Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






HỒN VIỆT NƯƠNG PHONG CÁCH ĐỨC






Lặng lẽ, cặm cụi làm việc, với nụ cười trên môi, theo đuổi công việc mình chọn, con đường mình đang đi… Đó là Lương Văn Hồng – một con ong thợ đích thực, mang thứ mật hoa từ những cánh rừng nước Đức về cho bạn đọc Việt Nam; một tay săn và sản xuất “hàng độc”  là những đầu sách quý.

 
   Lâu không gặp, tưởng ông vẫn ở Phú Nhuận, tôi cũng bận không có dịp liên hệ. Một tối sau buổi gặp gỡ mấy anh bạn về, điện thoại reo: “- Lương Văn Hồng đây, mình đã chuyển nhà  về  đường Hồ Đắc Di, quận Tân Phú. Rảnh ghé chơi nhé”…Vẫn thế, văn ngôn chẳng thiếu chẳng thừa. Chân tình nhưng không sa đà, chính xác, giản kiệm, hiệu quả . Hồn Việt nương phong cách Đức. Tôi quý ông ở chỗ đó. Còn ông, không rõ tôi có gì khiến ông  phải quý  không,  song thỉnh thoảng, ông vẫn điện thăm và mỗi lần gặp, ông vẫn dành cho tôi thứ “hàng độc” mà tôi trót “ghiền” – đó là những cuốn sách quý ... Với tôi, ông đúng là một bậc “thư hữu” kỳ phùng ở đời này!
 
TỪ CÔNG NHÂN TỚI SINH VIÊN DU HỌC
 
   Đáp lời tôi hỏi lúc thư nhàn nên dù không thích nói về bản thân, ông  cũng kể đôi nét tiểu sử: “- Mình sinh 1944, quê tại thị xã Hải Dương. Mười tuổi mới bắt đầu đi học vì bố tôi đi kháng chiến, ba mẹ con được ông bà nội nuôi. Ông bảo “để hòa bình rồi đi học luôn thể…”.Tốt nghiệp phổ thông năm 1964, thời ấy có quy định ai đi làm thợ ba năm thì được chuyển thành phần tiểu tư sản sang thành phần công nhân. Tôi  làm thợ rèn ở Nhà máy cơ khí tỉnh Hải Dương, sau  chuyển sang làm thợ mộc mẫu. Tôi tiếp thu nhanh, làm tốt. Đặc biệt, tôi đọc được các bản vẽ, trong khi nhiều người không đọc được. Thấy tôi làm mẫu chi tiết máy cho bộ phận đúc tốt, ông tổ trưởng bảo : “- Cậu phải đi học. Ở đây, cậu được làm nhưng không được nói. Có học mới được làm, được nói!”. Đủ ba năm, tôi nộp hồ sơ tuyển thẳng và được chọn vào khoa tiếng Đức mới mở, ĐH ngoại ngữ Hà Nội. Thời đó, trường sơ tán tại Gia Lương, Hà Bắc. Tôi làm Phó bí thư Đoàn kiêm cán bộ Liên chi Đoàn Trung-Đức, phụ trách quân sự và thể thao. Năm 2007, tôi ra Hà Nội họp mặt kỷ niệm 40 năm Đ67, gặp lại bạn bè  xưa, nay ai cũng đã nên ông nên bà, thật vui và cảm động.
   Lớp Đ67 có 30 người. Sau một năm học tiếng Đức ở Việt Nam, 13 người được chọn sang Đức học.  Sau 3 tháng học , thi lại thì mấy người rớt. Phía Đức chọn 8 người cho thi vào học Ngữ văn Đức – Germanistik  (phải thi ba môn Triết, Sử, Văn như học sinh phổ thông Đức) . Kết quả môn Văn tôi đạt điểm 10 tuyệt đối, Sử 10 và Triết 8. Tôi và mấy bạn được học trường ĐH Tổng hợp Karl Marx – trường ĐH lớn nhất CHDC Đức bấy giờ, giống trường Lomonosov ở Liên Xô thời đó (MGU).
   Sau 2 năm học,  ai học đuối, phải nghỉ học . Đoàn Việt Nam có 2 người trong diện này. Người rớt đã buồn, người được cũng không vui. Tôi lúc đó là tổ trưởng, bèn tìm cách “cứu” hai bạn: tôi tìm những người có trách nhiệm của khoa và trường, trình bày với họ: “- Tụi tôi chỉ biết cầm bút, về phải cầm súng. Nếu về 2 người này sẽ chết vì không quen cầm súng”. Họ giật mình khi nghe nói vậy , bảo sẽ xem xét  lại. Sau một tuần, Trưởng khoa gọi lên, cho phép 2 người đó được ở lại học tiếp, chuyên ngành Sư phạm. Thật hú vía!
 
UYÊN BÁC DO BIẾT “ ĐI HỌC LÉN”
 
   … Học ngành Văn rất hay nhưng muốn thực học thì cực kỳ vất vả vì phải đọc nhiều: từ các tác phẩm văn chương tới các tài liệu, công trình nghiên cứu … tất nhiên toàn bằng tiếng Đức,- Lương Văn Hồng tiếp tục mạch hồi tưởng. Đầu thập niên bảy mươi thế kỷ trước, CHDC Đức đang ở đỉnh phát triển cao nhất về kinh tế, khoa học và xã hội. Họ cũng thí điểm như bên Tây Đức – cho sinh viên chọn học nhiều ngành cùng một lúc.  Năm thứ tư, tôi  chọn Ngôn ngữ  lấy bằng Staatsexamen (bằng quốc gia/ bằng đại học), Sang năm thứ năm, tôi chọn Lý luận Văn học để làm  Diplom-Germanist (các nước tư bản gọi là Master). Chọn phân ngành mới, tôi phải học thêm 3 môn mới : Văn học thế giới , Lý luận Văn học, Phê bình Văn học.  ”
   * Những kiến thức cơ bản  về các lĩnh vực khác như  Âm nhạc, Hội họa… do đâu mà ông có được?
   -  Mình thích học vì ý thức rằng “ chỉ có một lần  học đại học ở nước ngoài” là có điều kiện để học hỏi, thế nên  tôi tìm cách để học thêm. Ngặt nỗi, nhà nước ta lúc ấy quy định sang phải học, song không được học rộng nhiều ngành. Tôi lúng túng khó xử. May sau được nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sang thực tập – ông làm bí thư chi bộ Đoàn Leipzig A (đoàn của sinh viên, nghiên cứu sinh học ở Leipzig), lại trực tiếp chỉ đạo tổ Văn nên tôi được gỡ bí. “Chú Thương” cho rằng  phải học nhiều các ngành vì theo ông, mỗi ngành có cái hay của nó và chúng bổ sung nhau: Triết làm Văn thêm sâu sắc; Âm nhạc giúp Văn giầu nhạc điệu; Hội họa làm Văn giầu  hình ảnh.
   Được lời như cởi tấm lòng, nhờ “chú  Thương” động viên, tôi bèn “lén” đi học thêm – tất nhiên không báo cáo làm gì. Trường ĐH Karl Marx có nhiều khoa, cửa giảng đường luôn mở rộng  cho mọi người vào nghe. Thế là mình trở thành “chuyên gia nghe lén” ở các giảng đường Nhạc, Họa của ĐH Karl Marx. Những chuyên đề về  Lịch sử Âm nhạc, Lịch sử Hội họa… của các giáo sư khiến tôi nghe say mê. Tôi rất yêu âm nhạc, hội họa là vì thế. “Chú Thương” còn mách tôi  một mánh  rất “kinh tế” là bên Đức có chế độ riêng cho sinh viên ngành Văn- giảm giá vé – chỉ lấy 50 xu/vé xem Oper, Operette, Theater (bình thường phải 12 mác mới mua được một vé, mắc 24 lần)! Sau này, tôi viết nhiều về các họa sĩ, nhạc sĩ là vì thế.
   * Có phải do khéo “học lén ”  mà học xong,  ông được giữ lại thêm?
   - Cũng thật tình cờ, do phải đổi đề tài theo đề nghị của bên Đức nên họ gia hạn cho tôi 6 tháng. Tôi không muốn gia hạn nên dốc sức cày cho xong sớm để về phục vụ đất nước. Niên khóa 1973- 1974, Việt Nam cử sinh viên thay mặt sinh viên châu Á để tham gia Hội SV quốc tế của Trường Đại học Karl Marx. Tôi được bầu làm Chủ tịch Ủy ban đoàn kết quốc tế của Hội SV quốc tế  Trường ĐH Karl Marx. Mình làm Chủ tịch nên có điều kiện hô hào SV các nước ủng hộ Việt Nam hơn. Học xong, tôi gửi hết đồ về nước trước, còn mình thì đợi vé về vào tháng 7-1974.   Nhưng rồi  tôi phải ở lại để phục vụ buổi tiệc chiêu đãi tại sứ quán ta nhân 40 năm Quốc khánh Việt Nam.  Sau đó tôi và anh Lâm cùng học được giữ lại thực tập dạy tiếng Đức ở  Học viện Herder.  Thế là tôi ở lại thêm  một năm tới tháng 9-1975, tôi mới về nước. Dạy 3 năm tại khoa Đức ngữ, trường  ĐH Ngoại ngữ HN, nhờ anh Từ Sơn giới thiệu, tôi xin chuyển  vào Nam công tác. Cả họ phản đối vì tôi còn “trai tơ”, vào Nam lúc ấy yêu đương thế nào khó mà biết được. Mọi người quyết định tôi phải cưới vợ xong mới cho đi. May có gia đình bà xã tôi đây, quen nhau hai năm, các cụ đồng ý gả, tôi bán chiếc xe Diamant kỉ niệm nước Đức được   1.700 đồng làm đám cưới, ở quê  hồi ấy cũng hoành tráng ra trò. Tháng 3 năm 1978, tôi vào Khoa Ngữ văn Việt Nam ĐHTH TP HCM, tới 1995 mới chuyển sang nghiên cứu, viết giáo trình  và 1997 mới chính thức giảng dạy  Văn học Đức…
 
HÀNG ĐỘC” CỦA TÔI LÀ NHỮNG ĐẦU SÁCH QUÝ!
 
   Tình cờ gặp ông bên ĐH KHXH & NV, tôi không chú ý lắm tới nội dung câu chuyện xã giao, chỉ nhớ ấn tượng của tôi rằng đây là một người nhiệt tình và bặt thiệp. Sau đó ít lâu, ông gọi điện và gửi  một số bài ông viết. Chúng tôi năng gặp nhau hơn và đàm đạo về học thuật, tôi nhận ra ông  cũng giống tôi ở chỗ cùng là loại “mọt sách”. Chắc ông cũng  nhận thấy tín hiệu “mọt sách” ở ông bạn vong niên nên ông có phần trọng vọng, tặng tối mấy cuốn sách nghiên cứu loại “hàng độc” – sách biên khảo, là những cuốn sách quý, có giá trị cập nhật khoa học mới nhất.
   Tại sao ông quan tâm tới sách chuyên khảo hơn các loại hình khác?
Không chỉ do  mình cũng là loại “mọt sách”. Vấn đề  chủ yếu là ở chỗ người Việt Nam rất thông minh, song thiếu cơ bản và hệ thống. Ít nhất đây cũng là nhận định chủ quan của tôi khi so sánh với những dân tộc khác – như Đức chẳng hạn. Khắc phục nhược điểm này chỉ có cách tăng cường kiến thức cơ bản, mang tính hệ thống: chỉ có những cuốn sách được biên soạn tốt mới giải quyết được!
   Phần ông, tính từ 2000 tới nay, trung bình một năm có 2 đầu sách. Làm cách nào ông viết nhanh được như vậy?
Từ cuốn Lịch sử văn học Đức, tập I ra năm 2000, tập II ra 2002 tới nay, tôi có 15 đầu sách chính. Tôi là người Việt, hồn Việt nhưng làm việc theo phong cách Đức (germanisiert). Nguyên tắc Đức rất đơn giản: Vào ngay việc, có phê phán, phải khách quan (sachlich, kritisch, objektiv). Cuốn Đại cương văn học Đức (2003) chẳng hạn, là cuốn sách duy nhất hiện nay viết về lịch sử văn học Đức từ khởi thủy tới tận 2002 ( mục  cuối  là “Khuynh hướng Văn học Đức từ khi thống nhất đất nước năm 1990 tới 2002”, tr. 247). TS Hòa – trưởng phòng biên tập NXB ĐHQG hỏi: “- Sao ông viết ngắn thế?”. Tôi đáp: “- Tôi học lối viết từ điển nên rất ngắn!”. Khoa học cần ngắn gọn, tôi không thích kéo dài thành những đoạn tán dương dù rất hấp dẫn. Một đồng nghiệp khác - Nhật Chiêu, bảo tôi: “- Anh viết ngắn gọn thế này ai theo được!”.
   Việc khảo cứu, biên soạn mất rất nhiều thời gian, ông làm cách nào cho kịp?
   Tôi bớt thời gian cho các việc khác như nghỉ hưu rồi là không dạy học nữa. Ngay sinh hoạt hàng ngày cũng giản hóa tối đa: có ngày tôi chỉ ăn nhẹ với nho khô để có nhiều thời gian cho công việc.
   Việc đánh máy, nhập vi tính, ông thuê người ngoài hay nhờ con cháu?
   Tôi tự mầy mò học sử dụng vi tính rồi tự đánh máy hết, không thuê ai cả. Năm 1999, ra Hà Nội dự hội thảo Goethe, thấy mọi người dùng vi tính  hết, chỉ mình không – nhục qúa! Mình về bán đồ mua giàn vi tính 1000 USD, còn máy in không có tiền, đành vay lãi ngân hàng mua 400 đô nữa. Con cái chúng bận, tôi mua sách  hướng dẫn đọc, mò riết. Nhiều lúc tôi ghé quầy vi tính, ngó xem họ làm ra sao. Về nhà lại mở máy mò, 10 lần thì phải nhớ…
   Thật đáng khâm phục lòng kiên trì của ông. Bộ Hợp tuyển văn học Đức (Lương Văn Hồng, Triệu Xuân chủ biên) đã ra  tập1 và tập 2 năm 2006 (ngót ba ngàn trang), riêng việc đánh máy nội dung đã đủ mệt, chưa kể việc chọn lọc, biên soạn tài liệu. Hai tập của bộ sách này đã được Bộ VHTT đánh giá là “Bộ sách tốt nhất năm 2006”. Lương Văn Hồng cho biết, đã chuẩn bị xong tập 3 và 4, đang chuyển sang làm tiếp 2 tập cuối – trọn bộ gồm 6 tập.
Ngoài bộ sách trên, ông còn dự định làm gì nữa?
   Tôi đã viết xong mấy cuốn như: Giải Nobel văn học lý giải vì sao tác giả đó được trao giải; Lãng du trong các nền văn hóa bàn về các tác giả , tác phẩm tiêu biểu nhất của một nền văn hóa như Việt Nam phải nói tới Nguyễn Du, Anh phải Shakespeare..;  Tiểu sử-giai thoại 365 danh nhân thế giới- danh nhân cổ kim, đông tây


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 24.9.2014.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

Quay Lên Đầu Trang