Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

danh họa Rembrandt (1606-1669)




    LÃNG DU TRONG HỘI HỌA HÀ LAN                        






Cuộc đời của danh họa Harmensz van Rijn Rembrandt (1606-1669)  có hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất  ông nổi tiếng về vẽ chân dung,  cả chân dung cá nhân lẫn tập thể với những bức  “ Người mang kính lúp”;  “Người đội mũ vàng”;  “Chân dung Hendrickje” ; “Chân dung Titus”;  “Chân dung tự họa”;   “Bài học giải phẫu”;  “Cuộc xuất hành của đội lính súng hoả mai” (Tuần đêm),  “Cô dâu Do Thái và những viên chức phường bán vải” .v.v.    Giai đoạn thứ hai ông nổi tiếng với những bức tranh về đề tài tôn giáo-Thiên chúa giáo  như “Chúa Jesus  rao giảng”;  “Ba cây thập tự”;   “Chúa Jesus  chữa bệnh” v.v. 

Người mẫu
 
     Năm 1634,  Rembrandt cưới Saskia van  Uylenburch- người mẫu mà ông thường vẽ.  Những bức chân dung dịu dàng  tuyệt đẹp của nàng làm cho nhà thơ Hà Lan  Andries Pels phải thốt lên:
-   Nếu như ông vẽ một phụ nữ khỏa thân như đôi khi vẫn gặp, ông không lấy  nữ thần sắc đẹp của Hy Lạp Venus làm mẫu.
 
Rembrandt- Raphael
 
      Bề sâu cảm xúc và phạm vi sáng tác của  Rembrandt cũng tương xứng với trình độ thành thạo về kỹ thuật diễn đạt của ông. Dưới con mắt xanh của họa sĩ vĩ đại nhất của phong trào lãng mạn Pháp Eugène Delacroix thì:
-     Một ngày nào đó Rembrandt có thể được coi trọng hơn Raphael.             
       Lời tiên đoán đã thành sự thật.   Tranh của Rembrandt  được các bảo tàng lớn  ở Pháp, Anh, Đức, Nga, Mỹ sưu tầm.            
 
Bỏ nghề
 
    Danh họa người Đức Max Liebermann đứng ngắm bức tranh  Tuần đêm (la ronde de nuit), rồi nói:
-   Xem tranh của Frans Hals thì có hứng cầm cọ vẽ, nhưng xem tranh của Rembrandt thì thấy mình nên bỏ nghề. 
 
Tin đồn …
 
       Một hôm người ta đồn khắp thành phố Amsterdam rằng Rembrandt vừa mới qua đời.   Cả thành phố Amsterdam đổ xô đến khu thương mại Hendriekje Stoffels tìm tranh của Rembrandt để mua.  Lập tức tất cả các tranh do Rembrandt vẽ đều nhất loạt tăng giá.
       Vài hôm sau, người ta thấy Rembrandt xuất hiện ngoài phố.  Tức giận, có người gọi họa sĩ là tên lừa đảo.  Họa sĩ nói:
-    Chính cái tin ấy làm cho tôi trở nên nổi tiếng.
  
  Hoạ sĩ, thợ khắc thạch bản, khắc axit và khắc gỗ Hà Lan Edvard Munch  (1863-1944)là nghệ sĩ vĩ đại nhất của xứ sở mình. Tranh của ông mô tả vết thương tinh thần khó lành thời thơ ấu: nỗi ám ảnh chứng lọan thần kinh (cha ông mộ đạo như người mê sảng; mẹ và các chị chết vì bệnh lao).
   1885, Munch tới Paris và chịu ảnh hưởng của các hoạ sĩ Ấn tượng và Tượng trưng.   Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc lối dùng hình thể đơn giản hoá và màu phi tự nhiên của Gaugin.
 Từ 1892 tới 1908, Munch gần như sống hẳn ở Berlin (trừ thời gian thăm nhà ở Na Uy, đi du lịch Pháp và Italia).
   Những tranh tiêu biểu của Edvard Munch là “Tiếng thét”trong loạt tranh “Ngưỡng cửa của Đời sống”;  “Giữa cái đồng hồ và cái giường”.  Edvard Munch có ảnh hưởng mạnh mẽ tới trường phái Biểu hiện  ở các nước Scandinavia và Đức.
  
                     Gia cảnh nào, tranh ấy
 
     Edvard Munch rất hài hước khi nói về gia cảnh mình:
-   Bệnh tật, điên khùng và chết chóc là những thiên thần đen đủi trông nom giấc ngủ trong nôi của tôi.
   Chủ đề ghen tị, , ý thức về ham muốn   nhục dục  với trạng thái tâm lý cực đoan gần như điên cuồng biểu hiện rõ nét trong 50 bức tranh của Munch trong triển lãm của Hội liên hiệp nghệ sĩ  (Kũnstlerverein) năm 1892. Công chúng phản đối dữ dội đến mức triển lãm phải đóng cửa.  Việc này dẫn tới sự hình thành các nhóm “Sezession”  ở Berlin,  ở Viên (Wien), ở Mũnchen.
 
                        Tài đi với tật mới  là nghệ sĩ!?
 
   Rượu, nhậu, tình ái bát ngát dẫn tới lao lực và  “sự suy sụp tinh thần trọn vẹn” (sự bất ổn tinh thần).   Edvard Munch nhận thấy điều đó và coi nó cũng là một phần của tài năng:
-    Đáng lẽ tôi không nên từ bỏ sự bệnh họan của mình, vì có nhiều điều trong nghệ thuật của tôi là nhờ bệnh họan mà có.
 
                        Linh hồn và thể xác
 
    Tranh của Munch luôn nhấn mạnh cái tranh chấp, căng thẳng tinh thần, thần kinh bệnh họan để biểu hiện tâm trạng vỡ mộng với chiều hướng con người xa lánh nhau. Munch truyền đạt tâm trạng đó bằng những hình thể méo mó một cách dữ dội và không kiềm chế. Ông gọi nó là “cuộc sống tâm linh hiện đại” và giải thích:
-   Như Leonardo  da Vinci đã nghiên cứu cơ thể con người và mổ xẻ tử thi, tôi cũng cố gắng mổ xẻ linh hồn.
 
 
    Jan Vermeer  (1632-1675) là họa sĩ Hà Lan.  Sinh thời, Jan Vermeer ít nhiều nổi tiếng.   Được nhiều họa sĩ  phái ấn tượng khâm phục, tác phẩm của Vermeer - đặc biệt là bức  Quang cảnh Delft – (vì  thế  ông còn đ ược gọi  là  Vermeer de Delft) đã gợi cảm hứng  cho Proust và Claudel.   Các chuyên gia hình như đều thống nhất cho rằng, ông có tới ba mươi tác phẩm, tuy vậy  cuộc đời ông đã  không được biết đến đầy đủ, rõ ràng:  Những bức tranh đầu tay  được coi là của ông hình như chỉ rõ ràng  thoạt đầu ông chuyên về hội họa “lịch sử”.  Thật vậy, ông vẽ tranh “Diane và bạn gái” (khoảng 1654)  và “Chúa Ki-tô  trong nhà Marthe và Marie” (khoảng 1656) là những tác phẩm tỏ rõ mối quan tâm tới hội họa Italia, nhất là của trường phái Venise, cũng như mối quan hệ ít nhiều tới các chủ đề lịch sử. 
  
   Hoạ sĩ có ảnh hưởng nhất trong nền nghệ thuật Barock ở bắc Âu là danh hoạ Peter Paul Rubens (1577-1640) người vùng Antwerpen. Thầy dậy của ông là ba họa sĩ không mấy xuất sắc ở Antverpen:  Tobias Verhaecht,  Adam van Noorrt, Otto van Veen.  Hình như Otto van Veen (đã từng ở Ý năm năm) có khuyên người học trò tài năng của mình sang Ý để học hỏi.  Năm 1600, Rubens sang Ý và ở lại đây tới năm 1608.  Phong cách của Rubens hình thành trong thời gian này. Nước Ý trở thành quê hương tinh thần của ông, nên ông thường ký tên mình là Pietro Pauolo theo cách viết của Y.
  
Con người đa tài
 
   Rubens vẽ gần như đủ mọi đề tài, tranh tôn giáo Chúa Jesu trên cây thập tự, Toà án Paris, tranh chân dung như Helena Forment và hai con, chân dung hoàng hậu Pháp Anne d’ Autriche, tranh lịch sử như  Đời hoàng hậu Marie d’ Medici, tranh sinh hoạt như Chợ phiên, tranh nông thôn như  Cảnh trời chiều, tranh thần thọai như Olympia.  Sức làm việc của Rubens hết sức phi thường: ông có thể vừa vẽ, vừa đọc cho người ta viết một bức thư, vừa tiếp chuyện với khách.  Rubens sáng tác trên 3.000 tranh, ước tính phải in tới 30 quyển sách mới in hết số tranh ông vẽ.  Về sức sáng tác của mình, ông nói:
-  Tôi có khả năng vẽ nhiều đề tài đến nỗi tôi không bao giờ e sợ khi thực hiện bất kỳ kiểu mẫu nào dù kích cỡ to lớn hay đề tài đa dạng.
 
Say mê của tuổi già
 
    Những năm cuối cùng của đời mình, Rubens say mê vẽ tranh phong cảnh.  John Constable, hoạ sĩ phong cảnh vĩ đại của Anh (1776-1837), phải thốt lên khi ngắm những bức tranh phong cảnh đầy nhựa sống của Rubens:
-  Không có thể loại nào mà Rubens tỏ ra vĩ đại hơn trong tranh phong cảnh.
   Tranh của Rubens  được trưng bày tại bảo tàng nghệ thuật ở Madrid  Tây Ban Nha,  ở Mũnchen Đức, ở Paris Pháp, ở Viên nước Áo, ở London nước Anh.
 
 
LỜI BÌNH:   Người Hà Lan thuộc chủng tộc german phương Bắc vùng Scandinavien. Việt Nam quen gọi Niederlande là  Hà Lan.  Hà Lan là tên vùng phương Bắc và vùng phương Nam  (Nordholland và Sũdholland). Chữ Niederlande có nghĩa là Vùng đất trũng. Một phần tư diện tích nước Hà Lan thấp hơn mực nước biển, có nơi tới 6 mét.  Câu châm ngôn cửa miệng của người Hà Lan là  “Thượng đế  tạo ra biển, người Hà Lan tạo ra đất liền (đất để trồng trọt)”. Tuy dân số ít (16,3 triệu người), đất chỉ rộng có 40.893 km2, nhưng Hà Lan có những danh nhân nổi tiếng thế giới như các họa sĩ Rijn van Rembrandt,  Johannes Vermeer, các nhà khoa học như Desiderius Erasmus,  Baruch Spinoza, Christiaan  Huygens, nhà xã hội học Sebald Rudolf Steinmetz, kiến trúc sư Michel de Klerk của Trường phái Amsterdam. Hầu như không khoáng sản, Hà Lan là đất nước của những con người ham làm, thông minh sáng tạo. Đặc biệt,  Hà Lan có nhi ều danh họa để lại dấu ấn trong  hội hoạ thế giới như:
    Rubens có ảnh hưởng bao trùm nền hội họa Flanders thế kỷ 17, ảnh hưởng đó cũng lan toả khắp châu Âu, thân chủ của ông là hoàng tộc Flanders, hoàng tộc Pháp, Anh, Tây Ban Nha.  Ông có ảnh hưởng lớn tới những họa sĩ ở những thế kỷ sau như Watteau,  Delacroix, Renoir v.v.
    Danh họa người Hà Lan Harmensz van Rijn Rembrandt  là một trong những thiên tài của nền mỹ thuật thế giới.  Rubens và Rembrandt là hai danh họa trường phái Barock Hà Lan. Trong khi Rembrandt là họa sĩ vẽ tranh tôn giáo thì Rubens là họa sĩ cung đình.
    Tranh vẽ với sự tương phản ánh sáng của Rembrandt là đỉnh cao của của hội họa thế giới, điều mà các họa sĩ sống trước và sau ông không sao đạt tới.
    Tác phẩm của Vermeer dựa  trên tinh thần suy ngẫm rất sâu về tổ chức không gian, trong khi những mối liên quan giữa  các nhân vật , đồ đạc và không gian xung quanh , được phân tích một cách sâu sắc.  Trái với Rembrandt, Vermeer thể hiện sự chiếu sáng  trong ánh sáng tràn đầy, do đó tranh ông có độ sáng và sự trong trẻo.  Chính vì có sự kết hợp chặt chẽ  về hình thức với  sự cộng hưởng mầu sắc nên thơ, ngày nay, ông được coi là  một trong những họa sĩ  vĩ đại nhất thế kỷ 17.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 24.9.2014.