Việt Văn Mới
Việt Văn Mới




"KIM LŨ Y" - THƠ XƯA MÀ VẪN MỚI




     (Tặng : Nguyễn Đăng Luận)

   Trong  "Toàn Đường Thi" gồm 42.863 bài thơ của 2520 Thi sĩ đời nhà Đường, trong đó số nữ Thi sĩ chỉ có vài ba người thì Nữ sĩ Đỗ Thu (thường gọi là Đỗ Thu Nương) là nổi trội hơn cả với bài "Kim Lũ Y" . Nữ thi nhân xưa hiếm hoi là do thời Phong kiến với chế độ phụ quyền : người phụ nữ chỉ làm nội trợ/ hầu hạ, không được đi học để "tiến vi quan, thoái vi sư" như nam giới ?

   Nữ sĩ Đỗ Thu người Kim Lăng, nhờ tài sắc ở chốn ca kỹ, được Lý Kỳ (740-807) là Tôn thất, cháu đời thứ 8 của vua Đường cao tổ Lý Uyên, đang làm Tiết độ sứ -27 tuổi,ở Trấn Hải mua về là tì thiếp (nàng hầu- vợ bé) từ lúc 15 tuổi.Đỗ Thu Nương thường múa , hát bài "Kim Lũ Y" để mời rượu chồng. Khi Lý Kỳ vướng vào vụ "làm phản" bị giết , vua Đường Hiến Tông đưa Nàng vào cung...nhờ tài sắc, văn hay chữ tốt,giỏi giang và lắm mưu trí, Nàng được nhà vua sủng ái, phong tới "Thu Phi" ? đến đời vua Đường Mục Tông , bà được cử làm Bảo mẫu (mẹ nuôi) Hoàng tử Lý Thấu ( tước Chương Vương). Đỗ Thu Nương là một hiện tượng lạ :xuất thân từ một ca kỹ mà làm nghiêng ngả 2 triều vua nhà Đường.Về sau ,do sự đấu đá nội bộ nên Chương Vương  Lý Thấu bị hạ xuống làm "thứ dân", bà bị đưa trả về bản quán sống nốt quãng đời trong nghèo khổ...Nhà thơ Đỗ Mục có bài thơ "bà Đỗ Thu" cảm khái về thân phận  người phụ nữ tài hoa ấy.
                 KIM LŨ Y
   Khuyến quân mạc tích Kim Lũ Y
   Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì
   Hoa khai kham chiết trực tu chiết
   Mạc đãi vô hoa không chiết chi.
                  Đỗ Thu Nương
                          *
                ÁO KIM TUYẾN
   Khuyên anh đừng tiếc áo thêu vàng
   Khuyên anh nên tiếc thời trẻ trung
   Hoa nở đáng bẻ thì nên bẻ
   Đừng chờ hoa hết, bẻ cành không.
                          *
        Khuyên anh chớ tiếc áo hoa
   Khuyên anh tiếc lấy thuở ta đương thì
        Cành hoa nên bẻ, bẻ đi
   Đừng chờ hoa hết, bẻ gì cành không.
               Trần Trọng Kim   (dịch 1944)
  Đánh giá về bài thơ "Kim Lũ Y" hiện nay có 2 loại ý kiến :
        *1- Nhiều người cho đây là một bài thơ xưa rất đọc đáo, hiếm hoi, tuy đã qua trên nghìn năm mà rất hiện đại : bài thơ cảnh báo những người tuổi trẻ phải biết quý tuổi xuân, không lãng phí thời gian, nếu không hậu quả sẽ thảm khốc.
   Nói một cách khác : bài thơ khuyên người ta phải biết tranh thủ sống với thời gian thực tại, phải biết giành lấy hạnh phúc (hưởng thụ) ngay khi còn đang tuổi trẻ, đừng chờ đợi (bỏ phí tuổi xuân xanh) mà chạy theo những cái gì ảo tưởng xa vời (thả mồi bắt bóng hão huyền) mà bỏ qua hạnh phúc trần gian hiện có... nghĩa là Bài thơ khá hiện đại ,rất hiện sinh ? !
       *2- Có ý kiến phản bác cho rằng "Kim Lũ Y" không phải là Thơ, đó chỉ là những lời giáo huấn khuyên bảo của bậc trưởng thượng đối với người tuổi trẻ "đừng phí tuổi xuân" .Những lời giáo huấn đó xuất phát từ "ý", chứ không phải là "tâm", hoàn toàn không có chút "cảm xúc" nào ? mà "Thơ là cảm xúc"(nói theo kiểu ts. N.H.Quốc ở Úc) : ta đi tìm đồng cảm để phân biệt Thơ với các lọạị hình nghệ thật khác (dẫn theo Phạm Đức Nhì trên T.Vấn& bạn hữu).
     Theo thiển ý của NK : 2 loại ý kiến trên đều có lý theo "hệ quy chiếu" đương đại. Tuy nhiên, đọc "Kim Lũ Y" hôm nay ta nên đưa bài thơ trở về cội nguồn trong bối cảnh lịch sử ra đời của nó. Ta hãy thử xem thêm Thơ của một nữ Thi sĩ cùng thời, cùng giọng điệu :
       LA CỐNG KHÚC
             Kỳ nhị
Mạc tác thương nhân phụ
Kim thoa đương bốc tiền
Triêu triêu giang khẩu vọng
Thác nhận kỷ nhân thuyền.
           Lưu Thái Xuân
                  (là vợ người ca xướng-con hát, do hát hay nên được Nhà thơ Nguyên Chẩn, bạn của Bạch Cư Dị rất yêu thích).
                 *
       BÀI CA LA CỐNG
             (bài 2)
(Chớ làm vợ những người lái buôn
Thoa vàng và tiền đều thành vật bói toán
Sớm sớm ra cửa sông đứng ngóng
Luôn nhận nhầm thuyền của người khác)
                    *
       Chớ làm vợ khách thương
       Thoa với tiền : đồ bói
        Sớm sớm ngóng đầu sông
        Nhận nhầm thuyền khách tới.
                   Trần Văn Nhĩ  (dịch)
Xét về nguồn gốc thì Thơ ca ra đời từ khi chưa có chữ viết (văn tự), thuở sơ khai các bậc huynh trưởng dùng Thơ ca để giáo huấn (dạy) con em, để chúng trở thành người chính trực, ôn nhu, rộng lượng, kiên nghị, cứng cỏi mà không thô bạo,giản dị mà không ngạo mạn. Thơ dùng để nói CHÍ (thi ngôn chí), CA (hát)  dùng để ngân dài lời thơ cho nó thấm sâu vào lòng người,Thơ ở trong lòng là CHÍ, phát ra lời là THƠ ( mà CHÍ có nghĩa là "dừng" ở trong lòng nên nó gắn được với 2 chữ "tình" và "ý".
    Vậy "tình" ở đây toát ra từ những lời khuyên (Ý) ,nếu không phải là từ "tâm" (cõi lòng) không có cảm xúc thì làm sao bột phát (xuất thần) ra được một ý mới/ tứ lạ  như Kim Lũ Y ?
   Chao ôi, thơ là ngôn ngữ để truyền đạt một "tình", một "ý",,,nói như Jakobson thì "Thơ là ngôn ngữ tự lấy mình làm cứu cánh", yêu Thơ là yêu hình tượng Thơ đẹp, lời nói diễm lệ và sống động...chính từ những lẽ đó mà bài thơ Kim Lũ Y dù đã trên nghìn năm , nay đọc lên ở vẫn  thấy xao xuyến trong lòng, nó S.O.S với ta : sống sao cho thích ứng với thời cuộc- thời "cơ chế thị trường" này để mưu cầu hạnh phúc một cách thiết  thực, đừng phí hoài tuổi xuân.

         Góc thành nam Hà Nội , 30-12-2014
            
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 30.12.2014.