Việt Văn Mới
Việt Văn Mới




TRƯỜNG CA NGUYỄN ANH NÔNG

– ĐỐI THOẠI MỞ - ĐA CHIỀU





   Mỗi thời đại lịch sử có hệ thống thể loại của mình” và chúng “vừa rất cổ sơ nhưng luôn luôn mới mẻ”, đồng thời “thể hiện thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực, một cách cảm thụ, nhìn nhận, giải minh thế giới và con người”(1). Thể loại văn học từ năm 1975 đến nay có nhiều biến chuyển và thay đổi đáng kể, trong đó đáng kể nhất là thơ ca. Nguyên nhân thay đổi ấy chính bởi thơ thời kì này là sản phẩm của những kiểu nhà thơ không hoàn toàn như trước. Nhiều tác giả đã chú ý hơn đến chất sử thi nhằm tái hiện một chặng đường lịch sử dài, một chuỗi sự kiện tiêu biểu… nhưng để tạo nên sức hấp dẫn cho trường ca thì xúc cảm mãnh liệt vẫn đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Không phải ngẫu nhiên mà Bakhtin đề cao vai trò thể loại: “Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba”( 2). Đến nay, Nguyễn Anh Nông đã xuất bản 7 tập thơ và 4 trường ca, đủ thấy lực viết của anh dồi dào, mạnh mẽ. Đặc biệt với thể loại cần nhiều trải nghiệm, vốn sống và cả những đầu tư trong kĩ thuật viết, Nguyễn Anh Nông cũng đã chứng tỏ được phong cách riêng của mình với những đổi mới trong từng chặng.

Sau rất nhiều thể nghiệm, sự tích tụ của thơ Nguyễn Anh Nông hiển lộ khá rõ trong thơ ngắn. Trải qua một hành trình đi tìm những cách biểu đạt, Nguyễn Anh Nông dành sự ưu ái của mình ở thơ ngắn - điểm độc đáo làm nên nét riêng cho phong cách thơ anh. Không phải là không có thời gian cũng như xúc cảm cho những trang viết dài, ở thể loại này, Nguyễn Anh Nông bộc lộ mình theo một cách lạ hơn như anh từng thú nhận: Đôn hậu, hiền lành/ Thơ cũng lành cũng thật như đếm. Nếu như thơ Nguyễn Anh Nông để trang trải tình cảm với bạn bè, quê hương, gia đình bằng một chất giọng dung dị, tinh tế thì riêng thơ ngắn đã giúp anh làm mới và bộc bạch những đúc kết về cuộc sống; đặc biệt khi thử sức với trường ca, Nguyễn Anh Nông đã thể hiện sự bứt phá đầy quyết liệt, mạnh dạn qua những nỗ lực tìm tòi không ngừng nghỉ.
Giai đoạn liền kề tương đối gần trước và sau 1975, xuất hiện nhiều trường ca, phần lớn tác giả là những người trưởng thành trong quân đội: Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Trọng Tạo... Dần dần, trường ca thưa thớt vì công chúng không có thời gian cho những trang viết dài. Nằm trong xu hướng chung của trường ca Việt Nam sau 1975 là thiên về trữ tình, trường ca của Nguyễn Anh Nông cũng không quá chú trọng đến âm hưởng sử thi, hào hùng. Ngay cả khi viết về Trường Sơn, Nguyễn Anh Nông lựa chọn sự dung hòa nhuần nhị giữa chất sử thi và trữ tình. Còn ở ba trường ca sau này, anh tỏ ra là người luôn luôn không chịu bằng lòng với những cái đã có. Trong bốn năm, Nguyễn Anh Nông trình làng bốn trường ca: Trường ca Trường Sơn (2009), Gửi Bill Gates và Trời xanh (2011), Trò chuyện với cha con Cu Lập Sơn, Lập Thành (2012), đủ để thấy lực viết dồi dào và sự khát khao chiếm lĩnh thể loại còn “chưa hoàn thành” này. Với trường ca, Nguyễn Anh Nông đã tạo dựng được bức tranh sống động về cuộc sống với những số phận con người; cũng có khi là số phận của cả một dân tộc; và xa hơn là hướng cái nhìn về tương lai.
1. Quá khứ chưa xa và hành trình mới
Theo cách nói của nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn, muốn viết trường ca thì phải có đủ “tam trường”: trường vốn, trường lực và trường hơi. Với Nguyễn Anh Nông, anh viết từ tâm thế một con người đã trải nghiệm chiến tranh, trải nghiệm cuộc sống và không ít những ngẫm ngợi về nó. Thời đại nào cũng vậy, chiến tranh có cái khốc liệt, thời bình có những thách thức khiến con người không thiếu những đề tài để phản ánh hiện thực kì vĩ bằng thể loại này. Trong trường ca Nguyễn Anh Nông, cảm xúc cá nhân được đặt trong những liên hệ mật thiết với những biến động của đất nước, khi thì chiến tranh, khi thì thời đại công nghệ toàn cầu và cả những câu chuyện, những số phận tưởng chừng nhỏ bé nhất. Từ đó bộc lộ những triết lý sâu sắc, đôi lúc lấn át cả cốt truyện và hình tượng nhân vật. Trường ca Nguyễn Anh Nông bộc lộ một tâm thế rất rõ:
Ta đi dọc hành trình không gian thời gian
Trò chuyện cùng năm tháng
Trò chuyện cùng quá khứ tương lai
Nghe diệu vợi cõi người sáng tối
Nghe râm ran nức nở mấy vầng mây…
Đấy là một hành trình đi dọc không thời gian, anh trò chuyện cùng quá khứ, cùng tương lai từ hiện thực còn nhiều điều cần khám phá. Và ở nhiều bình diện tiếp cận, những trang viết trong bốn trường ca đã hiện thực hóa một hành trình nhiều thú vị và cũng nhiều ngã rẽ của nhà thơ.
Viết về chiến tranh là cảm hứng lớn nhất trong những trường ca giai đoạn trước đó. Nguyễn Anh Nông vẫn tiếp tục khơi nguồn mạch cũ này bằng cố gắng đưa vào đó cái nhìn của riêng anh. Không dàn trải, không thuyết minh và mô tả nhiều về những đau thương, những hy sinh, cái dụng ý lớn nhất là khắc họa hình ảnh những con người bình dị, đại diện cho cả một thế hệ của quá khứ hào hùng đã qua:
Những chàng trai cô gái tuổi mười tám đôi mươi
Gánh trên vai bao điều bình dị
Cõng trên lưng nặng nhọc tháng năm đi
Và cha thấy, cháu con
Bầu đoàn lũ lĩ
Mỗi người - chọn cho mình - một Trường Sơn
Rồi - đi - bằng đôi chân của mình
(mặc - sức vóc - không bằng anh bằng chị).
(Trường ca Trường Sơn)
Những con người được xây dựng trong Trường ca Trường Sơn cũng như những trường ca sau này của Nguyễn Anh Nông không gánh trên vai những điều vĩ đại, lớn lao mà như anh bộc bạch:
Tớ chỉ là một nông dân xoàng
Của xứ sở hiền hoà, nhân hậu
Mưa và nắng và gió và bão
Vẫn đồng hành
qua những thương đau...
(Gửi Bill Gates và trời xanh)
Lợi thế của trường ca là khả năng tái hiện những hình ảnh, sự kiện có quy mô lớn, nhưng ở bốn trường ca của Nguyễn Anh Nông (đặc biệt là ba trường ca sau) thì sự chú ý chất sử thi hoành tráng không được đề cao. Những trang viết hướng nhiều đến sự chân thực, dù quá khứ hào hùng của dân tộc được diễn tả bằng những nét vẽ tinh tế nhưng chủ yếu là những số phận con người trong cuộc chiến ấy. Trường ca của Nguyễn Anh Nông không ngại thâm nhập sau hơn những bộn bề, phức tạp của cuộc sống, kể cả những mặt khuất, ở giới hạn giữa cái không thể và có thể.
Ký ức về Trường Sơn như một ám ảnh miên man. Nếu như với Thanh Thảo, Metro mang hơi hướng hậu hiện đại, tái hiện một Trường Sơn như mạch ngầm chạy được hai chiều trái nhau giữa thực tại và quá khứ, thì Trường ca Trường Sơn, từ điểm nhìn hiện tại, tác giả tái hiện chiến tranh ở cả phần ý thức và vô thức, âm hưởng sử thi không còn được quá đề cao mà thay vào đó là những cung bậc cảm xúc được tạo dựng liền mạch đem đến những suy tưởng mới mẻ. Hiện tại và quá khứ đan xen tạo nên một ám ảnh không dứt, hệ thống chủ đề cũng được chọn lựa lược bớt đến mức tối đa, chỉ giữ lại những hình tượng mang sức ám gợi. Cái được lựa chọn không phải là tô vẽ thêm lung linh cho tượng đài đã trở thành huyền thoại này, mà thay vào đó là sự chú trọng đến những sự thực, có khốc liệt, có đau thương nhưng cũng không thiếu những lãng mạn, bay bổng. Tuy nhiên, đây đó vẫn còn những đoạn dàn trải và bị dẫn dụ trôi theo mạch cảm xúc.
Khi đề tài chiến tranh chiếm vị trí chủ đạo trong toàn bộ hệ thống thể loại của nền văn học mới nói chung và thể loại trường ca nói riêng, ở đó tái hiện một hiện thực lớn là cuộc sống đấu tranh của toàn dân tộc; và con người trong quá trình tham gia tích cực vào các sự kiện, biến cố trọng đại của lịch sử. Theo Lại Nguyên Ân: “Nếu sử thi truyền thống của nhiều dân tộc ở nhiều thời đại thường hướng sự mô tả vào quá khứ lịch sử dựa vào truyền thống và dã sử, thì nền văn học sử thi Việt Nam hiện đại lại hướng sự mô tả vào hiện tại đương đại của dân tộc trong diện mạo cụ thể lịch sử của nó, dựa vào sự quan sát và tập hợp tài liệu của bản thân từng nhà văn qua kinh nghiệm và tiếp xúc riêng của họ ( 3 ) . Tổ quốc Việt Nam - một biểu tượng thiêng được tạc dựng bằng nhiều phong cách khác nhau trong Nguyễn Khoa Điềm (trường ca Mặt đường khát vọng), Nguyễn Đình Thi (Đất nước), Huy Cận (Tổ quốc), Hoàng Trung Thông (Việt Nam ơi, ta hát), Trần Hữu Thung (Việt Nam tổ quốc tôi), Nguyễn Xuân Sanh (Đất nước, tuổi trẻ và khúc hát)... được Nguyễn Anh Nông tiếp thêm giai điệu cho bản hòa âm hùng tráng bằng Trường ca Trường Sơn. Nếu như Đất nước hình tia chớp (Trần Mạnh Hảo) dẫn ngược trở về cả thời Hùng Vương dựng nước, truyền thuyết Âu Cơ; Ngày hội của rạng đông (Võ Văn Trực) nhắc sự kiện Xô Viết - Nghệ Tĩnh những năm 1930, kháng chiến chống Pháp; Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh) là hình ảnh cuộc kháng chiến chống Mĩ, từ Trường Sơn đến thành phố Hồ Chí Minh; thì Trường ca Trường Sơn với nhiều biến tấu trong thể loại, hình ảnh và cả những xúc cảm hướng cái nhìn ngược trở về quá khứ rồi lại dội đến tương lai khi những đứa con có những lựa chọn Trường Sơn của riêng mình. Trường Sơn kì vĩ, thiêng liêng nhưng ở đó cũng là những kí ức nhiều mất mát:
Ngày cha v­ượt Trư­ờng Sơn
Mẹ mỏi mòn ngóng đợi
...
Ngày cha vật vã cơn đau
tiền nong không cõng được giấc mơ
Mẹ bất lực nhìn cha thoi thóp thở
Dằng dặc Trường Sơn trong mắt mẹ buồn.
...
Hôm nay
Con vượt Trường Sơn
Cha không còn trên mặt đất.
Điều này cũng nằm trong một mạch xúc cảm với nhiều bài thơ của anh: Những tháng ở rừng/ Đồng đội mấy người gục ngã/ Hồn thiêng gửi lại lá cây rừng (Những tháng năm ở rừng). Bước sang một thời kì mới, tìm một tiếng nói mới mẻ hơn, lúc này vấn đề đề tài lớn đề tài nhỏ không còn là điều cần cân nhắc. Nguyễn Anh Nông từ những đề tài quen thuộc, bình dị đã tìm ra một cách khai thác và truyền tải thông điệp mới. Gửi Bill Gates và Trời xanh, Trò chuyện với cha con cu Lập SơnLập Thành của anh khiến người đọc có một cái nhìn mới hơn về trường ca. Bức tranh về cuộc sống đa sắc màu của trường ca Nguyễn Anh Nông cung cấp thêm một cái nhìn mới, đó là vấn đề nổi cộm, nhức nhối mà cả thế giới đang phải đối mặt:
Nếu thơ tớ mà đổi ra đô la, vàng, bạc, kim cương
Thì trái đất nặng thêm nhiều trọng lực
...Thiên hạ dễ đánh đồng tiền bạc với nhân văn?
Nền văn hóa không chỉ của riêng dân tộc Việt Nam có những biến động lớn trước xu thế toàn cầu hóa về kinh tế và quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Mặc dù đã khẳng định Nước tớ và nước cậu/ Hai lịch sử/ Hai văn hoá/ Hai sự kiêu hãnh/ mấy ai có được? nhưng không thể phủ nhận mức độ ảnh hưởng và mối liên hệ chặt chẽ hữu cơ giữa kinh tế và văn hóa. Cũng chính vì thế mà một vấn đề khiến rất nhiều người quan tâm là sự biến đổi ra sao của nền văn hóa, văn học, hẹp hơn là thơ ca trước sự giao lưu đó. Nguyễn Anh Nông miêu tả cũng là để cảnh báo:
Những tổ hợp nhả khói độc lên trời
Từng đám mây a-xít lặc lè bay quanh trái đất
...Trái đất như con người bị moi dần tim, gan, lá lách
...Ta mơ màu xanh râm mát
Ta mơ giấc mơ trái đất
Vĩnh viễn là người bất tử, em ơi!
Những giọt sương long lanh ánh trời
Nhuần nhuỵ cỏ cây hoa lá
Mỗi ngày sống ta như người mắc nợ
Với trái đất này, bạn ơi!
Có người quan niệm, khi chiến tranh kết thúc cũng là lúc trường ca hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Điều ấy chỉ đúng với những trường ca mang âm hưởng sử thi ngợi ca cái hào hùng của thời đại đã qua. Trường ca là thể loại lớn, nó cũng như tiểu thuyết khi gánh vác vai trò tái hiện những biến động lớn của xã hội và con người. Lúc này, ở thời kỳ đương đại, khi con người đứng trước rất nhiều thách thức, cuộc sống biến đổi từng ngày bởi cuộc cách mạng công nghệ thông tin, sự xâm nhập văn hóa giữa các quốc gia dân tộc, biến đổi khí hậu toàn cầu… những vấn đề ấy cũng cần một cái nhìn và sự phản ánh bề thế. Giai đoạn sau của Trường ca Trường Sơn, Nguyễn Anh Nông không khai thác đề tài chiến tranh mà chuyển sang những vấn đề mang tính thời sự. Gửi Bill Gates và trời xanh là cuộc đối thoại đầy thân thiện và kiêu hãnh giữa một người nông dân xứ sở hiền hòa với một con người xuất chúng cả thế giới đều biết. Ở trường ca này, sự đối lập vẫn được tạo dựng nhưng không phải là sự đối lập gay gắt mà chính xác hơn là những đối sánh tương hỗ của “hỗn độn và trật tự”. Vẽ ra một khung cảnh của thời đại internet công nghệ cao với những ứng dụng tài tình và đối xứng một bên của đất nước nhỏ bé đã đi qua chiến tranh, nỗi đau chồng nỗi đau và giờ là xứ sở bình dị, hình ảnh những muỗi, kiến, cóc, còng gió nhưng cũng không thể bỏ qua những lá vàng xao xác, mây bay hay hoa bung biêng gõ vang nỗi nhớ… Tính chất nhân văn của trường ca được thể hiện ngày một rõ hơn. Không cần cao đàm khoát luận, không cần mỹ từ về hòa giải dân tộc sau chiến tranh, ước vọng cuối cùng của con người chính là hòa bình trên trái đất, lúc ấy, mọi đô la, vàng bạc hay chức quyền đều trở thành bé nhỏ tầm thường.
Nguyễn Anh Nông có nhiều thơ viết cho thiếu nhi và trong số đó có không ít những bài thành công, bộc lộ cái nhìn trong trẻo, hồn hậu phù hợp với tâm lý trẻ thơ. Với trường ca, anh hướng cái nhìn của mình tới trẻ thơ bằng Trò chuyện với cha con cu Lập SơnLập Thành, qua đó gửi gắm những thông điệp về cuộc sống, về tương lai. Bốn trường ca của Nguyễn Anh Nông đều trong tư thế đối thoại, đặc biệt hơn là đối thoại mở. Trò chuyện với cha con cu Lập SơnLập Thành đối thoại với tương lai: một không gian làng quê với bề dày văn hóa, những giấc mơ, những kí ức, những trò chơi, những sự vật gần gũi, và cả những “dự phóng ngày gần” theo mạch thời gian không ngừng nghỉ:
Ý thức, không ý thức
Bản năng, khuôn phép hay vật tự nó?
Có thể là một, hai, ba hoặc chẳng là gì cả?
Cũng không sao, ta còn thời gian
Chảy không ngưng nghỉ
Trong động mạch và tĩnh mạch
Hồng hào, hoan hỉ.
(Lập Thành)
Khác với Trường ca Trường Sơn, tái hiện số phận của cả một dân tộc đi qua nỗi đau kiêu hùng, ở đây từ số phận của một con người cụ thể, Nguyễn Anh Nông thể hiện sự trân trọng hạnh phúc gia đình, tin tưởng vào khát vọng về một tương lai tươi sáng khi “cây lúa cây khoai được dát bạc, dát vàng”.
Viết cho thiếu nhi cần đến sự giản dị, phù hợp lứa tuổi, có người còn đặt ra những yêu cầu khi một người nghệ sĩ viết cho thiếu nhi đồng thời phải có thêm thiên chức của nhà tâm lý, nhà giáo, nhà sư phạm, nhà khoa học…( 4) . Nguyễn Anh Nông viết Trò chuyện với cha con cu Lập SơnLập Thành lấy đối tượng chính là thiếu nhi nhưng cũng không hẳn chỉ hướng tới bàn chuyện trẻ con. Nó là cái nhìn thức tỉnh cả người lớn với những suy ngẫm về thời cuộc, những ước vọng được hiện thực hóa từ những điều giản dị, trong đó không thiếu những hoài bão bay bổng mời gọi. Âm hưởng này chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp trong Gửi Bill Gates và trời xanh. Trong nhiều chương đoạn của Trò chuyện với cha con cu Lập SơnLập Thành, tác giả Nguyễn Anh Nông đã chứng tỏ được cách viết điêu luyện (dù đôi lúc kết cấu giữa các phần còn có sự lơi lỏng) khi kết hợp giữa việc tái hiện một thế giới tuổi thơ với những trí tưởng tượng phong phú và sự triết lý sâu xa gửi gắm qua đó. Cùng với sự hiểu biết, tâm hồn con người ngày càng được bồi đắp bởi những trí tưởng tượng và ước mơ. Khi thì là một cuộc sống chuyển động về phía sáng:
Biệt hoàng hôn đón bình minh
Nhú non lộc biếc trên cành cây khô
Buồn vui ùa đến không ngờ
Lâm râm mưa móc trổ cờ ban mai
Líu lo trẻ nỏ học bài
Mầm cây cụ cựa vươn vai mỉm cười
Toác toang áo vỏ hong phơi
Dịu dàng ánh mắt ngời ngời tin yêu
Xác xao gương mặt quê nghèo
Mẹ ta lận đận bóng chiều lom khom
Ngác ngơ rơm rạ gầy nhom
Phất phơ ngọn khói xanh om cánh đồng.
Khi thì là những ước vọng đi xa:
Mái nhà cu Lập Sơn lợp bằng tình yêu sáng choang,
Nhìn hai bố con tập lẫy tập bò
Không biết rồi ai đi xa hơn ai...
Quá trình vận động của văn học liên quan mật thiết đến sự thay đổi quan niệm về con người và cá nhân. Giai đoạn hiện tại, con người cá nhân được đề cao, không nhất thiết phải gắn với số phận dân tộc vẫn cất được những tiếng nói giá trị. Có khi chỉ một số phận cá nhân như trường hợp của hai trường ca Trò chuyện với cha con cu Lập SơnLập Thành cũng soi chiếu được cuộc sống ở cả bề rộng và bề sâu với nhiều phương diện khám phá. Ở khía cạnh này, trường ca cũng giống như tiểu thuyết với khả năng “tiếp xúc tối đa với cái hiện tại ở thì chưa hoàn thành của nó” (Bakhtin), trường ca cũng vận động như chính cuộc sống đang diễn ra, số phận dân tộc nhiều lúc nhường tiếng nói cho những số phận cá nhân nhỏ bé. Chính ở điểm này, trường ca Nguyễn Anh Nông đã làm một cuộc hành hương ngược về quá khứ chưa xa nhưng để nhận thức thực tại và vươn lên một hành trình mới ở tương lai. Trong chặng đường nhiều trải nghiệm đó, anh đã thể hiện được trong những trang viết của mình nhiều tư tưởng nhân văn sâu sắc.
2. Chọn một con đường còn dang dở
Dấn thân vào một thể loại còn nhiều dang dở chưa hoàn thành, Nguyễn Anh Nông cũng ý thức được những khó khăn mình sẽ vấp phải. Cũng như thơ, trường ca của anh là những tiếng nói trang trải với cuộc đời mà anh tự nhận mình còn nhiều mắc nợ. Nhưng điều đặc biệt hơn trong trường ca Nguyễn Anh Nông là tính chất đa thành trong cách anh nhìn về cuộc sống, bề bộn, phức tạp mà cũng nhiều yêu thương này.
Điểm nổi bật của bốn trường ca Nguyễn Anh Nông là sự tập trung trong một mạch xuyên suốt. Cái tính chất đối thoại thể hiện rất rõ. Trường ca Trường Sơn là đối thoại với quá khứ để giúp nhận chân giá trị, một phần lịch sử đã qua; Gửi Bill Gates và Trời xanh là cuộc đối thoại đa thanh đầy kiêu hãnh từ một thi sĩ với tỉ phú nổi tiếng toàn thế giới; và Trò chuyện với cha con cu Lập Sơn Lập Thành là cuộc đối thoại với tương lai. Dù với tâm thế nào, trường ca Nguyễn Anh Nông cũng hướng cái nhìn đến một tương lai đầy hứa hẹn. Có thể đó là khát vọng mạnh mẽ:
Cha mừng - con - vượt - Trường Sơn
Mạnh mẽ
Dứt khoát
Bằng
Vượt
Qua
Cái - bóng - của- mình.
(Trường ca Trường Sơn)
Có thể chỉ là một con người nhỏ bé:
Nhìn hai bố con tập lẫy tập bò
Ai biết được ai đi xa hơn ai?
Những le lói con đường xa ngái.
(Trò chuyện với cha con Cu Lập Sơn)
Hình ảnh đứa trẻ là trung tâm của thế giới, nó khiến cho người lớn phải nhận thức và suy ngẫm nhiều hơn trước một số phận mới đang hình thành:
Thời gian ái ngại
Hy vọng rụt rè rón rén ngập ngừng đi
Hai cái mậm cây nhúc nha nhúc nhắc.

Vô tư khóc cười
Những đứa trẻ thiên thần trong trắng
Dạy người lớn quên âu sầu, lo lắng.
(Trò chuyện với cha con Cu Lập Sơn)

Trường ca Nguyễn Anh Nông nhất quán ở tính chất tăng cường đối thoại – cuộc đối thoại phong phú, đa chiều từ nhiều vấn đề của cuộc sống: chiến tranh, hội nhập văn hóa, tương lai con người và thậm chí là kín đáo đối thoại với chính mình để tự lý giải bản thân. Điều này mang đến tính chất động rất rõ cho trường ca Nguyễn Anh Nông. Nếu như thơ ngắn của Nguyễn Anh Nông chắt lọc, chú ý tạo dựng những ấn tượng sâu, đập mạnh vào trực giác người đọc thì trường ca của anh nhiều khi dẫn dụ người đọc trôi theo mạch cảm xúc chứ ít khi tái hiện một cốt truyện hoàn chỉnh. Nhiều chương đoạn có những biến hóa và vận động mới mẻ như Khúc V, VI, VIII của Gửi Bill Gates và trời xanh; Chương 2 của Trò chuyện với cha con cu Lập Sơn
Điểm đặc biệt nổi bật nữa có thể thấy trong bốn trường ca Nguyễn Anh Nông là dung lượng vừa và ngắn với cấu trúc vững. Cũng như tiểu thuyết hiện đại, dung lượng ngắn là một đặc điểm chung dễ nhận thấy của trường ca giai đoạn sau này. Trường ca Trường Sơn của Nguyễn Anh Nông bộc lộ nhiều cố gắng trong việc mở rộng dung lượng tự sự và quy mô cảm xúc, có sự kiện và những biến chuyển trong từ trường của một tư tưởng chủ đạo (Chương VI Vượt dốc với ba phần (Tỉnh táo, Hôn mê, Gượng dậy); Chương VII Mây; IX Lời một người con, XI Nhà thơ, XII Nữ chiến sĩ, XIII Cánh bướm - Hồn trinh nữ, XIV Lời kẻ đào ngũ, XV Lời một người cha, XVI Lời căn hầm dã chiến, XVII Lời cây cầu tạm, XVIII Lời con đường, XIX Lời một em bé, XX Lời già làng, Vĩ thanh). Tác giả chọn chỗ đứng ở thời hiện tại để hướng cái nhìn về quá khứ đã qua:
Trường Sơn
Ai lại về đây
Lặng nhìn hôm nay
...
Bài ca mưa nắng xanh tuôn
Máu xương đồng đội mạch nguồn núi sông.
Nguyễn Anh Nông viết gọn và chắt lọc ở từng phần, dường như tránh cho người đọc cảm giác nặng về miêu tả kiểu diễn ca, khi số phận nhân vật, sự kiện đan cài nhiều lúc tạo ra sự liệt kê dàn trải. Bên cạnh đó lại là những chương đoạn có được sự linh hoạt giữa chủ quan và khách quan, giữa cảm xúc và tự sự. Điều này có thể thấy rõ nhất trong Trường ca Trường Sơn không chỉ phản ánh chiến tranh với sự bừng bừng khí thế mà đã đào sâu vào hiện thực, nhận thức và tái hiện cuộc chiến ở nhiều mặt, trong đó nhấn mạnh đến những góc còn khuất lấp - đó là số phận của những người lính, người mẹ, người vợ và cả những đứa con đang chịu nhiều đau khổ khi đất nước đã hòa bình. Đặc biệt là sự sáng tạo nhân vật kẻ đào ngũ:
Ngày ấy, nếu tôi…không còn
Buồn đau, thống khổ đổ dồn vào ai?
Đêm đêm thao thiết thở dài
Ngày ngày tức tưởi, thân trai bẽ bàng
Cúi đầu đi giữa xóm làng
Thấm bao vinh - nhục, khẽ khàng nỗi đau...
Ở ba trường ca sau này, dung lượng còn được thu gọn hơn nữa. Dường như sự thu gọn dung lượng là chủ ý nhường chỗ cho bề sâu được đào xới kĩ càng, nhưng trong đó vẫn dung hợp được nhiều thể loại.
Kết cấu tác phẩm không chỉ là liên kết các hiện tượng, con người. Mối quan tâm lớn của nhà văn là làm sao sắp xếp tài liệu để cho cái chính yếu được nổi bật lên, cái quan trọng gây được ấn tượng mạnh mẽ. Kết cấu tác phẩm thể hiện quá trình vật lộn của nhà văn với tài liệu sống, để biểu hiện một chân lý khách quan… Tư tưởng sống động của nhà văn bao giờ cũng biểu hiện trong kết cấu và qua kết cấu”(5). Trường ca khởi đầu là cấu trúc tự sự rồi khi đạt đến sự hoàn chỉnh lại mang dáng dấp trữ tình. Vấn đề mà trường ca tập trung một cách có chủ ý là phản ánh những vấn đề liên quan đến vận mệnh dân tộc mình. Cấu trúc của nhiều trường ca không phụ thuộc vào chương, đoạn hay những phần liền mạch mà có được từ một tư tưởng nhất quán xuyên suốt. Đến với trường ca, không nhiều nhà thơ giữ được sự kiệm lời súc tích và tiết chế cảm xúc. Trò chuyện với cha con Cu Lập Sơn có sự đan cài thể loại linh hoạt hơn, ý tứ rõ hơn nhưng đôi lúc loãng hơn (nhiều liên tưởng khiên cưỡng trong mắt trẻ thơ) điều này khác với thơ thiếu nhi của anh. Vấn đề có ý nghĩa quan trọng đặc biệt là mối liên hệ giữa đặc điểm phổ biến của một thể loại văn học với những đóng góp riêng của từng dân tộc về sự phát triển của thể loại đó. Và cũng là hạn chế nếu không chỉ được ra phần đặc sắc riêng của từng dân tộc đã đóng góp vào sự phát triển chung của thể loại”( 6) . Từ những trường ca của Nguyễn Anh Nông có thể thấy, cấu trúc của trường ca nhiều khi không phụ thuộc vào chương, đoạn hay những phần liền mạch mà có được từ một tư tưởng nhất quán xuyên suốt.
Cấu trúc điệp thường trở đi trở lại trong những trường ca của Nguyễn Anh Nông. Đó cũng là một cách khắc phục và khỏa lấp sự triền miên, lan man của dòng cảm xúc. Điều này thể hiện rất rõ và ấn tượng trong trường ca Gửi Bill Gates và trời xanh với cấu trúc nối tiếp chương bằng những lời rào đón trước: (Cái miệng, Con muỗi, Kiến, Cóc, Nàng còng gió). Kết cấu trùng điệp thường thấy trong trường ca Nguyễn Anh Nông tạo nhiều dư âm vang vọng:
...Sớm nay
Con đường đã mở
Con đường chồng lên con đường
Như ta chồng lên nhau
những ước mong khát vọng
Niềm vui nhân niềm vui
Nhớ ngày sương tháng gió.
Khác với quan niệm quá trình vươn tới cái đích của trường ca là “tái hiện được những sự kiện, những vấn đề liên quan tới vận mệnh của một cộng đồng, một dân tộc, trong một thời gian và không gian rộng lớn”( 7), trường ca của Nguyễn Anh Nông lại hướng cái nhìn về những điều bình dị. Dù tập trung xuyên suốt như Trường ca Trường Sơn, có lúc lại nặng về tính suy tưởng, nhiều chiêm nghiệm như Gửi Bill Gates và Trời xanh; hay nhiều đoạn, phân khúc được dồn nén, tích hợp như Trò chuyện với cha con Cu Lập Sơn... tất cả tạo nên một diện mạo phong phú hấp dẫn riêng cho những trường ca của Nguyễn Anh Nông. Khi thì là sự độc đáo đến từ cách chọn vần:
Thôi kệ! Thôi kệ!
Mặc xác mèo lười
Khói bếp rong chơi vẽ vời trăng sáng.
(Trò chuyện với cha con Cu Lập Sơn)
Trường ca Nguyễn Anh Nông không chỉ hướng đến những đề tài đa dạng, phản ánh đời sống, lịch sử tâm hồn con người dân tộc mình mà ở đó còn thể hiện những chủ động tìm tòi trong cách biểu hiện: kết cấu đa dạng, ngôn từ giàu hình tượng, câu thơ co giãn linh hoạt… Dù tập trung xuyên suốt như Trường ca Trường Sơn, Gửi Bill Gates và trời xanh; mang tính suy tưởng, nhiều chiêm nghiệm như Trò chuyện với cha con cu Lập Sơn; hay dồn nén, tích hợp như Lập Thành, tất cả tạo nên một diện mạo phong phú và đa phong cách cho những trường ca của anh.
Thế giới nhân vật trong các trường ca Nguyễn Anh Nông không quá phong phú. Có nhân vật với tên tuổi cụ thể, lại có những con người vô danh, tuy nhiên cái tác giả chú trọng lại là sức khái quát từ những con người ấy. Ở Trường ca Trường Sơn, có khi chỉ một đoạn viết ngắn về cánh bướm – hồn trinh nữ nhưng lại đem đến những liên tưởng xa hơn, hay như ở Gửi Bill Gates và trời xanh, Trò chuyện với cha con cu Lập Sơn, qua một vài nhân vật cụ thể, tinh thần đề cao những nét đẹp văn hóa làng quê Việt Nam được thể hiện rõ với nhiều biểu tượng đẹp…
Trong xúc cảm về Tổ quốc và nhân dân thì hình tượng cao đẹp nhất được Nguyễn Anh Nông tập trung khắc họa lại là người cha, rồi qua đó mới gián tiếp ngợi ca công lao của những người mẹ. Và dù trực diện hay gián tiếp, người mẹ, người cha ấy vẫn gắn với số phận và vận mệnh dân tộc.
Ngày cha v­ượt Trư­ờng Sơn
Mẹ mỏi mòn ngóng đợi…
Cha, bay bay về miền cực lạc
Chốn bồng lai tiên cảnh
Dằng dặc nỗi nhớ
Dằng dặc niềm thương
Với mẹ của con
(Người vợ yêu dấu của cha)
Ngàn lời vàng ngọc không đủ để ngợi ca.
Trường ca Trường Sơn nằm trong một mạch phản ánh của trường ca sau 1975, khi Hữu Thỉnh viết Đường tới thành phố, Thanh Thảo viết Dấu chân qua trảng cỏ, Anh Ngọc viết Sông Mê Kông bốn mặt, Nguyễn Đức Mậu viết Trường ca sư đoàn... Trường ca Trường Sơn mang âm hưởng của sự hào sảng, tính chất sử thi vẫn còn nhưng không lệ thuộc vào nó một cách hoàn toàn. Đây đó là những sự pha trộn hài hòa, cuộc chiến đấu khốc liệt, hi sinh anh dũng đi liền với những phút lãng mạn của tâm hồn, cái bình dị của đời sống. Những nhân vật em bé, già làng, người cha, nữ chiến sĩ… như một sự đối lập gay gắt với cuộc chiến của lý trí tỉnh táo: Gió thốc/ Nắng xém/ Tóc cứng/ Miệng khát/ Họng rát/ Mắt chói/ Bụng đói/ Miệng ói/ Chân run/ Tay mỏi/ Gối đau (Tỉnh táo) của những con người mang trên vai bao trọng trách và những điều bình dị/ Những trọng trách có tên và không tên… Bởi “sự tái hiện biến cố các sự kiện của trường ca là gắn với những hoạt động tinh thần và thực tiễn của cá nhân nhà thơ, và điều kiện quan trọng hơn, nó lấy sự trưởng thành của ý thức nhân vật làm thước đo các biến cố và sự kiện”(8) do đó, trường ca Nguyễn Anh Nông thường chú ý khai thác hệ thống sự kiện và nhân vật. Có thể đó là cây cầu, căn hầm, con đường… hay những nhân vật có tên tuổi cụ thể Lập Sơn, Lập Thành… nhưng “sự tổ hợp nhân vật không thể thực hiện được nếu không có một hệ thống sự kiện tương ứng”(9).
Có thể thấy sự vận động từ lối trần thuật, phô diễn, kể tả đến lối viết chắt lọc chi tiết, cô đọng, súc tích là một bước tiến với ý thức chủ động mạnh mẽ của nhiều nhà thơ. Ở nhiều trường ca khi tập trung vào cốt truyện và tái hiện số phận nhân vật, nhiều tác giả không tìm được sự mới lạ của bút pháp, nhìn một cách tổng thể ấn tượng đọng lại nơi người đọc chỉ là những đoạn/ những câu thơ hay trong một thiên truyện hoàn chỉnh, giàu cảm xúc. Với Nguyễn Anh Nông, trường ca của anh khi thì khai thác đề tài chiến tranh nhưng không chỉ phản ánh chiến tranh với sự bừng bừng khí thế mà đã đào sâu vào hiện thực, nhận thức và tái hiện cuộc chiến ở nhiều mặt, trong đó nhấn mạnh đến những góc còn khuất lấp - đó là số phận của những con người chịu nhiều đau khổ, ám ảnh khi đất nước đã hòa bình; khi thì khai thác cuộc sống của những con người bình dị nhưng ước mơ không hề nhỏ bé… Khi trường ca của Nguyễn Anh Nông khai thác các đề tài trong đời sống xã hội hiện tại thì lại thể hiện sự tái nhận thức những vấn đề nhức nhối, những mặt được và cả chưa được của những biến chuyển khi đất nước trở mình trong công cuộc hội nhập. Nhưng dù ở tâm thế nào thì cũng le lói nhiều hi vọng, tin yêu.
Thơ Anh Nông đa dạng các thể loại, ngay ở trường ca điều này cũng được thể hiện rõ. Những phân khúc trong trường ca Gửi Bill Gates và Trời xanh mang lại những biến đổi linh hoạt, Nàng còng gió với thể thơ 5 chữ linh hoạt và duyên dáng, Phân thân lại là thể tự do nhưng mang đến âm điệu tươi mới hơn, là điểm nhấn về giọng điệu trường ca này. Nhưng điều đặc biệt ở thơ anh không đến từ sự linh hoạt của giọng điệu mà phần nhiều đến từ liên tưởng đa chiều từ những hình ảnh thơ. Trường ca Trường Sơn với cảm hứng anh hùng đã tạo nên giọng điệu hào sảng cho nhiều trang viết nhưng Gửi Bill Gates và trời xanh, Trò chuyện với cha con cu Lập SơnLập Thành lại mang đến những tiếng nói tâm tình như để sẻ chia những vấn đề nhân sinh, thế sự. Ở ba trường ca sau, những phân tích diễn biến nội tâm nhiều lúc có sự linh hoạt hơn và những liên tưởng phong phú hơn Trường ca Trường Sơn. Có thể thấy, bốn trường ca của Nguyễn Anh Nông đem đến một chất giọng riêng thống nhất. Nó là sự kết hợp nhuần nhị của nhiều thể thơ với tính chất đa giọng điệu. Lúc thì trần thuật, lúc lại tâm tình, lúc lại độc thoại nội tâm… nhưng ở cung bậc nào cũng hướng đến những đối thoại với cuộc đời. Anh không chú trọng việc tạo dựng nhân vật, cốt truyện mà đề cao tính chặt chẽ của bố cục, cấu trúc với việc dung hòa tính tự sự và trữ tình. Trong các trường ca, không ít những chi tiết đắt ở mỗi đoạn được anh chọn lựa, nó là những điểm sáng đem đến sinh khí mới cho cả trường ca. Nhiều đoạn thơ nếu tách riêng ra vẫn có dáng dấp của một bài thơ hoàn chỉnh cả về nội dung lẫn hình thức biểu đạt.
***
Với bốn trường ca đã trình làng, Nguyễn Anh Nông phần nào khẳng định được phong cách của mình với thể loại còn dang dở này. Góp một cái nhìn Trường Sơn – dài – rộng – của – riêng – mình, một tiếng nói với Bill Gates khi kiêu hãnh khẳng định chúng mình là – hạt – cát – biết – yêu – đương, và hai cuộc trò chuyện với Lập Sơn, Lập Thành như một ẩn ngữ về niềm tin cuộc sống, Nguyễn Anh Nông đã cho thấy một tư tưởng nhân văn sâu sắc trong những trường ca của mình. Lựa chọn một lối đi không bằng phẳng với những gập ghềnh, trường ca Nguyễn Anh Nông dường như muốn khám phá đến tận cùng những góc khuất còn dang dở, những số phận con người dù bình dị nhưng đủ sức đại diện cho một thế hệ. Hướng ngòi bút vào thời kỳ bão táp sôi động cách mạng hay thời đại hòa bình nhiều thách thức, anh vẫn chứng tỏ được bản lĩnh chín chắn từ những trải nghiệm dồi dào, phong phú. Không còn là những thể nghiệm với bước đi dè dặt ban đầu, Nguyễn Anh Nông đã tạo cho mình một chỗ đứng trong thi đàn không chỉ bằng các thể loại thơ, mà bằng bốn trường ca với nhiều biến hóa linh hoạt, đa dạng. /.

HN, 10/10/2014
           
1() Bakhtin M.M., Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2003, tr.8
2() Bakhtin M.M., Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Sđd, tr.28.
3() Lại Nguyên Ân, Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám một nền sử thi hiện đại, Tạp chí Văn nghệ số 5-1986.
4() Viện Văn học, Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; tr.370.
5() Phương Lựu (Chủ biên), Lý luận văn học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1997; tr.297.
6() Phương Lựu (Chủ biên), Lý luận văn học, Sđd, tr.159
7() Mã Giang Lân (2004), Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Tái bản lần 2, Hà Nội, tr.562.
8() Viện Văn học, Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, Sđd, tr.708.
9() Phương Lựu (Chủ biên), Lý luận văn học, Sđd, 1997; tr.302.
 

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 22.11.2014.