Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Biên đạo múa Ngô Duy Luận




           Chuyện Bây Giờ Mới Kể





Tôi có thói quen, mỗi khi tâm trạng không vui là lại phóng xe lang thang ra phố, hoà mình vào dòng người, xe xuôi ngược để cái ồn ào, náo nhiệt của phố phường làm tan đi những ấm ức, hậm hực cho đến khi nào bình yên mới quay về tiếp tục công việc. Hôm rồi, đang lòng vòng trên đường Hoàng Văn Thụ, dừng xe trước đèn đỏ, tôi chợt thấy ở làn đường dành cho người đi bộ có dáng người quen quen đang vội vã bước sang. Tôi nhận ra ông trong trang phục quần ngố, áo cộc tay, đầu đội mũ mỏ cò, trên tay lủng lẳng hai bìa đậu và mớ rau muống. Nhìn dáng đi thoăn thoắt trên đường không ai nghĩ ông đã qua lâu rồi cái tuổi xưa nay hiếm. Tôi quay xe đuổi theo. “Chánh văn phòng đi đâu thế, vào nhà bác đã”, trước lời mời vồn vã của ông, tôi theo ông về nhà, ngôi nhà nhỏ bám mặt đường Minh Cầu. Trong khi ông pha nước, tôi đưa mắt nhìn khắp lượt, nhà ông làm theo kiểu cũ, phòng khách hơi hẹp, đồ đạc đơn sơ. Vừa nhấp chén trà thì ông lại đứng dậy bảo: Anh em mình sang bên kia đường uống vài vại bia cho vui. Thấy tôi từ chối ông liền vào buồng trong xách ra một chai rượu rót ra hai chén đầy. Và chuyện đời, chuyện nghề của ông cứ thế miên man bên hai chén rượu đầy - vơi, vơi - đầy.

Sinh 15/10/1935 tại Lạng Sơn, năm 1950, khi gia đình ông đang tản cư tại áng Mò, Thất Khê thì có đơn vị bộ đội Việt Minh hành quân qua làng đi đánh đồn Thất Khê. Chàng trai Ngô Duy Luận, lúc bấy giờ chưa đầy 15 tuổi đã trốn cha mẹ theo người anh cùng làng (anh Nông Việt Dũng) đang làm quản trị Trưởng tiểu đoàn vào bộ đội Cụ Hồ đánh Tây. Thấy cậu bé nhanh nhẹn nên đơn vị cử làm liên lạc tiểu đoàn 5 thuộc sư đoàn 316 bộ binh, sau chuyển sang làm lính pháo tại sư đoàn 675 phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Rót thêm rượu vào ly, ông nhớ lại: lính chiến chúng tớ ngày xưa gian khổ lắm, trận mạc liên miên, cơm không đủ ăn, quần áo không đủ mặc nhưng mà anh nào cũng lạc quan yêu đời lắm. Do có tài múa hát nên năm 1955 ông được về văn công Sư đoàn, sau đó về Đoàn Văn công Quân khu Việt Bắc (Quân khu I bây giờ), đến năm 1959, được Tổng cục chính trị cử đi học lớp biên đạo múa khoá 1. Năm 1962, ra trường, trở về Đoàn Văn công Quân khu. Năm 1977, ông được điều sang làm công tác tuyên huấn - Chủ nhiệm nhà Văn hóa Quân khu Việt Bắc cho đến năm 1988, ông xin nghỉ hưu.
Mặc dù có 22 năm làm văn công, trong đó có 15 năm làm biên đạo với hàng trăm tác phẩm lớn nhỏ, nhiều tác phẩm đoạt giải Vàng, giải Bạc tại các kỳ Liên hoan, Hội diễn, vậy mà bây giờ vẫn hai bàn tay trắng, không duyên, không phận (ý ông nói về danh hiệu nghệ sỹ!). Khi tôi thắc mắc, ông bảo: lúc có chủ trương xét phong tặng danh hiệu nghệ sỹ thì mình đã sang Tuyên huấn, Đoàn (Đoàn văn công quân khu) bỏ quên không xét, đến khi mình hỏi thì Trưởng đoàn bảo ngành biên đạo chưa được bầu...!
Suốt trong những năm tháng công tác, có rất nhiều kỉ niệm đáng nhớ, tuy nhiên, có một sự kiện mà ông không thể quên, đó là vào năm 1955, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, khẩu đội ông được vợ chồng Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên thăm. Để minh chứng, ông chỉ tay lên bức ảnh đã vàng ố treo trên tường, trong ảnh là các chiến sĩ trẻ khoác vai nhau chụp ảnh cùng Đại tướng và ông là người được đứng gần Đại tướng nhất (ông cẩn thận đánh dấu bằng bút bi đỏ và ghi rõ Ngô Duy Luận). Bức ảnh được lồng trong khung kính treo trang trọng tại phòng khách, đối diện là Giấy chứng nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh cho vở kịch múa “Ngọn lửa Nghệ Tĩnh”, một tác phẩm ông cùng tập thể lớp biên đạo múa khóa 1 của Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị biên đạo và tham gia biểu diễn. Tôi bảo: nếu vậy bác cũng phải được Giải thưởng Hồ Chí Minh rồi. Ông cười: Có chứ, Giải thưởng được chia đều cho các Đạo diễn, Biên đạo, mình cũng được tiền thưởng và Giấy chứng nhận do Tổng cục Chính trị ký... Ông tự hào: Cho đến tận bây giờ cũng chưa có vở kịch múa nào qua được Vũ kịch "Ngọn lửa Nghệ Tĩnh" cả về qui mô hoành tráng, cả về số lượng nghệ sỹ, diễn viên được huy động. Vở kịch múa 3 màn, 7 cảnh với đề tài cách mạng, mô tả phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh và sự liên minh công nông trong những năm 1930-1931, chống lại đế quốc Pháp và phong kiến. Ngay sau khi hoàn thành, vở được công diễn lần đầu vào tháng 9 năm 1960, biểu diễn 3 đêm tại Nhà hát lớn Hà Nội, phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, gây được tiếng vang lớn.
Hơn 50 năm đã trôi qua, song ông vẫn nhớ như in những kỉ niệm tham gia biên đạo, biểu diễn vở vũ kịch... Nhớ nhất là hôm tổng duyệt ở Nhà hát Lớn, chuẩn bị biểu diễn phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, có bác Trường Chinh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến xem. Mỗi người phải mặc ba bộ quần áo lụa ứng với từng vai diễn (thanh niên, du kích, nông dân) cứ thế hết màn lại vào lột ra thay bộ khác. Kể đến đây ông phì cười: Giữa màn một và màn hai phải thay quần áo, nhưng sau khi diễn xong màn một mình mệt, nằm ngủ quên ở cánh gà. Đang mơ màng thì có người gọi: anh Luận ơi ra đi. Thế là mình vục dậy, vội vàng thay áo, ra sân khấu thấy ở dưới các chuyên gia, đạo diễn cau mặt... Bỏ mẹ, mình quên không thay quần (đáng lẽ là áo vàng quần xanh, nhưng lại là áo vàng, quần nâu), nhưng chỉ hẫng đi một tí song vẫn múa được. May, vì hôm ấy mới là buổi tổng duyệt, còn hôm diễn thì ổn nên không bị nhắc nhở phê bình. Còn có kỷ niệm này cũng buồn cười mà bây giờ mình mới kể với Chánh văn phòng, đó là: Trước khi đi tập, các chị đun sẵn một nồi nước bồ kết đổ ra thau ngâm để chiều về gội đầu, đi tập về khát quá mình chạy xuống bếp múc một bát làm liền một hơi, uống xong thấy đắng khé cổ mới biết uống nhầm phải nước bồ kết. Chẳng dám nói với ai, chui vào toalet móc cổ cho ra hết. Ông vừa kể vừa cười thật khoái trí, tôi thấy ông lúc này như trẻ ra hàng chục tuổi và không thể nghĩ rằng: người nghệ sỹ này đã phải chịu đựng bao nỗi gian truân trong đời…
Quay lại chuyện ngôi nhà, ông trầm ngâm: “Ngày xưa mình được cấp một mảnh đất ở gần Tỉnh đội và được anh em đơn vị giúp đỡ xây được căn nhà hai tầng khang trang. Tuy nhiên, năm 1990 phải bán đi để trang trải nợ nần cho bà vợ, còn lại gom góp, vay mượn thêm được 30 cây vàng mua đất, xây dựng ngôi nhà bây giờ...” Tưởng rằng, sau trận “đại hồng thủy” bà hồi tâm, đổi tính, chịu khó làm ăn, cùng ông nuôi dậy con cái nào ngờ vẫn chứng nào tật nấy, lại thêm cái bệnh đồng bóng, chùa chiền, chẳng để ý gì đến gia đình, buộc ông phải chia tay vợ và nhận nuôi cả 3 đứa con, lúc ấy cô con gái lớn mới 17 tuổi, cậu út 13. Thương con ông đành làm đơn xin nghỉ hưu với quân hàm trung tá, lương thượng tá, đó là năm 1988.
Ra quân, ông lao vào làm việc, ở đâu cần đạo diễn là ông có mặt, các màn múa hát tham gia hội diễn, liên hoan các cấp, các Sở ngành, khu vực, Trung ương, địa phương... ông đều nhận hết. Ông làm để lấy tiền nuôi con, và... làm để quên đi nỗi cô đơn. Giọng ông chùng xuống: “Ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, một mình oằn lưng chống chọi với cái nghèo, để mỗi khi màn đêm xuống, những đứa trẻ đã ngon giấc cũng là lúc bao nỗi cô đơn, nhọc nhằn lại bủa vây..”. Không biết đã bao đêm ông không hề chợp mắt, thương cho thân phận mình, thương những đứa con nhỏ dại tội nghiệp. Càng thương con ông càng quan tâm từng li từng tí đến những thay đổi của con cái, nhất là của hai cô con gái khi đến thời thiếu nữ. Ông biết dù có cố gắng đến đâu cũng không thể bù đắp được sự trống vắng của người vợ, người mẹ…
Vậy mà đã 20 năm, nhớ lại quãng thời gian đầy sóng gió ông không khỏi giật mình. Sau bao năm gian khổ trong quân ngũ, bom đạn, bao nỗi gian truân vất vả một mình gà trống nuôi con ăn học, lo công việc rồi dựng vợ gả chồng cho chúng đều một tay ông lo, ông không nghĩ mình có thể sống được lâu như thế này. Có những lúc bốn bố con ông không đủ tiền mua 2kg gạo..., vậy mà giờ đây các con ông đều đã trưởng thành, cả 3 đứa đã lập gia đình, cô cả hiện theo nghề biên đạo múa của bố. Bạn bè khuyên "sao ông không đi bước nữa để an ủi lúc tuổi già". Thực ra, ngay từ những năm mới chia tay vợ đã có không ít người muốn đến để chia sẻ gánh nặng với ông, thậm chí gần đây còn có một ni cô ở Đà Lạt, theo ông tả thì "ối giời ơi, đẹp ơi là đẹp", cảm cái tình của ông và muốn "Bao giờ ra Bắc anh cho em ra theo anh". Nhưng lúc về ông phải bảo lái xe đi tránh sang đường khác...vì sợ. Nghe ông kể, nhìn thân hình còn săn chắc, nhanh nhẹn của ông, nhất là đôi mắt ánh lên những cái nhìn lúng liếng, tôi chợt nhớ đến câu nói của ai đó: Trời không lấy của ai tất cả. Mà lấy đi cái nọ lại cho cái kia...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 30.12.2014.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

Quay Lên Đầu Trang