Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




HOÀNG VĂN LƯƠNG

NGƯỜI CHUYÊN TÂM SÁNG TÁC VỀ THỢ MỎ



 Hoàng Văn Lương sinh năm Kỉ Mão (1939) tại thị trấn Mông Dương (Cẩm Phả - Quảng Ninh) và mất năm Canh Ngọ (1990) tại bệnh viện than Cẩm Phả. Từ thủa thiếu thời, ông đã phải sống âm thầm trong cay đắng, cơ cực, nghèo nàn. Mẹ ông là vú em, làm thuê cho ông bà chủ. Đẻ ông ra, bà một mình cặm cụi, bòn gio đãi sạn, đầu tắt mặt tối nuôi ông.

    Chưa đủ tuổi mười lăm, ông đã phải leo tầng nhặt than, theo nghề sửa chữa ô tô vận tải trước ngày miền bắc hoàn toàn giải phóng và viết khá sớm, thuộc lớp lứa ngay sau nhà văn Võ Huy Tâm. Là người thợ cầm bút, ông cần mẫn chịu khó, chịu khổ, tự tìm tòi học hỏi, tích cực chăm chỉ trong công việc cũng như trong sáng tác. Những trang viết của ông thực sự được bạn đọc, bạn thợ yêu thích vì nó chân thật, cần lao, khắc khổ, bụi bặm, cam chịu, nhu mì, mực thước được rút ra từ gan ruột ông. Văn ông giản dị, gân guốc, trụi trần, không cầu kì hoa hoè hoa sói hay làm duyên làm dáng. Viết từ rất sớm, có những bài thơ hay như: Kỉ niệm thị trấn, Tiếng gọi… và hàng loạt truyện, kí nhưng trên văn đàn cả nước, ông mới được dư luận chú ý vào đầu những năm bảy mươi với truyện ngắn Trong buồng lái chật hẹp của tôi - giải thưởng truyện ngắn hay nhất năm 1972 và Người đồng nghiệp - giải khuyến khích cuộc thi truyện ngắn 1974 đều của Tuần báo Văn nghệ. Bươn chải lận đận mãi, năm 1976, ông mới có Ngãi - tập truyện ngắn do Hội văn nghệ Quảng Ninh xuất bản rồi Nắng lửa - truyện vừa do Nhà văn Ma Văn Kháng lấy đọc từ đống bản thảo lai cảo của Nhà xuất bản Lao động và cho ra đời năm 1978.
    Cả đời Hoàng Văn Lương chuyên chú sáng tác về người thợ mỏ. Nhân vật xuyên suốt trong các trang viết của ông là những chàng lái xe, lái máy mỏ vạm vỡ mạnh mẽ, ngang tàng một tí, xấu giai một tí, vụng về một tí nhưng tốt bụng, độ lượng, tích cực, sẵn sàng giúp đỡ bạn bè, giúp đỡ đồng nghiệp, tận tuỵ với công việc có khi quên bản thân mình; là những cô gái mắt đen láy, hàm răng trắng đều, làm thống kê, sửa đường, tải than, bấm máy và khi cần được điều đi kéo cáp, đốt lửa chống mù trong mưa rét. Họ gắn bó đêm ngày với tầng, với máy, với những tuyến đường chằng chịt dấu xe và loang lổ vết dầu loang. Cảnh sản xuất trên khai trường, trong xưởng máy…hiện lên rộn rã âm thanh, bộn bề chi tiết thực. Suốt ba mươi năm cầm bút, hơn bất cứ ai viết về than, về tầng mỏ, Hoàng Văn Lương là người dư sức và dư chữ. Vậy mà con người ấy thường xuyên đau ốm, đeo đẳng bệnh hen suyễn đến mức không dám thức viết đêm, chỉ tranh thủ vào thời gian rỗi rãi và những ngày nghỉ. Những năm sau này, ông còn mắc chứng gan yếu thận suy. Chúng tôi tới thăm thường thấy ông lo lắng mong sao có đủ sức mà làm việc, nuôi con. Bà Phạm Thị Nhung - Vợ ông là giáo viên cấp 1- ngày ấy lương thấp lắm - phải nghỉ hưu sớm để có thời gian buôn bán rau cỏ vặt vãnh, kiếm đồng ra đồng vào, góp sức cùng người chồng ốm đau, nuôi bốn con thơ dại. Bà cũng chả khoẻ mạnh gì, đã sống thì phải cố.
    Sau năm mươi mốt năm trời âm thầm sục sôi chịu đựng, chống đỡ bệnh tật để gắng sống tốt, ngày 30 tháng 6 năm 1990, Hoàng Văn Lương đã vĩnh biệt thế giới này trong niềm yêu thương, xót xa đông đủ, đầy đặn, mặn nồng tình nghĩa của gia đình cùng anh em, bạn viết, bạn thợ và bạn đọc.
    Ngoài hai tập: Ngãi và Nắng lửa, bạn đọc còn gặp Hoàng Văn Lương có mặt đều đặn truyện ngắn trên các báo chí sáng giá ở trung ương và địa phương. Bằng tình yêu người thợ sâu đậm, đằm thắm và nặng nhọc, ông còn để lại ở dạng bản thảo bốn tập tiểu thuyết. Trong đó có tiểu thuyết Con đường đá nghe nói sẽ in ở nhà xuất bản Quảng Ninh cuối những năm tám mươi nhưng vì nhiều lí do ngoài văn chương, sách vẫn không ra được. Sau này được sự giúp đỡ của Nhà xuất bản Lao động và Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam, tiểu thuyết Những ngày đã qua của ông được chọn trong số bản thảo ông để lại và ra mắt. Bên cạnh tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, kí...Hoàng Văn Lương còn làm thơ. Những bài thơ sâu đằm tình nghĩa, chan chứa yêu thương như: Kỉ niệm thị trấn, Thơ tình không gửi, Tiếng gọi…đến nay nhiều người còn thuộc lòng, còn nhắc nhở. Đó không còn là thơ nữa, nó là tấm lòng, là hồn phách người thợ được ông phô bày trao tặng cuộc đời, trao tặng những người thợ làm than.
    Là người mộc mạc, chân thật, kín đáo, Hoàng Văn Lương thuỷ chung với vợ con, chu đáo với anh em, bầu bạn, cần mẫn, chân chỉ, có trách nhiệm với trang viết. Không ganh đua, ít đòi hỏi, cam chịu kham khổ đến lạnh lùng với bản thân nên lúc sinh thời, ông chịu nhiều thiệt thòi.
    Trong suốt cuộc đời vừa làm than vừa sáng tác, Hoàng Văn Lương đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận. Ngoài hai giải thưởng báo Văn nghệ, ông còn được Tổng liên đoàn và Hội nhà văn Việt Nam trao giải thưởng văn học công nhân lần hai (1971 - 1975), lần ba (1976- 1980). Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh trao giải thường Văn nghệ Hạ Long lần 1 (1976 - 1980), Lần 2 (1981-1985), lần ba (1986 - 1990). Đó là những giải thưởng sáng giá về văn học nghệ thuật mà nhiều người viết rất mong muốn có.


KỶ NIỆM THỊ TRẤN

Thị trấn trong sương chiều buông
Ùa vào từng căn gác xép
Tiếng chuông chùa Thượng boong boong
Gieo vào lòng tôi từ thuở nhỏ

Những kíp thợ kéo lê qua phố
Xe nhà binh dòm vào từng mặt
Còi thiết quân luật
Gầm lên trong bữa cơm
Át tiếng than trôi ngoài sở Cầu

Tôi hay gì đâu
Từ hôm ấy vắng anh Còm bên hàng xóm
Nước mắt chị tôi rơi trên bồ hàng xén

Thị trấn buồn vui đầy vơi
Đi qua bao cuộc đời
Đắng cay thuyền thợ


Tôi lớn lên trong hơi thở
Rì rầm của biển của than
Của màu xanh tơ cây bàng
Lỗ chơi khăng mất đi cùng tuổi nhỏ

Năm mười ba đi học thợ
Nghe tiếng còi tàu xa xôi
Thương anh Còm chúng mang đi rồi
Côn Lôn hay Sơn La
Người thợ mất nước
Mất cả ước mơ
Cùng màu xanh cây bàng của tuổi thơ

Thị trấn đi qua bao biến đổi
Anh Còm mãi không trở lại
Chị tôi qua đời
Năm bốn mươi vẫn là con gái

Hôm nay
Chúng tôi làm ụ súng
Dưới gốc cây bàng
Không biết có đúng lỗ chơi khăng ngày trước
Nhưng tôi vẫn tin
Viên đạn này sẽ vút ra từ nơi kỷ niệm...

HOÀNG VĂN LƯƠNG
(1939-1990)
(*) Bài thơ KỶ NIỆM THỊ TRẤN Hoàng Văn Lương sáng tác vào năm 1967 khi miền Bắc Việt Nam đang bước vào giai đoạn căng thẳng quyết liệt chống chiến tranh phá hoại của Mỹ lần thứ nhất. Bài được đưa vào tập thơ THAN do Ty văn hóa Quảng Ninh xuất bản năm 1969. Ngày ấy, việc được in thơ ở một tỉnh lẻ thật sự khó khăn.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 30.12.2014.