Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
(1942-1998)




NHỚ NHÀ VĂN TÔ NGỌC HIẾN



 Dù cách nhà nhau chỉ hơn cây số nhưng tôi đọc thơ, đọc truyện của nhà văn Tô Ngọc Hiến rất lâu trước khi tiếp xúc với anh. Sau ngày anh đoạt giải nhất truyện ngắn Người kiểm tu trong cuộc thi của tuần báo Văn nghệ cùng Vợ chồng xã đội của Lê Khánh rồi in tập truyện ngắn cùng tên do nhà xuất bản Thanh niên ấn hành, tôi mới có dịp tìm vào nhà anh. Anh ở gian nhà cấp bốn dưới tán giâu gia, phía trước um tùm sắn dây cạnh rặng xương rồng chỗ mau chỗ thưa, chó gà chui lọt. Bạn bè anh thường đàm đạo trong nhà, trong hè nhìn cuộc đời ngược xuôi hối hả ầm ào qua bờ xương rồng ấy. Anh là người có cá tính mạnh bạo, ăn nói băm bổ, bặm trợn. Những dự định nung nấu, những vấn đề đặt ra, những chi tiết đắt giá vừa thu nhận được…qua giọng nói và điệu bộ của anh gây ấn tượng mạnh mẽ và nhiều sức cuốn hút. Có đêm đi làm ca về qua, tôi vẫn thấy anh cởi trần, cặm cụi một mình trước tập giấy đặt trên cái bàn đóng bằng gỗ ghép sơ sài bên ngọn đèn dầu ga doan bốc khói mù mịt thời kì chống chiến tranh phá hoại hay ngọn đèn điện tù mù những năm đất nước thống nhất qua hàng xương rồng cao vót. Sau này, anh không làm thơ nữa, dồn sức cho văn xuôi. Hàng loạt truyện ngắn có chất lượng của anh ra đời. Tôi được anh tặng khá nhiều với lời ghi thật to tát. Từ tập truyện ngắn Mùa hoa sim cuối cùng, Mùa than trôi đến tiểu thuyết Hãy cho tôi sống lại. Nhiều tập bản thảo dày cộm đánh máy xong, anh đưa cho tôi dặn xem kĩ, có chỗ nào đánh sai, chỗ nào không rõ và ý kiến của riêng mình…cứ ghi vào tờ giấy khác, chuyển lại để anh sửa. Những tập sách anh tặng, tôi trân trọng, cẩn thận giữ gìn nhưng chỉ quãng hơn tháng sau, anh đến xin lại để tặng bạn khác vì sách đã hết. Thông cảm và nể nang lắm, tôi mới gửi lại anh, lòng đầy tiếc nuối.

Tiếp xúc gần gũi anh, tôi thấy anh là người tích cực ghi chép, tích luỹ kiến thức, chuyên tâm chịu khó học hỏi một cách vất vả để có vốn từ vựng giàu có đến mức dồi dào. Anh viết nhiều, hăm hở và hăng hái nhưng chưa thật vừa lòng với trang viết của mình. Nhiều kế hoạch, dự định sáng tác của anh không có điều kiện hoàn tất. Anh thường phàn nàn thiếu thời gian viết, nhà cửa chật chội, xuống cấp, đào được cái giếng, nước chỉ đầy vào những ngày mưa…Tôi biết anh mất nhiều thời gian chăm lo đến đời sống đang bộn bề khó khăn của vợ con trước đòi hỏi gắt gao về cơm ăn áo mặc, sách vở học hành. Vợ anh lại không khoẻ, hết giờ trong xưởng máy về nhà lại túi bụi công việc nội trợ lặt vặt. Con cái còn nhỏ chưa giúp được gì. Có lúc, anh phải làm những việc mà người viết đến độ như anh không mấy ai muốn để gia đình bớt khổ. Dựng được ngôi nhà khang trang là ước mong, là cố gắng phi thường của anh. Anh thường tâm sự: - Đời có thể trách mắng tôi nhiều thứ lắm nhưng với các con, một đời tôi vì chúng thì chẳng mấy người sánh nổi đâu.

Với vóc dáng cao to, khỏe đẹp, đi đứng chững chạc, gân bắp như thép thỏi, anh hăng hái tranh luận, gấp gáp kiếm sống, nhiệt tình giao lưu và năng nổ viết. Anh bảo hôm nay, đất nước bừng bừng khí thế đổi mới, cuộc sống ngồn ngộn vấn đề, bời bời sự việc, bộn bề chi tiết, quý giá thế này mà không vết được tác phẩm cho ra hồn, tác phẩm lớn có vóc dáng thời đại thì vô dụng, bất tài, hoài phí lắm.

Tôi biết anh đã thứ sức ở nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, kí, tiểu thuyết…xông xáo nhiều nơi, nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau: chài lưới, nông trường, lâm trường, quân đội, biên giới…Mảng đề tài nào anh cũng có những sáng tác mới: Làng cá, Rừng sa mu yên tĩnh, Chuyện riêng của chị Bờ…Nhưng bạn đọc nhớ nhiều đến anh là mảng truyện ngắn viết về người thợ mỏ, cụ thể là thợ cơ khí, lái xe vận chuyển than đất trên tầng. Những nhân vật xưng tôi, những ông Đùng, ông Tạc, anh Long… mỗi người mỗi tính cách với từng chi tiết thật sống động, chân thực và tâm huyết như được nghiền ngẫm nung nấu, rút ra từ cuộc sống, từ con người anh. Những trang viết nồng đượm, đằm thắm đã thể hiện trước sau, anh mãi là con đẻ của công nhân than, nhà văn của những người lao động trực tiếp có nghề, chân tay bê bết dầu mỡ, ngủ dậy người còn hăng hăng mùi ma dút. Dù viết về ai, về vấn đề gì cũng từ cặp mắt sâu thẳm thẳng thắn, con tim sôi sục, giọng nói pha chút trợn trạo của người công nhân than.

Năm ngày trước khi anh đi, tôi cùng nhà viết kịch Phạm Ngà tới thăm. Anh nằm trên chiếc giường nhỏ, người mệt nhưng sắc thái tỉnh táo. Những dự định chất chứa cho nhiều tác phẩm dài hơi rừng rực cháy trong đôi mắt ướt. Bụng đã căng cứng, mặc chúng tôi can ngăn, anh vẫn cố nhoai, với lên ngăn tủ chọn tìm, rút ra tặng chúng tôi hai cuốn văn học nước ngoài. Tay run run, anh viết lời đề tặng bông phèng to tát. Anh nói sách hay lắm nhưng yêu quý nghề hãy đọc. Sách kén người. Bình thường có bán cũng chả ai mua đâu. Vậy mà mấy ngày sau…

Anh mất đi mang theo một lớp lứa nhân vật trong thời kì bắt đầu đổi mới của đất nước mà anh nuôi dưỡng, gây dựng chưa kịp ra đời, chưa kịp lên mặt giấy, chưa kịp định hình. Một mất mát thiệt thòi không gì bù đấp nổi với vợ con anh. Đồng nghiệp mất đi người bạn tài hoa có cá tính, có tính cách đặc sắc. Thợ mỏ mất đi một người nói với cuộc đời những nỗi niềm những ước mơ hoài bão, những tâm sự của chính mình. Bỏ qua những gì còn cấn cá, họ tiễn đưa anh về thế giới vĩnh hằng bằng tất cả niềm nhớ nhung thương tiếc qua dòng suối hoa ngời ngời trên đường phố Cẩm Phả ngày vĩnh biệt anh.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 02.6.2015.