Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Henryk Sienkiewicz





LÃNG DU TRONG VĂN HỌC BA LAN






Trước kia Ba Lan là đất nước của nhiều ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo. S au  Chiến tranh thế giới thứ hai và cuộc di chuyển về phía tây tới vùng nằm giữa  đường Curzon và  đường Oder-Neisse khiến Ba Lan trở thành một nước thuần nhất dân tộc: 96,74% tổng dân số tự coi mình là  người Ba Lan (Điều tra dân số 2002). Văn hóa Ba Lan có lịch sử lâu dài hàng nghìn năm, có ảnh hưởng từ cả phương Đông và phương Tây

                         
 
HENRYK  SIENKIEVICZ
    Nhà viết tiểu  thuyết Ba Lan Henryk Sienkiewicz  (1846 – 1916) sinh ngày 5 tháng  năm 1846  ở làng  Wola Okrzejska huyện Lukow trong một gia đình quý tộc Ba Lan.  Ông  viết tiểu thuyết, tiểu luận.    Sau gia đình chuyển về thủ đô Warszawa. Năm 1866 ông vào học ở Đại học Tổng hợp Warszawa. Lúc đầu ông học luật và y khoa, nhưng sau chuyển sang văn và sử. Scienkievicz được dư luận chú ý với tiểu thuyết Phí hoài  (Namare, 1871)   Năm 1876 ông được Tạp chí Ba Lan (Gazeta Polska )cấp tiền cho đi Mỹ để viết một loạt bài về nước Mỹ (tập phóng sự :  Những bức thư trên đường sang Mỹ – Lysty z podrozy do Ameryki, 1882).  Năm 1878 ông trở vế châu Âu viết báo, viết văn và diễn thuyết. Năm 1879, ông trở thành chủ bút một tờ nhật báo.  Scienkievicz nổi tiếng với bộ tiểu thuyết 3 tập  Trận hồng thủy,  Ngài Wolodyjowski,  Bằng lửa và gươm (Potop, 1886;  Pan Wolodyjowski,  1888;  Ogniem i mieczem, 1884) kể về  các sự kiện diễn ra hồi thế kỷ XVII trong thời gian chiến tranh giữa người Ba Lan với với người Cazac, với Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ.  Tiểu thuyết Quo vadis – một tiểu thuyết nói về cuộc đấu tranh của những người Thiên chúa giáo dưới triều đại hoàng đế bạo chúa Nero thời cổ La Mã mang lại cho ông danh tiếng trên thế giới. 
 
 
Không phải cá nhân, mà cả dân tộc
 
    Henryk Sienkiewicz  nói rất có tình có lý trong buổi nhận giải Nobel:
    - Các nhà văn, nhà thơ chính là những người đại diện cho đất nước họ trong cuộc đua rộng mở để giành giải Nobel.  Vì thế giải  thưởng của Viện hàn lâm Thụy Điển không chỉ tôn vinh chính tác giả mà cả dân tộc sinh ra họ.  Đó là bằng chứng rõ ràng rằng dân tộc đó đã đóng góp vào thành tựu chung của thế giới.
 
 
WLADYSLAW  REYMONT
 
    Wladyslaw Stanislaw Reymont (1867 – 1925)   là  nhà văn  Ba Lan. Tên thật của ông là  Wladyslaw Stanislaw Rejment. Ông là con một nhạc công nghèo ở làng quê.  Cậu bé mới chín tuổi Wladyslaw đã am hiểu văn học Ba Lan đương đại.  Reymont vào đời bằng nhiều nghề:  .  diễn viên sân khấu , phụ thợ maycông nhân,  gác ba– ri–e đường sắt . Năm 26 tuổi,  Reymont lên thủ đô Warszawa, viết phóng sự  Hành hương đến Núi Sáng (Pielgrzymka do Jasnei Gory, 1895). Reymont  vào nghề văn bằng tập truyện ngắn Gặp gỡ (Spotkanie, 1897) , phác họa những cảnh nông thôn nghèo khổ ở cuối thế kỷ XIX .  Reymont   phác họa đời sống gay go và đậm màu sắc của các nghệ sĩ sân khấu lang thang trong các cuốn tiểu thuyết Đào hát   (Komedjantka, 1896)  và Chất men  (Fermenty, 1897). Quá trình công nghiệp hóa thành phố Lodz với sự bóc lột thậm tệ và sự cạnh tranh ác liệt giữa bọn tư bản được phản ánh trong bộ tiểu thuyết không có nhân vật chính Đất hứa  (2 tập, Ziemia obiecana , 1898 ) . Tiểu thuyết này là thành công đầu tiên của Reymont trên con đường văn nghiệp.
 
  
 
WISLAWA SZYMBORSKA
 
    Nữ thi sĩ Ba Lan Wislawa Szymborska  sinh năm 1923 ở Bunin (nay là Kõrnik gần thành phố Poznan).  Bà học trung học phổ thông ở Krakow, học văn học Ba Lan và xã hội học ở Đại học Jagiellonian. Sự nghiệp sáng tác của Szymborska  bắt đầu bằng bài thơ  Tôi tìm lời đăng trên báo năm 1945, nhưng mãi 1952, tập thơ đầu tay Vì lẽ này chúng ta đang sống  (Dla tego zyjemy) mới xuất bản. Từ 1952 tới 1996, bà in tất cả 16 tập thơ. Những tập thơ tiêu biểu là   Những câu hỏi cho mình (Pytania zadawane sobie, 1954);  Muối (Salt,1962); Một trăm trò hề (Sto pociech, 1967);  Trường hợp bất kỳ (Wzeclki wypadek, 1972);  Thanh âm, cảm xúc, suy tư: 70 bài thơ (Sounds Feelings, Thoughts: Seventy Poems, 1981);  Những người trên cầu (Ludzie na moscie, 1985); Kết thúc và mở đầu (Koniec i poczatek, 1993);  Cảnh quan cùng hạt cát: thơ tuyển (View with a grain of sand: Selected Poems, 1995).  Thơ của Szymborska được dịch sang 40 thứ tiếng, trong đó có tiếng Đức, Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, Bulgari, Việt Nam v.v.
    Nữ thi sĩ Szymborska đọat giải Văn học Ba Lan năm 1963, giải thưởng Goethe của CHLB Đức năm 1991, giải thưởng Hội Văn bút Ba Lan năm 1996. Thơ của Szyborska tái hiện chân thực một thế giới, trong đó thiện-ác đan xen, giành giật nhau chỗ đứng cả trong tư duy lẫn trong hành động của con người.  Nữ thi sĩ là một nhân cách lớn, đầy trách nhiệm trước những thực trạng các giá trị tinh thần bị đảo lộn, trước nguy cơ suy đồi đạo đức trong cuộc sống hiện đại. Năm 1996 bà nhận giải thưởng Nobel văn học cho 200 bài thơ chọn lọc - phần tinh túy nhất của 50 năm cầm bút.
 

LỜI BÌNH
 
    Người Ba Lan  là một nhóm dân tộc gốc Tây Sla-vơ bản địa của Trung Âu chủ yếu ở Ba Lan, cũng như ở những quốc gia châu Âu và Mỹ khác.Hiến Pháp Ba Lan quy định, quốc gia Ba Lan bao gồm tất cả những người mang quốc tịch Ba Lan. Những cư dân của Ba Lan sống trong các vùng lịch sử sau của quốc gia nàyMột bộ phận lớn người Ba Lan lưu vong sống khắp châu Âu ( Đức Pháp Vương quốc Anh Nga Belarus Litva  và  Ukraina ), châu Mỹ (Hoa Kỳ Brasil  và  Argentina ) và Úc . Năm 1960,Chicago  ở Hoa Kỳ có một cộng đồng dân cư Ba Lan lớn nhất thế giới sau  Warszawa Người Ba Lan là cộng đồng quốc gia lớn thứ 6 trong EUTheo ước tính của nhiều nguồn khác nhau, tổng số người Ba Lan trên khắp thế giới vào khoảng 60 triệu Cũng có những cộng đồng Ba Lan thiểu số sống trong các quốc gia xung quanh như  Đức  và người thiểu số sống ở  Cộng hòa Séc Litva Ukraina , và Belarus .T ổng số người Ba Lan trước đây thuộc Liên Xô vào khoảng 3 triệu. C hỉ có gần 38 triệu người Ba Lan sống tại Ba Lan, nhưng Ba Lan có ba nhà văn thơ Henryk Sienkiewicz, Reymont, Wislawa Szymborska    đoạt giải Nobel văn học- những người vinh danh Ba Lan qua hình ảnh đất nước, cuộc sống bằng văn thơ.
    Henryk Sienkiewicz một trong những nhà văn Ba Lan nổi tiếng nhất trong thế kỷ  19 và thế kỷ 20.  Ông    nhận   giải Nobel  văn học năm 1905   vì những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực tiểu thuyết lịch sử, ông là một trong những nhà văn lỗi lạc trong thể lọai tiểu thuyết lịch sử trên văn đàn thế giới. Viện Hàn lâm Thụy Điển đánh giá:
    -  Henryk   Sienkievicz  là một trong những thiên tài hiếm hoi thể hiện được tinh thần dân tộc.  Ông là hiện thân của tinh thần dân tộc Ba Lan.                 
    Bộ tiểu thuyết sử thi  bốn tập – vừa mang đậm bản sắc văn hóa Ba Lan, vừa có tính điển hình nhân loại- Những người nông dân  (Chlopi, 1904-1909) mang lại cho Reymont sự vinh quang và nổi tiếng, ông được giải thưởng Nobel văn học năm 1924.  Với lối viết tinh tế, giàu chất thơ, Reymont nêu lên sức mạnh bản năng của nhân dân , miêu tả một làng với những con  người giản dị và cục mịch trong quá trình phân hóa xã hội.  Bộ tiểu thuyết lịch sử  ba tập  Năm 1794   (Rock 1794,  1914-1918) làm sống lại thời   kỳ hoạt động của nhà quân sự yêu nước Kosciuszko, người đứng đầu cuộc khởi nghĩa chống chế độ Nga hoàng sau khi nước Ba Lan bị cia cắt lần thứ hai.
    Reymont được đánh giá là nhà văn tiêu biểu nhất của văn học Ba Lan cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Tập thơ Lời kêu gọi đối với người tuyết (Calling out to yeti, 1954) của nữ thi sĩ Ba Lan Wislawa Szymborska  được dư luận lưu ý, vì thơ không trừu tượng, rất cụ thể, dễ hiểu,  ca ngợi hiện thực đất nước, mang phong cách truyền thống Thơ nữ thi sĩ giai đoạn sau tinh tế, hài hước, có cái nhìn lịch sử với khoảng cách, với suy tư nội tâm, việc đặt người anh hùng bên cạnh khung cảnh đời thường, tạo nên sự tương phản. 
    Nữ thi sĩ Szymborska đọat giải Văn học Ba Lan năm 1963, giải thưởng Goethe của CHLB Đức năm 1991, giải thưởng Hội Văn bút Ba Lan năm 1996. Thơ của Szyborska tái hiện chân thực một thế giới, trong đó thiện-ác đan xen, giành giật nhau chỗ đứng cả trong tư duy lẫn trong hành động của con người.  Nữ thi sĩ là một nhân cách lớn, đầy trách nhiệm trước những thực trạng các giá trị tinh thần bị đảo lộn, trước nguy cơ suy đồi đạo đức trong cuộc sống hiện đại. Năm 1996 bà nhận giải thưởng Nobel văn học cho 200 bài thơ chọn lọc - phần tinh túy nhất của 50 năm cầm bút.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 03.8.2014.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA LƯƠNG VĂN HỒNG TRONG VIỆT VĂN MỚI

Quay Lên Đầu Trang