Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




               ĐỖ CHU       






 Đỗ Chu  là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng thuộc thế hệ các tác giả trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông là nhà văn trẻ (68 tuổi) trong số nhà văn  được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh  (phần đông trên dưới 80 tuổi) về Văn học - Nghệ thuật năm 2012.

   Nhà văn Đỗ Chu tên khai sinh là Chu Bá Bình, sinh ngày 5 tháng 2 năm 1944 tại xã  Quảng Minh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. [1] Ông học cấp III trường Hàn Thuyên (Bắc Ninh) đầu những năm 1960. Lúc đó Đỗ Chu đã có bài Ao làng in trên Tạp chí  Văn nghệ Quân đội. Ông đã học qua trường bồi dưỡng viết văn  Hội Nhà văn Việt Nam khóa II  (1965). Năm 1975 ông chuyển ngành sang công tác tại  Hội Nhà văn Việt Nam
   Ông là nhà văn thành công trong thể loại  truyện ngắn  và  bút ký  văn học Phần lớn tác phẩm của ông đều lấy đề tài từ các làng quê, đạo lý của con người và phong tục tập quán dân tộc...  Thế hệ ông, ông một mình một đường thong dong. Những tác phẩm tiêu biểu của ông:
·    Hương cỏ mật (tập truyện ngắn, 1963)
·    Phù sa (tập truyện ngắn, 1966)
·    Tháng Hai (tập truyện ngắn, 1969)
·    Trung du (truyện ngắn, 1967)
·    Gió qua thung lũng (truyện ngắn, 1971)
·    Vòm trời quen thuộc (truyện ngắn, 1969)
·    Đám cháy trước mặt (truyện ngắn, 1970)
·    Những chân trời của các anh (tùy bút, 1990)
·    Mảnh vườn xưa hoang vắng (truyện ngắn, 1989)
·    Một loài chim trên sóng (truyện ngắn, 2001)
·    Đỗ Chu truyện ngắn tuyển tập (2003)
·    Tản mạn trước đèn (2004)...[1]
    Với gia tài ấy, ông nhận
·    Giải thưởng Nhà nước  về Văn học - Nghệ thuật năm 2001.
·   Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (2002) [1]
·   Giải thưởng Văn học ASEAN  năm 2004 cho tập truyện ngắn Một loài chim trên sóng.
·    Giải thưởng Hồ Chí Minh  về Văn học - Nghệ thuật năm 2012 cho các tác phẩm Một loài chim trên sóng, Tản mạn trước đèn
    Ông cho rằng,chẳng qua đời mỗi chúng ta cũng giống như con chim gì đang nhảy nhót chấp chới trên ngọn sóng. Chỉ có ai lênh đênh ngoài khơi thì mới gặp loài chim ấy. Chẳng hiểu chúng đậu vào đâu mà sống nổi, và nhờ đâu chúng vẫn cất tiếng hót giữa trùng trùng sóng gió. Kiếp người tưởng vậy mà nào có khác nhau là bao. Tôi vẫn thấy có tiếng hát của em, tiếng gọi của chị trong mỗi ngày sống của mình. (Một loài chim trên sóng).[2]
Ông thấy,nhiều anh thích ầm ĩ quá, trong khi sự tự vượt mình chỉ có thể làm được trong im lặng sống và sáng tạo".
    · Đỗ Chu nổi tiếng từ thời còn đang học phổ thông với truyện ngắn Hương cỏ mật của ông đăng ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1963 làm xao xuyến văn đàn. Nếu khái niệm nhà văn chuyên nghiệp, ngoài tài năng và lượng bạn đọc lớn, nhất thiết phải có nội hàm chuyên nghiệp viết, thì ở nước Nam ta, Đỗ Chu là thứ nhất, Trong chiến tranh chống Mỹ, cả xã hội lo âu và căm giận bởi ngút trời đạn bomđạn  giặc. thì giọng văn Đỗ Chu thiết tha đằm thắm cất lên một cách sang trọng . Ông Nguyễn Khoa Điểm bảo, Hội Nhà văn thì phải có người như Đỗ Chu đi ra đi vô, nó mới thành ra Hội. Chứ không thì thành ra trụ sở doanh nghiệp hay hợp tác mất... Theo Nguyễn Thanh Kim, ở cả tầm vóc lẫn bề dầy, bề dài suốt gần 40 năm qua,  tùy bút Đỗ Chu khiến văn hóa Đại Việt sống động dậy trong những con người cụ thể, cứ như cái hồn nông thôn cũ đã chọn những người ấy mà khu trú, mà nương náu để cho qua thời tao loạn, lộn xộn mới thong thả bước ra, đi duyên dáng và thật sang trọng giữa đời đang lắm bức sốt và ngột ngạt... Nhà văn Nguyễn Minh Châu bảo Đỗ Chu như cây quế, thơm từ vỏ thơm vào. Có một nhà văn đã từng nói: "Đỗ Chu bức xúc thì nói ra mồm, nhưng văn hắn kỹ càng". Nghe Đỗ Chu thì phải nghe cả hai tai. Đỗ Chu là người có tâm, nói thì đôi khi "tào lao" nhưng những điều anh nói nếu "chịu nghe" thấy cũng chí lý... Đỗ Chu tâm sự: "Kim (Nguyễn T hanh K im [2] này, nhờ giời anh em mình có dăm ba chữ để sống với đời. Chịu khó viết lấy ít trang cho hẳn hoi, mà cũng chớ có quá ảo tưởng về mình, không khéo mà thành vớ vẩn cả, thì khổ". Đỗ Chu vào làng văn thuận hơn nhiều so với những tác giả khác cùng trang lứa, vì Ao làng in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội  là sự kiện và niềm mơ ước của các tác giả trẻ ở cái thị xã nhỏ bé yên tĩnh.  Những truyện ngắn Hương cỏ mật, Thung lũng cò, Chiến sỹ quân bưu… thuở ấy của Đỗ Chu chiếm lĩnh Nguyễn T hanh K im bởi chất văn ngọt ngào, sâu lắng giàu chất thơ: ở giữa vườn trám có một cây gạo già, nhưng cò không bao giờ làm tổ trên cây gạo. Cành gạo thưa, gió khẽ lay là rơi mất tổ. Đứng trên đỉnh núi nhìn xuống vườn cò, giữa màu xanh rầm rì của những lùm trám, nổi bật lên màu hoa đỏ rực của gạo. Cây gạo rất đẹp, nhưng đó là cái đẹp kiêu kỳ. Mùa xuân cây gạo rụng lá và ra hoa, mùa hè hoa rụng để kết quả, và khi sắp sang thu thì cây gạo bắt đầu khoe bông trắng nõn. Cây gạo cứ sống cô đơn, buồn tẻ như thế giữa tiếng đùa bỡn, và kháo chuyện ầm ĩ của họ nhà cò trên những ngọn trám xanh ngát xung quanh. Những nhân vật đại úy Bài, anh Khang, cô giáo Nhâm, anh Hiền, Lầm “làng tôi”… sao đẹp và ân nghĩa đến vậy! Cứ ngỡ họ sinh ra là để cho đời sống này tốt hơn lên với lòng nhân ái vị tha! Đọc Đỗ Chu thấy tùy bút của anh gần gũi kiếp nhân sinh với những triết lý của trải nghiệm đời sống “Một nhân gian rất thật mà cũng rất ảo, thực thực mơ mơ. Một thế giới trong đó hết thảy đang phơi bày, hết thảy đang được lột trần, đó là những thách thức, những nguồn cảm hứng lớn đặt ra trước các nhà văn, trước những ai mang sứ mệnh sáng tạo” (Tản mạn trước đèn), của lòng biết ơn, của sự nhắc nhủ: “Nhiều trang trong đó là của các nhà văn cùng thời với mình, tôi lấy làm vinh hạnh đã được đọc họ phần nữa là của một nhân loại tài trí đã dành dụm cả ngàn năm để hôm nay gửi tới chúng ta. Đó là những đôi cánh tinh thần đủ sức nâng bổng ta lên, đủ sức kéo ta đứng dậy” (Thăm thẳm bóng người).
 
QUÊ HƯƠNG VÀ LỜI DẠY CỦA MẸ

   Nhân dịp đầu xuân, Đỗ Chu muốn nói với bà con quê nhà khi đón nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học năm 2012: 
  Đời tôi có những thầy cô tuyệt vời. Bây giờ nhìn lại tôi vẫn nhớ đến họ như ngày nào mình còn nhỏ. Đầu tiên phải kể đến cô giáo Chương, cô giáo Vinh Hương, cô giáo Mận, cô Nghiêm Chưởng Châu… và rất nhiều thầy giáo sang trọng, lịch lãm. Chính từ cái nôi ấy mà ra tôi. Nếu tôi nói trường Hàn Thuyên những năm ấy là một vẻ đẹp văn hóa rất đáng tự hào của miền đất này thì chắc cũng không có ai phản đối. Vẻ đẹp ấy có được là bởi nó mang truyền thống của nghìn năm văn hóa Kinh Bắc.”
   Nếu phải thắp hương tỏ lòng biết ơn trước vinh dự này thì tôi nghĩ phải thắp hương nghìn năm vùng đất, vùng người Kinh Bắc.
   Đỗ Chu viết ở tuổi sắp 70 câu“Có con sông Thương chảy vào đời tôi, lại có dòng sông Cầu chảy qua đời tôi” Hình bóng Kinh Bắc, người, phong cảnh và hơi thở văn hóa tràn ngập trong trang văn “Hương cỏ mật”,  “Thung lũng cò”, Ông tâm sự: “Tôi muốn nói, tôi là một nhà văn đã được thở bằng một nền văn hóa dân tộc trong đó miền Kinh Bắc là sự bắt đầu đầy duyên phận. Ông “là người nhũn nhặn nhưng đúng là khó tính.theo Nho-Phật-Lão:” Ở tôi vẫn có mang một chút truyền thống Nho giáo. Tôi hay nói đùa cho vui nhưng sự thật lòng lúc nào cũng canh cánh, luôn luôn muốn mình phải cố gắng, phải giữ gìn và phải xứng đáng với gia đình mình và với nhân dân mình. Tôi mỉm cười coi khinh mọi sự tầm thường, xoàng xĩnh. Tôi yêu mọi sự giản dị, xa lánh mọi dối giả, khoa trương, đỏm dáng, dông dài…
   Ông bảo:”Tôi lấy làm vinh hạnh được đứng bên cạnh các tên tuổi quen thuộc, những cây bút xuất sắc của một giai đoạn văn học nước nhà. Và nhận xét:”Nhìn ra ai cũng là những người đã có những đóng góp đáng kể, tất nhiên không thể như nhau. Dù vậy, vẫn nên nói thế này, đây là một vụ mùa không lấy gì làm phồn vinh lắm thì phải, Cũng cần phải nhìn chân sự thật này để mà tiếp tục cố gắng.” Ông  cho rằng, giải thưởng là ghi nhận công lao của một thời, nên phải “tiếp tục cố gắng.”
   Đỗ Chu lấy lời dặn của mẹ làm kim chỉ nam: ” Nghe chừng anh cũng đang muốn viết văn, viết gì thì viết nhưng làm sao nó phải sang như tiếng nhà chị nào sáng sáng vẫn mở đầu buổi phát thanh Đây là Tiếng nói Việt Nam.”
   Kinh Bắc là cái nôi của Văn hiến Việt Nam, nơi đậm “nét sang” của Nho-Phật-Lão Việt Nam.  Luy Lâu Kinh Bắc  là trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất của người Việt. Hệ thống di tích, chùa tháp quần tụ đậm đặc ở đây với trung tâm là  chùa Dâu cùng nhiều nguồn di vật, tài liệu.  Luy Lâu là không gian điển hình đan xen, hỗn dung tiếp xúc, biến đổi hội tụ và kết tinh văn hoá Việt Nam cổ với văn hoá Phật - Ấn, Nam Á và Trung Á, văn hoá Nho Lão (Trung Hoa - Đông Á) để rồi sinh thành bản sắc văn hoá Kinh Việt. .Đỗ Chu “tỉnh” trong hỗn mang bởi những xáo trộn cuộc sống để có cái nhìn có lý theo cơ chế, nhưng phải có lẽ sống theo tinh thần  của Nho-Phật-Lão Việt Nam. Ông biết, “Người ta có thể không bằng lòng về tôi, điều ấy tránh sao khỏi,” Theo ông, công việc của văn học là bồi đắp cho đời sống tinh thần của con người giầu có thêm những giá trị thuộc về chân-thiện-mỹ.   Ông cho rằng, văn học không chỉ sống với những gì một lúc mà nó còn phải sống với nhiều thời, những tác phẩm hay là tác phẩm phải có tuổi thọ dài


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 17.02.2015.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA LƯƠNG VĂN HỒNG TRONG VIỆT VĂN MỚI