Uất hận hình thành mầm sống

Bi đát trong mỗi tế bào

Ào ra theo từng lời hát

(Sao em khóc ra lời – trang 43)


Nếu coi thơ là phản ánh của vô vàn hiện tượng, là của những ẩn dụ cho tâm trí, thì thơ Triệu Từ Truyền gần gũi hơn, nhưng vẫn không thiếu những thứ mà người đọc phải tự nhốt mình vào trong đó để cùng trăn trở, cùng ngẫm nghĩ:


còn lại bức tường mùa xuân ở hướng đông

chỗ dựa đầm ấm cuối cùng

em nhớ cho

căn phòng không chỉ một bức tường

dù là phòng tân hôn 

( Bốn Bức Tường – trang 87) 


Những câu chuyện đời, chuyện người, chuyện đi qua thường ngày, nhưng với Triệu Từ Truyền nó ngồn ngộn chất nhân sinh,  đầy màu sắc, nó xô đẩy con người về đúng với bản ngã của mình:


hòn sỏi tịnh tâm bên triền suối lạ

không nhận rong rêu quên hết cao xa

hòn sỏi làm tinh khôi giọt nước ta bà

ngấm hết vào tế bào thiếu phụ

 

cô gái ấy hồn nhiên giẫm lên suối cạn

tận bây giờ vẫn bước tới một lối xưa

vẫn chìm nổi giữa chốn sạch trơn giọt nước 

( Hòn sỏi và giọt nước mắt ta bà – trang 23) 


hoặc: 


du tử lang thang khắp cỏi thiên đường

lại quay về chốn vườn tược quê hương

ôm nốt nhạc chạy vòng quanh trái đất

rồi tưới xuống hoa hồng mấy giọt sương…

( Du tử ôm nốt nhạc – trang 24)


Con đường thơ đã định hình, những lý giải rất riêng về tình yêu và tồn vong sinh tử trong một triết thuyết cũng đã đầy ắp những suy tưởng, làm thành một tính nhất quán, đồng hành để chuyên chở và đào xới từng ngõ ngách của tâm thức nhà thơ, rộng hẹp không còn cần thiết nữa, nhưng chắc chắn nó không hề phẳng lặng:


Chắc chắn tế bào trong anh đầy ắp hạt sứ giả của em

Ngược lại tim em tràn ngập từ trường tình anh

Bông cúc vàng rải hạt xuống lòng anh

Mảnh đất lành muôn thuở

Em về đâu đi đâu vẫn không đành

Người tri kỷ xưa sau vẫn vậy

Lá luôn bên cành

Bông sao đành bỏ vườn, mình ơi 

(Nói với mình – trang 124 ) 


Tư duy triết học vào thơ, bắt nguồn từ thực tại, từ những thành tựu của vật lý đương đại và đi từ “thức” tới “tâm” một cách mê hoặc, một cái nhìn mới về thế giới quan, cái ràng buộc giữa người và người, hạnh phúc hay khổ đau luôn có sẵn một tương quan và gắn kết hiển nhiên bằng những tương tác, tất nhiên là mọi chuyện còn ở phía trước và nhà thơ vẫn an nhiên đi tới: 


mắt hoang dại và môi cười son nắng sớm

bàn tay nồng nàn bờ vai dốc đồi

em tương tác bóng với hình

cho quang tử đi hoang cuộc đời nắng ấm

giữa thung lũng cỏ xanh mướt tuổi

mùa hạ buồn tan vào khoảng không ngoài mắt lưới

còn lại mùa thu tiếc nuối

em nhả ra bóng em trong vũ trụ sáng

hình em trong vũ trụ tối phải không 

( Ảo giác mùa xuân – trang 61)


Ngày lại ngày và thơ tiếp nối, có lúc quá khứ tràn về, hiện tại ngây ngô đứng nhìn và tương lai chập chờn ẩn hiện, rồi đan quyện vào nhau:


hiện tại trôi vào anh theo ngụm cà phê

dĩ vãng đọng trong bình trà cạn nước

tương lai sủi bọt đẩy nút chai rượu

xoay tròn trên chiếc mâm con một phiến đời

lùi xa chỉ là chấm sáng

hạt năng lượng của ái ân

 (Chấm sáng – trang 189 ) 


Nắng tháng ba bỏng cháy, ngày ngùn ngụt khói, ngồi đọc “Hạt sứ giả tâm linh” như tự thưởng cho mình một ly nước mát. Những vô tri biến lặng, những phồn thực bốc hơi, những nghi toan gai góc nhường chỗ cho yêu thương dàn trãi, cho ngôn ngữ thả rong bơi lội trên dòng sông chữ nghĩa:


mặt một khuôn mắt buồn môi ướt

giống hệt nhau nên cuốn hút không rời

tri kỷ tâm hồn tri âm thân xác

giữa hoang mạc đôi du tử long nhong

anh phiêu bạt không còn biết tuổi

em lăn tròn không đếm thời gian

hai ổ cỏ trên đường chân trời 

( Cỏ long nhong – trang 183) 


Thơ là mộng tưởng, nhưng là cái mộng tưởng bắt đầu từ cái thực, cho bài thơ  mang mãi một hình ảnh, một cảm xúc rất thực. Em là ai? Em từ đâu đến? Vô nghĩa chăng khi nó được nhìn từ phía trái tim: 


anh tổng hòa bao số phận bi thương

em nói hiểu anh cớ gì ghẹo chọc

biết ngồi đâu đưng đâu chốn vô thường

đành phiêu lãng với hành trang văn học

 

biết có ngày anh đụng với big bang

vụ nổ lớn cho cuộc tình kỳ dị

tình chữ nghĩa nào có giấy kết hôn

ai làm vợ - ai hồng nhan tri kỷ

( Tình chữ nghĩa – trang 5)

 

và:


năm đi qua tôi còn đi lại

em đi ra khỏi câu chữ tới đây

rồi tặng tôi bầy từ hoang dại

lùa hết vào những tứ thơ bay

 

em viết như rải hạt muôn nơi

hạt tan ra song vỗ tim tôi

rồi tặng tôi bầy từ hoang dại

lớn ngược thời gian đường về nôi

 

em tặng mỗi bông hồng vàng hư thực

con chim khách buồn khóc với đàn én vây quanh

thẹn với tiếng hót chính mình 

( Tình lạ - trang 8 )


Luôn có những giằng co, những lý giải trong quá nhiều va chạm của dòng đời, những rung động vô tình mà ào ạt dậy sóng. Nhưng cũng sẽ vô cùng lạc lõng nếu như không có những rung cảm thực sự, những kết dính vô bờ, hạnh phúc và khổ đau đan chen miên viễn:


dây buộc ràng hình thành vũ trụ

đời xích gần đời cũng đẩy xa

phi lý chạy quanh nhân nguyên tử

ngõ hẹp bất ngờ hóa bao la

 

tịnh tâm giữa rừng già giục giã

đau khổ triền miên mãi định danh

hạnh phúc làm nên hạt sứ giả

đến và đi luân chuyển nguyên lành 

( Nối kết – trang 137 )


Cái đẹp có từ đâu nếu không phải từ cái nhìn, cái vàng vọt hay êm ả của chiều sắp tắt, cái cô quạnh hay ấm nồng của đêm cũng từ đó mà ra. Vậy thì còn hỏi tại sao yêu là hỏi thừa. Em là quỷ ma hay thần thánh, là thiên đàng hay địa ngục. Nhà thơ vẫn dành một chỗ đẹp nhất, êm ái nhất, và vĩnh viễn với Triệu Từ truyền em là thánh nữ. Thánh nữ ở trong thơ và ở trong người:


nhớ đồng bằng êm đềm

nhẩm thơ giữa lặng im:

nếu em là thánh nữ

anh xin chết vì em”

mù mịt làn sương dữ

đọc thơ như niệm chú

địa ngục anh cũng tìm

nếu em là quỷ sứ”

 

em lắc quả chuông tim

lồng ngực anh vang động

thánh nữ mãi là em

thánh nữ đỉnh kỳ vọng 

( Thánh nữ - trang 113)


Không có những mãng màu sặc sỡ, không có những điểm trang làm dáng, khuôn mặt thô mộc của chữ cứ hiện ra bủa vây, nặng trĩu và đỏ ối hạt cà phê ngày mùa trên cao nguyên:


cà phê chín đỏ vùng cao Đông bắc

từng bước đi đếm hạt nhớ em

sương lạnh túm chặt núi đồi

hiện ra đồng bằng Tây nam lạnh ngắt

ảo giác rồi rơi nước mắt

nhớ vườn hoa Nam bộ rộ mùa bông

em tưới vườn mừng độ Tết

 

dáng em ẩn hiện trong dãy lụa mù sương

tưới vườn bông nhiệt đới

luôn ấm nồng gần xích đạo hơn anh

 

có một ngày bão tới

đừng nói em lạnh lắm nghe anh 

( Suối vô cảm – trang 120)


Mộng du của yêu thương là hạnh phúc, là hành trình đi về của những bến bờ quen thuộc, không có nó thơ chỉ còn là con ngưa thồ già nua, mệt mỏi kéo chiếc xe chở đầy những ưu tư, khắc khoải. Không có nó thơ chỉ còn là người lữ khách cô độc trong bóng tối của con đường dài thăm thẳm, những giấc mơ đêm biến dạng, và ngày nhọn hoắc chực chờ những vết đâm đau nhói: 


cây cỏ bên nhà không chỉ sống tự nhiên

chúng luôn thấm đẫm tình người nồng thắm

nụ hoa biếc sẽ chia lòng xao xuyến

hạnh phúc trong em sưởi ấm nụ hoa buồn

 

người đã tới dù không còn chim khách

bây giờ mỗi đốm hồng gặm nhấm trên nền xanh

tia lửa nào phát sáng từ anh

thắp một chân trời hoa trổ 

( Trổ bông – trang 132)


Thơ yêu em từ thuở hồng hoang, thuở du mục dựng lều nghêu ngao cùng thế sự, đuổi bắt nhớ nhung trên những đồng cỏ bạt ngàn, ngửa cổ đón cơn mưa phùn rã rích những thanh âm êm ái mà tha thiết đến tận cùng: 


anh muốn tan ra hằng tỉ electron

chạy thi cùng hạt ánh sáng

rớt vào mắt em

hòa vào máu em

cho ngày ấy vĩnh hằng

em ở đó mùa xuân thấm lạnh

đặt tên giùm anh cánh dã quỳ tội nghiệp

là tên nỗi nhớ nhung 

(Trên đỉnh nhớ nhung - 118) 


Quy luật của một kiếp người bày sẵn, muốn hay không muốn mà được đâu. Quay đầu nhìn lại chếnh choáng những cơn say, thơ mộng cũ nép mình nhường chỗ cho buồn vui, cho dằn vặt với những bước đi đầy rẫy những cung bậc thăng trầm, khi “Khép một vòng tròn” bước qua khỏi tuổi sáu mươi:


số không của sáu mươi năm

của thế kỷ phương đông

anh ném váo canh bạc đời sạch túi thời gian

 

ngày sinh nhật trong bảo tàng

anh đứng bên ngai vàng triển lãm

như nhốt một sinh vật vào Thảo cầm viên

con sư tử già rống lên đừng tuyệt vọng

chiếc ghế uy nghi mong hóa kiếp tro tàn…

( Khép một vòng tròn – trang 104) 


Và càng không thể làm ngơ, không thể quên đi vách núi dựng đứng, bờ vực sâu thẳm, những nhịp điệu chát chúa, với những khoảng không mờ nhạt và tiếng gào âm vọng của một thời:


đôi mắt sư tử già ngấn lệ

đẩy mỗi hòn đá nhỏ không xong

cát sa mạc trùm lên quá tệ

phóng một mình chưa thoát bão giông

 

đã tới lúc sải bước độc hành

sa mạc bao la thân mong manh

chút lệ này đừng cho là khóc

tiễn trần gian một kiếp tung hoành

 ( Sư tử độc hành – trang 18) 


Thôi thì cứ tạm bằng lòng với chừng đó. Không thể viết hay nói về “ một đời thơ, một đời người” chỉ bằng vài dòng ngắn ngủi qua vài mươi bài thơ ít ỏi. Thiếu sót là chuyện tất nhiên. Chi bằng gấp tập thơ lại, trả cho không gian cái tĩnh lặng cố hữu. và tôi cũng sẽ im lặng. Im lặng để soi rọi lại chính mình trong cái hổn quan thường nhật, để chia tay với phù phiếm và bỏ qua những lạc điệu vốn có. Im lặng để được trò chuyện với giới quan khác,với những hồi ức và trăn trở: 


anh cưỡi cá Hô bơi qua Sa Đéc

tiếng khóc sơ sinh ngược nước về Himalaya

chìm trong suối thở

lặng trong thác gào

lúc đất trời ân ái đầu nguồn Me Kong

 

anh cưỡi cá Hô nhớ thuở lên năm

băng qua Cửu Long bằng xuồng tam bản

anh hay cá mắc cạn

bên dòng lịch sử hay dòng sông

 ( Trò chuyện với cá Hô – trang 54)


Im lặng để được nhìn thấy ở đâu đó, có một hòn sỏi nhỏ nằm trơ vơ bên bờ suối cạn, đang cười ngạo nghễ với giọt nước mắt ta bà rơi rớt… 


( tháng 3/2015)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 14.6.2015.

Quay Lên Đầu Trang