Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Cuộc Đời Đức Phật





Phật giáo từ Ấn Độ vào nước ta trước thế kỷ II. Buổi sơ khai, Phật giáo ở Việt Nam, không phải là Phật giáo thực nghiệm, không phải là sự nhận thức Phật pháp, mà là Phật giáo tín ngưỡng, tin tưởng vào quyền năng, thần thông linh dị, hợp với tín ngưỡng Thần linh bản địa của một cộng đồng cư dân lúa nước.

    Tín ngưỡng Thần- Phật tập hợp, là sự giao hòa giữa tín ngưỡng bản địa và Phật giáo từ bên ngoài vào. Hiện tượng này còn diễn ra ở Nhật Bản.
Đây có thể là sự “cố ý” của các nhà truyền đạo Phật, để Phật giáo được dân bản xứ đón nhận một cách tự nguyện. Không xung đột với các nền văn hóa khác. Để Phật giáo ăn sâu bám rễ lâu dài vào tâm hồn các dân tộc khác nhau.
    Hoặc do bản sắc văn hóa Việt quá mạnh, nên Phật giáo bị biến thành thần quyền cùng với các vị Thần linh bản địa?
    Tại Việt Nam, Tứ Pháp Phật ra đời trong ý nghĩa đó. Ngay tên gọi đã là sự kết hợp Thần- Phật: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Chữ “Pháp” đứng đầu là Phật pháp, các từ “Vân, Vũ, Lôi, Điện” là tên gọi các vị Thần linh trong tự nhiên của người Việt.
    Di văn Chùa Dâu kể vua Lý Nhân Tông phán, rước Bụt Pháp Vân ra Tháp Báo Thiên cầu mưa thuận, gió hòa bởi đã ba năm mưa gió đùng đùng, dân chúng chịu cảnh lụt lội.
    Có lẽ vì vậy mà Phật Thích Ca Mâu Ni được dân ta gọi là Bụt. Hình ảnh ông Bụt trong các câu chuyện cổ tích là một con người siêu phàm và từ bi, cứu giúp kẻ khốn cùng bằng rất nhiều phép lạ.
    Có thể vào thời điểm đó, Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni không phổ cập dân gian Việt. Dân gian Việt tiếp nhận Phật Thích Ca Mâu Ni là một vị Thần gọi là Bụt.
    Đức Phật tồn tại trong giới tu hành bác học Việt. Đến thời Lý- Trần, các vua đều học Phật, viết sách Phật. Khi Trần Nhân Tông lập Thiền Trúc Lâm Yên Tử và đi truyền giảng khắp nơi, dạy dân tu thập thiện, “xoay lại tìm mình”, thì Phật pháp mới dần sáng tỏ.
    Thời Lê và những triều đại sau, Nho giáo thịnh hành, chiến tranh li loạn. Phật pháp không được dạy bài bản. Phật giáo vẫn truyền trong dân gian như một Thần quyền.
    Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, đất nước hòa bình, thống nhất, Phật giáo Việt Nam, với sự nghiên cứu, viết sách, truyền giảng của nhiều Thiền sư và học giả tâm huyết, nhất là sự sống dậy của các Thiền viện Trúc Lâm do thầy trò hòa thượng Thích Thanh Từ khởi sắc. Càng ngày chúng ta càng thấy rõ Phật giáo soi sáng một lối sống tốt đẹp, là con đường giác ngộ- giải thoát, do Thích Ca Mâu Ni, triết gia lỗi lạc của Ấn Độ và nhân loại khai sáng.
Phật giáo với chúng ta giờ đây không phải là Thần quyền. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không phải là ông Thần có phép lạ để ta cúng tế vật chất, cầu xin lợi lộc.
    Trái lại, chắp tay nguyện cầu trước tượng Phật, tâm ta tĩnh lặng, hướng về một cách sống diệt khổ, một lối suy nghĩ tích cực, giải thoát khỏi sầu đau, xiềng xích, mà cả cuộc đời Phật đã chứng nghiệm và dạy lại chúng sinh.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là Một Con Người Thật

    Đức Phật Thích Ca là một con người thật. Tên ngài là Tất Đạt Đa, hiệu Thích Ca, một nhánh của họ Kiều Tất La đại quí tộc ở Ấn Độ. Ngài là con vua Tịnh Phạn nước Ca-tỳ-la-vệ của Ấn Độ, nay là xứ Therai, phía Đông Bắc thành Ba-la-nại, phía Nam nước Nepal.
    Thái tử Tất Đạt Đa sinh lúc mặt trời mọc, ngày rằm tháng hai Ấn Độ, ngày rằm tháng tư theo lịch Âm vào năm 544 trước Tây lịch. Mười bảy tuổi ngài kết hôn với nàng Da Du Đà La, sinh một con trai. Mười chín tuổi ngài xuất gia tìm đạo. Sáu năm tu khổ hạnh, ngài giác ngộ và đi truyền sự hiểu biết đó cho chúng sinh. Tám mươi tuổi, ngài nhập Niết Bàn.
    Với người Việt thế kỷ XXI, cuộc đời Đức Phật được hai tác giả làm sống lại chân thật trong hai cuốn sách: Đường xưa mây trắng (Thích Nhất Hạnh- NXB Văn hóa Sài Gòn- 2006) và Đức Phật, nàng Savitri và tôi (Hồ Anh Thái- NXB Đà Nẵng- 2007).
    Hai cuốn sách, hai lối viết khác nhau, đã kể cuộc đời Đức Phật, một con người thật, bình thường như tất cả mọi người, và đường tu giác ngộ của ngài, để mỗi chúng ta học Ngài, cũng thành Phật.
    Từ “Phật” có nghĩa là giác ngộ, giải thoát.

Con đường giải thoát của Đức Phật

    Đức Phật, nàng Savitri và tôi với cái nhìn của nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá, xã hội Ấn Độ cổ đại và đương đại, Hồ Anh Thái đã mô tả con người Ấn Độ từ chỗ vô minh, chưa có Phật ra đời, đến chỗ giác ngộ đạo giải thoát của Đức Phật.
    Bằng nghệ thuật kể chuyện ảo/ thật, huyền thoại/ lịch sử, hư cấu/ tư liệu, kết nối các nhân vật của hơn hai nghìn năm trước và của hôm nay, với những dục vọng, âm mưu, tình yêu, thù hận, những cuộc truy đuổi, đức tin, cái mới và cái cũ, trí tuệ và từ bi…Hồ Anh Thái gợi mở cho người đọc Việt Nam hiện đại những nghĩ suy, tìm tòi, chọn lựa một cách sống.
    Mọi thứ tốt/ xấu, đúng/ sai, hiện ra trong hơn bốn trăm trang sách không có gì mới với loài người hôm nay. Vẫn tham dục, âm mưu, chém giết, hưởng lạc, sa đọa, suy đồi, hoang mang, sợ hãi. Vẫn vô minh…
    Con đường giải thoát của Đức Phật, nay chưa có ai tìm ra cách gì hay hơn. Cuộc đời Đức Phật Thích Ca được tái hiện với nhiều chi tiết thật, ít được biết đến, giúp ta hiểu chính mình. Ta là ai? Khi chết đi về đâu? Sống thế nào? Chết thế nào?
    Câu trả lời là Sống hạnh phúc. Chết bình an. Nhưng để làm thế nào đạt được điều đó. Cuộc đời Đức Phật sẽ dạy ta. Những nhân vật tự biết chuyển hóa, từ vô minh đến giác ngộ, sẽ mách bảo ta.
    Tư liệu lịch sử, những chứng tích về cuộc đời Đức Phật, chuyển động xã hội, tôn giáo, văn hóa Ấn Độ trước, trong và sau khi Phật ra đời…nhiều vô biên. Nhưng nhà văn lựa chọn cái gì để viết nên trang sách của mình?
    Đó là sự lựa chọn hoàn toàn cá nhân, là quyền của người sáng tạo. Đức Phật, nàng Savitri và tôi đã chọn những gì? Nhà văn thông điệp điều chi? Nhận những thông điệp đó thế nào? Quyền của độc giả.
    Hồ Anh Thái mô tả xã hội Ấn Độ trước Phật ra đời, phân chia đẳng cấp khủng khiếp. Người cùng khổ bị dẫm đạp đến đáy bùn. Đẳng cấp Bà- la- môn nắm quyền cúng tế, chiếm địa vị cao nhất trong xã hội. Vua không bằng thầy cúng. Vị tế sư thả sức lừa đảo, trước sự vô minh của mọi người, săn đuổi, đẩy nàng công chúa Ấn Độ bị truy nã hơn bốn chục năm trời, phải chạy trốn qua nhiều vương quốc, sa vào vòng hiểm nguy, ăn chơi, tội lỗi… Nàng vẫn mang trong tim, một tình yêu trong sáng suốt đời, dành cho vị hoàng tử, sau này là Đức Phật.
    Một xã hội có nhiều phái triết học khác nhau nhưng bế tắc. Con người sợ hãi, bi quan trước cái chết. Chết là hết. Cố sống. Sống sa đọa, lấy ăn chơi, hưởng lạc làm mục đích sống. Không còn nhân tính. Không còn tình thương. Không ai tu tâm tích đức làm việc thiện.
    Hồ Anh Thái mô tả khá sinh động những cảnh ông vua ham sắc dục, hàng trăm thê thiếp, chết gục trong vòng tay hoan lạc. Rồi chuyện ăn chơi của các hoàng tử, bọn trai giàu, thi thố cách sống đồi trụy, phóng đãng, lạc thú, ổ gái điếm, mại dâm mọc lên như nấm, những cái chết vì dục lạc, hận thù…ngày nay cũng vậy thôi.
    Một số người tỉnh thức nhìn rõ cảnh sống nhàu nhụa ấy. Không cam chịu. Họ đi tìm con đường giải thoát.
Phái triết học khổ hạnh tin có một linh hồn vĩnh cửu. Họ hành hạ, diệt thể xác, nhịn ăn, xa lánh xã hội, sống biệt lập trong rừng, ăn cỏ cây…để cứu rỗi linh hồn.
    Cả hai cảnh sống trái ngược trên đều cực đoan, làm cho đời sống dân chúng Ấn Độ khốn cùng.
    Thái tử Tất Đạt Đa thấu cảnh đời. Chàng sống trong nhung lụa, học giỏi, từ bi. Chàng đau đớn trước sự bế tắc của chính mình và đồng loại. Chàng đi tìm đạo trong bức tranh xã hội vô minh. Giác ngộ thành Đức Phật, Ngài đi giáo hóa chúng sinh. Dắt con người từ đêm tối vô minh về ánh sáng tự tại, giải thoát, từ bể khổ đến bờ vui, từ nô lệ đến tự do.
    Sức mạnh của đạo Phật thuyết phục các tầng lớp xã hội Ấn Độ bởi chính hành động từ bi và trí tuệ của Đức Phật. Lòng từ bi bao trùm mọi người, mọi vật và muông thú. Một tinh thần bình đẳng mọi người, phá bỏ mọi đẳng cấp. Đức Phật hướng tất cả mọi người về điều thiện, con người trở nên bình đẳng.
Đức Phật tỏa sáng. Một trí tuệ nhìn thấu vạn vật vô thường mà vượt lên sinh tử luân hồi, phiền não, đau khổ. Con đường giải thoát của Phật là thấu lẽ vô thường, nhìn sự chuyển biến của vạn vật và thân xác mình như một qui luật, sống với hiện tại, không vướng vào tham, sân, si và những thứ bên ngoài mình.
    Đời là bể khổ, nhưng đời cũng là niềm vui màu nhiệm. Nguồn gốc của khổ đau là Tham lamDục vọng. Con người giải thoát là con người giải phóng khỏi xiềng xích của Tham- Dục. Việc này mỗi cá nhân tự giải thoát, không ai làm thay được.
    Các nhân vật ham hố, u mê trong cuộc chơi sa đọa, kẻ chán chường, thù đời, những ông vua khát máu, hoàng tử say quyền lực, bà hoàng tăm tiếng, những giai nhân, kỹ nữ, nhà giàu kếch sù, những triết gia, và dân chúng Ấn Độ... mà Hồ Anh Thái mô tả trong tác phẩm, gặp Phật đều giác ngộ về lẽ sống/ chết.
    Họ giác ngộ theo Phật, hiến nhà cửa, cung điện, ruộng, vườn, của cải, xây các tu viện để Phật giảng Đạo. Đạo Phật đã làm xã hội Ấn Độ tốt hơn, các tội hình xử nhẹ hơn, giảm thuế, ngăn chặn những cuộc chiến tranh, xây bệnh xá, người cùng khổ ngẩng đầu lên, phụ nữ được xuất gia tu hành… Con người đã tìm ra lối thoát.
    Vậy chúng ta nghĩ sao về con đường giải thoát của Đức Phật? Hay vẫn vô minh? Đi tìm lạc thú để quên sầu đau bể khổ cuộc đời? Thế gian này có ai tìm ra sự giải thoát nào hay hơn Phật không? Đó là những câu hỏi mà Đức Phật, nàng Savitri và tôi đặt ra.

Cuộc sống bên trong & Sự chuyển hóa nội Tâm

    Nếu qua ngòi bút Hồ Anh Thái, Đức Phật hiện lên là một con người thật với tất cả những biến chuyển cuộc đời riêng và bước chân ngài truyền Phật pháp làm thay đổi xã hội, con người Ấn Độ, thì Đường xưa mây trắng Thích Nhất Hạnh kể chuyện về cuộc sống bên trong của Đức Phật từ khi sinh đến khi nhập diệt, và sự chuyển hóa nội tâm, sự sáng tạo Phật pháp bằng chứng nghiệm trong hành trình tu đạo, đắc đạo và truyền đạo của ngài.
    Đọc Đường xưa mây trắng, ta vừa hiểu Phật là một con người gần gũi với ta, vừa hiểu Phật pháp, chuyên tâm thực hành, ta sẽ giác ngộ. Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã dùng cả cuộc đời tu tập và những trải nghiệm của chính mình để viết Đường xưa mây trắng.
    Đó là những câu chuyện kể về đời sống hằng ngày của Phật (ông gọi thân thương theo dân gian Việt là “Bụt”), gói trong đó giáo lý uyên thâm của Ngài. Với tám 850 trang sách, Thích Nhất Hạnh làm ta xúc động bởi hình ảnh Đức Phật tay cầm bát đi khất thực, nhưng là phép tu nhằm thực hiện tinh thần kiêm cung và bình đẳng, chống lại xã hội bất công, phân chia đẳng cấp khốc liệt ở Ấn Độ.
    Thích Nhất Hạnh đã khắc họa trong văn học Việt Nam hình tượng Đức Phật luôn tỏa sáng qua bóng dáng thanh cao, lặng lẽ, trang nghiêm: Thiền tọa, Thiền hành, giọng nói Thiền, cách thở Thiền, ăn Thiền, ngủ Thiền, những ứng xử Thiền…và sự khai sáng trí tuệ- từ bi, bừng nở đến muôn người, muôn vật, muôn đời.
    Ngay từ nhan đề các chương trong Đường xưa mây trắng đã hiện lên cuộc đời Phật và là mũi tên chỉ đường về Phật pháp:
    Đi để mà đi, Nghệ thuật chăn trâu, Mớ cỏ Kusa, Chim thiên nga trúng tên, Bát sữa cứu mạng, Bóng mát cây hồng táo, Giải thưởng voi trắng, Chuỗi ngọc, Con đường tâm linh và con đường xã hội, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài, Tiếng sáo canh khuya, Con ngựa Kanthaka, Đạo tràng đầu tiên, Vượt sông Hằng, Khổ hạnh lâm, Chiếc lá pippala, Sao mai đã mọc, Trái quýt của chánh niệm, Nai ngọc, Hồ sen, Chuyển pháp luân kinh, Những giọt nước cam lộ, Hãy đi như những con người tự do, Đỉnh cao của nghệ thuật, Nước cũng đi lên như lửa, Vạn pháp đang bốc cháy, Rừng kè, Muôn vật từ duyên mà sinh lại từ duyên mà diệt, Venuvana, Sang Xuân ta sẽ trở về, Ngón tay chỉ mặt trăng, Cái đẹp không tàn hoại, Mùa xuân đoàn tụ, Ra nhìn tia nắng sớm, Những bông sen duyên kiếp, Một niềm tin mới, Ôi! Hạnh phúc, Ba lần thức dậy trời vẫn chưa sáng, Bao nhiêu tấc đất bấy nhiêu tấc vàng, Ai có thấy mẹ tôi đâu không?, Không hiểu biết thì không thể thương yêu, Máu ai cũng đỏ, nước mắt ai cũng mặn, Tứ đại tan rã rồi tứ đại lại kết hợp, Nắm lá simsapa, Cứ theo chánh pháp mà hành trì, Rơm phủ lên bùn, Con hãy học hạnh của đất, Một vốc cám rang, Kho tàng của cái thấy, An trú trong hiện tại, Thản nhiên trước cuộc thịnh suy, Đường về biển cả, Vòng sinh tử không có bắt đầu, Ba cánh cửa nhiệm màu, Sinh tử là hoa đốm giữa hư không, Hãy tinh tiến lên để đạt giải thoát…
    Mỗi chương là câu chuyện đời thường, một tâm trạng bất an, một tình huống khó xử, cả phút lâm nguy, với nỗi đau, cái khổ, sự khó khăn, chán nản, tuyệt vọng… của Phật và của những người ngài gặp. Nhưng khó và khổ đến mấy, Phật vẫn vượt qua và giúp người khác vượt lên bằng Phật pháp.
    Cách truyền dạy của Phật là nói trực tiếp. Không sách. Không bút. Nói cái cụ thể. Không lý luận dài dòng, cao siêu. Các đệ tử nhận rõ điều hay, lẽ phải Phật nói, muốn trùng tuyên, truyền đời sau, nên cử Ananda, nghe và nói lại, sau này viết thành các Kinh Phật như: Hoa nghiêm kinh, Tâm kinh, Đạo hành Bát Nhã kinh…
    Bản chất của Phật pháp là hướng vào thế giới bên trong của từng cá nhân .Chúng ta, người ngoại đạo cũng học ngay được cách thở, cách Thiền hành ở Nghệ thuật chăn trâu và tất cả các trang trong Đường xưa mây trắng. Chú bé chăn trâu mới xuất gia, trong giờ Thiền tọa, Thiền hành nhớ nhà, nhớ các em, Phật dạy cách thở: “Tập trung tâm ý vào hơi thở, chú ý vào bước chân, mọi ý nghĩ buồn nhớ, đau khổ sẽ tan dần”.
Đạo tỉnh thức của Phật được truyền tới trẻ em những giây phút đầu tiên:
    “Này các con, ăn quýt trong tỉnh thức có nghĩa là trong khi ăn quýt, ta tiếp xúc thật sự với trái quýt, óc ta không nghĩ vẩn vơ đến những chuyện khác, chuyện của ngày hôm qua, chuyện của ngày mai. Vì tâm ta an trú trong giờ phút hiện tại cho nên trái quýt mới thật sự có mặt. Như vậy sống tỉnh thức tức là sống trong giây phút hiện tại, thân và tâm an trú trong giây phút hiện tại”(sdd trang 177)
    Có lần Phật thổi sáo trong rừng cho bọn trai nghịch ngợm nghe. Chúng ngạc nhiên trước tiếng sáo diệu kỳ, đã thổi làn gió mát thơm, lay động tâm hồn hướng thiện nên hỏi ngài: “ Tại sao tiếng sáo của thầy lại hay như thế?”. Phật nói: “ Sở dĩ tôi thổi sáo hay hơn xưa là tại vì tôi đã tim được chính tôi. Nghĩa là tôi đã tìm ra được đạo giác ngộ. Em không thể đạt được chỗ tuyệt vời của nghệ thuật nếu em không lên tới được chỗ tuyệt cùng của tâm linh.” (sdd trang 227). Và Phật giảng cho họ về bốn sự thật và con đường Bát chánh đạo.
    Phật trở về nhà gặp vua cha và vợ con sau khi đắc đạo. Ngài thuyết pháp trong hoàng cung về bốn sự thật căn bản của đạo giải thoát gọi là Tứ diệu đế: Sự có mặt của khổ đau. Nguyên do của khổ đau. Khả năng diệt khổ để kiến tạo an lạc và giải thoát. Con đường thực hiện diệt khổ và kiến tạo an lạc.
Phật giảng giải, ngoài những tai nạn như sinh, già, bệnh, chết, con người phải gánh chịu biết bao khổ đau khác do mình tự tạo ra cho mình. Vì vô minh, có nghĩa là vì nhận thức sai lầm, con người nghĩ, nói và làm những điều có thể tạo ra cho bản thân mình và cho những người xung quanh rất nhiều nỗi khổ…
Ta không thể thoát ra được khổ đau bằng cách cầu cứu Thần linh. Ta phải quán chiếu tâm ta và hoàn cảnh của ta để loại trừ những suy nghĩ sai lầm đã từng là nguồn gốc phát sinh ra các đau khổ ấy. Tất cả mọi đau khổ của ta, ta đều có thể giải thoát bằng lối quán chiếu ấy. Nhưng muốn quán chiếu thành công ta phải biết theo dõi hơi thở, sống tỉnh thức mọi lúc mọi nơi. Có quán chiếu và thực tập sống theo giới, định, ta mới có Tuệ, tức là sự hiểu biết. Khi ấy ta có thể thương yêu và tha thứ.
    Đời là bể khổ. Nhưng khổ đau chỉ là một mặt của sự sống. Nếu tâm ta an lạc, ta sẽ được tiếp xúc với sự mầu nhiệm của sự sống. Đó là sự thật về vô thường, vô ngã và duyên sinh. Tất cả từ tâm ta, thân thể ta cho đến cành tre xanh, bông cúc vàng, dòng sông, mặt trăng, bầu trời, tia nắng… hòa hợp thành sự mầu nhiệm.
    Chỉ vì ta tự giam hãm ta trong thế giới khổ đau cho nên ta không tiếp xúc được với thực tại mầu nhiệm. Phá được vô minh rồi, ta sẽ sống trong thế giới của an lạc, nhiệm mầu, của Niết Bàn và giải thoát. Niết Bàn là sự chấm dứt vô minh, tham, đắm, giận, thù. Niết Bàn là sự hiển lộ của niềm vui giải thoát.
Hiểu Phật pháp, vua và hoàng gia nghe Phật tu giải thoát. Ngày vua cha hấp hối, Phật ngồi bên giường ngự, dạy vua thở thật dài, thật nhẹ. Vua nhìn Phật hiểu lẽ vô thường: “Bây giờ ta đã thấy cuộc đời là vô thường. Hạnh phúc là một cuộc sống thanh thản, bình dị và có tự do”.
    Phật dạy về sự chết: “Phụ vương hãy nhìn con, nhìn Nanda, nhin Rahula, nhìn cây cối màu xanh qua cửa sổ. Sự sống còn tiếp tục. Sự sống vẫn còn thì phụ vương vẫn còn. Phụ vương vẫn tiếp tục sống trong con, trong Nanda, trong Rahula, trong tất cả mọi loài. Sắc thân hiện thời là do tứ đại kết hợp. Tứ đại tan rã, rồi tứ đại lại kết hợp. Phụ vương đừng có ví sự tan rã của một thân tứ đại mà cho rằng sự sống chết có thể ràng buộc được ta. Săc thân của Rahula đây cũng là sắc thân của phụ vương vậy” (Sdd trang 400).
    Rahula là con trai của Phật, theo ngài tu học. Phật ra hiệu cho Rahula lại gần và nắm tay ông nội trong hai tay mình. Vua mỉm cười. Có vẻ không còn sợ cái chết nữa. Ngài nhắm mắt trong vẻ mặt an hòa...
    Đường xưa mây trắng kể chuyện Phật bị ganh ghét, đố kỵ, tranh giành, vu cáo, mưu sát... nhưng tất cả mọi tội ác săn đuổi Ngài, không làm tinh thần Ngài nao núng. Bởi Phật nương tựa nơi chính mình, bằng trí tuệ và từ bi.
    Một nhóm Bà- la- môn âm mưu trả thù bằng cách vu cáo ngài đã ăn nằm với cô Cinca có thai rồi bỏ. Ngài bình thản tuyên bố: «Đạo lý giác ngộ có năng lực công phá những thành trì kiên cố nhất của vô minh, cũng như ánh sáng có năng lực làm tiêu tan bóng tối. Những đạo lý như bốn sự thật, vô thường, vô ngã, duyên sinh, bốn niệm xú, bảy giác tri, ba cánh của giải thoát và con đường tám sự chân chính đã được tuyên thuyết trong nhân gian như những tiếng gầm của con sư tử lớn, đẩy lui hàng trăm, hàng ngàn tà thuyết và hý luận»
    Đức Phật bị mưu sát. Kẻ ám sát nhìn thấy ngài. Hắn bỏ gươm xin hàng. Không dám giết. Đức Phật tha tội và chỉ đường cho hắn trốn. Ngài an lạc trong giây phút nguy nan. Đạo lý giải thoát của Phật hiện hữu mầu nhiệm trong chính cuộc sống của ngài.
    Phút giây từ giã cuộc đời, Phật tỉnh thức nằm xuống rừng cây sala nở hoa trắng xóa, trong tư thế sư tử tọa, đầu hướng về phương Bắc.
    Các vị khất sĩ ngồi bao quanh Phật. Đại đức Ananda khóc, Phật an ủi: «Ananda, đừng buồn khổ nữa. Vạn pháp vô thường, có sinh, có diệt, có thành, có hoại, có hợp thì có tan. Làm sao có sinh mà không có diệt được? Thầy đã đem hết lòng hết sức để giúp đỡ Như Lai, rất cám ơn thầy. Công đức của thầy rất lớn. Nếu thầy cố gắng thêm chút nữa, thầy sẽ thoát được sinh tử, đạt tới tự do, và vượt thoát mọi sầu khổ bi ai ».
    Câu nói cuối cùng Phật gửi lại thế gian:
                                              «Vạn pháp vô thường, có sinh thì có diệt. Hãy tinh tiến lên để đạt giải thoát».
    Đường xưa mây trắng đã bán được trên một triệu bản tại Bắc Mỹ và dịch ra hai mươi thứ tiếng, trong đó có tiếng Hindu. Chính vì thế mà nhà tỷ phú Ấn Độ Bhupendra Kuman Modi, sau khi đọc Đường xưa mây trắng đã nói với phóng viên tờ Hollywood Reporter: «Tôi tìm được cuốn Đường xưa mây trắng từ hai năm nay, cuốn sách đã thay đổi đời tôi, và nay đến lượt tôi phải chia sẻ hạnh phúc ấy với thế giới».
    Ông đã quyết định tài trợ một trăm hai mươi triệu USD để các nhà sản xuất dựa theo Đường xưa mây trắng dựng thành phim.

Hồ Gươm Mùa Hoa Sen 2010.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 24.1.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn