Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Hương Sắc Chân Quê





Thăng Long- Hà Nội nghìn năm tuổi.
Những cơn mưa, cơn nắng
Nghìn năm tụ về
Nắng lửa đổ xuống Hồ Gươm
Mưa ngàn ngập nước
Những cảnh tượng tương phản
Cuồn cuộn xô bồ, Hà Nội phố.

Những người con Việt mang “Hương sắc chân quê” tìm về nguồn cội:

Chợt! Bừng lên tinh khôi
Rực chói vàng son
Siêu hình- chen- huyền bí
Chất ngất tình đời, phiêu bồng nhập thế…
Đây mái cổ, Hồ Gươm, đỉnh tháp
Đa đoan giữa đôi bờ hư thực
Một đời thiên di
Một đời địa vọng
Hồn Việt… thì thầm đâu đây”.

    Bạn thơ Mạc Khải đã viết về triển lãm tranh sơn mài mang tên Hương sắc chân quê của Bùi Ngọc Tư tại Ngô Quyền- Hà Nội vào tháng 7 năm 2010 như thế.
    Hoạ sĩ Bùi Ngọc Tư sinh năm 1936 ở Nam Định. Tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam, ông đã “thiên di” về nhiều miền quê Việt và nay định cư tại Sài Gòn.
    “Một đời địa vọng”, mỗi bước đi, hồn ông hoài nhớ làng quê mình đồng bằng Bắc bộ. Nhớ cô Tấm thảo thơm tung tẩy cắt cỏ chăn trâu giữa đồng chiều. Nhớ các nàng mớ bảy mớ ba, uốn éo những đêm trăng hát chèo, quan họ. Đêm ca trù tiếng trống chầu tom chát buông lơi cửa đình.
    Nhớ “Ba cô đội gạo lên chùa” hồn nhiên, mời gọi “Một cô yếm trắng bỏ bùa cho sư”. Nhớ Thị Kính ôm mối hận tình, áo nâu sòng bồng con đi xin sữa. Nhớ Thị Mầu vắt vẻo ngấm nga ngấm nguýt, lẳng lơ, ngơ ngáo lên chùa tìm chú tiểu.
    Nhớ khúc tỳ bà nàng ấp vào ngực trái bâng khuâng. Nhớ những thiếu phụ nghiêng xiêu chìm nổi giữa ngàn hoa sen. Nhớ phục trang kinh kỳ tha thướt lơ thơ vờn gió. Nhớ khúc hát cửa đình, chàng đắm bên nàng ngà ngọc ngón tay thon. Nhớ hội làng, rồng, lân, tôm cá, hoa lá, quấn gót nàng, lướt dưới trăng khuya. Nhớ khúc đồng dao, chàng và nàng mơ hồ tình tự. Lũ cháu con nhảy nhót vây quanh.
    Nhớ hoàng hôn, những chiều buồn, nàng một mình ngẩn ngơ nghe tiếng hót chú chim ở trong lồng. Nàng nâng sáo dạo khúc tình quê, lưng ong uốn lượn thắm màu son, bay lên cùng tiếng chim bị nhốt, bị giam cầm.
    Nhớ ngày “Vinh qui bái tổ”, nàng đón chàng đêm trắng ngọc sắc màu hồn Việt…
    Nỗi nhớ làng quê ấy, chìm sâu trong hồn, ám ảnh Bùi Ngọc Tư một đời, một kiếp, bỗng bừng sắc vàng son, trầm tích màu thời gian, đường nét hoang sơ, sáng ánh hoa văn nguồn cội Lạc Hồng, trong những bức tranh sơn mài của ông.
    Và hình tượng nàng nõn nường biến ảo cùng ánh sáng, theo bàn tay ông mê đắm mài tranh. Nghệ thuật mài tranh điêu luyện của ông, đã nâng nàng hiển hiện thẳm sâu, bí ẩn, diệu huyền, lộng lẫy và diễm lệ ở bất cứ góc độ nào, bất kỳ khoảng tối nào, trong vũ điệu và sắc màu chân quê, làm say lòng người.
    Bùi Ngọc Tư đắm mê khắc hoạ nàng ẩn hiện nồng nàn giữa hoa sen. Phòng tranh có ba bức sơn mài mang tên “Hương sen”. Nàng ẩn vào hoa sen, hay hoa sen hiện ra nàng, mà nhuỵ vàng bông trắng lá xanh, gần bùn nàng vẫn sáng thơm sắc vàng. Nàng tắm hương sen, ngủ trong hoa sen, thân ngọc uốn lượn thơm ngát sen, nàng ôm hoa sen vân du cùng vũ trụ. Nàng nhảy múa hát ca vũ điệu chân quê trong hoa sen dưới trăng mờ. Hoa sen và nàng. Nàng và hoa sen hoà cùng bản thể, thánh thiện, cao sang mà dân dã trong lành nơi bùn đất ao làng.
    Bùi Ngọc Tư là nghệ sĩ đương đại hiếm hoi, đã hoà cảm vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam khoả thân trong Hoa sen bằng hội hoạ sơn mài, với chất liệu tinh nguyên dân gian Việt.
    Bất kỳ ai được ngắm những bức tranh sơn mài nude của ông, đều “say nồng tình bạn”, thốt gọi tên ông Bùi Ngọc Tư- Hoạ sĩ nhân gian:

Hoạ sĩ nhân gian
Hoạ sĩ đình làng
Anh gọi gió, gọi mây
Tìm sắc màu, hoa văn
Từ ngàn năm, Thiên cổ
Nét tạo hình
Mang hơi thở Thiên Thai…!
Những nhân vật trần ai
Có thằng cò mò cua bắt ốc
Có ả đào khoả thân, xoã tóc
Khúc đoạn tình trong cơn lốc Âm- Dương…
Trần Thanh Toàn- Chicago

    Tranh Bùi Ngọc Tư được trưng bày ở nhiều nước, nhiều bộ sưu tập trên thế giới. Ông Marc Hurner- nhà sưu tầm tranh và phê bình mỹ thuật quốc tế, đã viết về tranh Bùi Ngọc Tư: “Xem tranh Bùi Ngọc Tư người ta không biết chán, cho dù số lượng có nhiều và tràn ngập giới tính trong dáng vẻ nguyên sơ nhất… Việt Nam mở cửa ra thế giới hiện đại, với tất cả những con bài chủ chốt và hỡi ôi! Cũng có cả lệch lạc và thái quá, nhưng cuối cùng chúng ta cũng khám phá được một hoạ sĩ khác thường…”
    Bên bức tranh nude “Tắm trăng” ngây ngất không gian Hồ Gươm, hoạ sĩ Bùi Ngọc Tư nói về nghệ thuật tranh sơn mài:
    “Tranh sơn mài là “Quốc hồn quốc tuý Việt Nam” của ông cha truyền lại, mà sự bí ẩn của nó là nghệ thuật mài sơn. Sơn mài phải tuân thủ nghệ thuật truyền thống, không được bớt xén công đoạn nào, phải vẽ sơn nhiều lần, mài nhiều lớp, soi ngắm nông sâu không biết chán, tạo những điệu tầng sâu dày của sắc màu, đánh bóng nhiều lần. Màu sắc sẽ nổi lên, ẩn hiện vô số lớp, tầng sắc độ huyền bí, sâu thẳm.
    Dùng sơn ta, từ nhựa cây sơn trên vùng núi Phú Thọ. Cây sơn ưa sáng, lớn nhanh, tái sinh dễ dàng bằng hạt, ra hoa tháng tư, cho quả tháng mười một, khả năng đâm chồi mạnh, nhựa chứa độc tố, có người bị dị ứng, đụng vào cây sơn, nhựa sơn, gây ngứa lở. Hiện nay, sơn được trồng nhiều, người ta lấy nhựa chế biến, dùng để vẽ sơn mài, sơn tượng Phật, tượng Thần Thánh Mẫu, đồ gỗ mỹ thuật, đẹp và bền như đồ cổ. Tôi ở Sài Gòn, chỉ cần điện thoại ra phố Hàng Hòm- Hà Nội là có sơn ta gửi vào rất nhanh.
    Hoạ sĩ sơn mài phải tưởng tượng màu sắc hiện ra sau bao nhiêu lần sơn mài, đáp số ra sao? Phủ sơn, ủ khô rồi mài. Sơn mài lớp này, phải đoán lớp sau nữa, độ sâu đậm nhạt, màu sắc ẩn hiện thế nào? Mình phải hình dung rõ ràng.
    Để có được màu ghi của riêng mình, tôi phải lót đen, phủ màu trắng lên, giát bạc, phủ cánh gián… vài lần sơn mài mới ra được màu ghi. Chỉ có cái thằng sơn ta này nó mới đạt được hiệu quả màu sắc đằm sâu, dày đậm, óng ánh. Chất liệu thiên nhiên, tạo màu sắc tinh tuý, mê ảo, dắt người hoạ sĩ theo nó, thả cảm xúc của mình vào sơn mài. Vui miên man.
    Màu sơn mài lắng sâu, tầng này lớp nọ ,màu này chan chứa trong màu khác, mở không gian trong tranh, hút cảm xúc người xem. Nó dẫn con người vào sắc độ gần xa, mờ tỏ, ánh dát vàng nâng lên, ánh sơn thắm đỏ quấn vào, màu đen huyền bí, màu ghi lung linh ánh nõn nà… cuốn ta vào cảm giác khám phá mơ mộng triền miên.
    Một ông Tây ngắm bức “Điệu múa cổ” thấy độ rung ngân âm nhạc, dáng uyển chuyển lưng ong của nàng trong sự hoà điệu màu trầm rất sâu, sắc óng ánh của vàng quỳ và son, màu ghi sáng làn da thiếu nữ… đã kinh ngạc bảo:   “Phải có đầu óc tính toán cao siêu lắm mới làm ra được màu sắc thế này”.
   Tôi trả lời: “Các cụ tôi một chữ không biết.
   Ngày xưa các cụ dùng đá gan gà, để mài tranh, và đánh bóng bằng lá chuối, tóc rối. Với những tranh thiếu nữ, các cụ cho con gái tuổi trăng tròn đánh nhẹ trên ngực, chân mày, chân mắt, gương mặt. Bàn tay các cô đưa đi đưa lại, mềm như múa, đẩy ánh sáng ra bên ngoài, đẩy những lớp màu sâu thẳm chìm vào không gian.
    Đấy là nghệ thuật mài tranh, ủ hương sắc chân quê, hồn Việt, độc nhất vô nhị, mà thế giới phương Tây hiện đại đang ngẩn ngơ đi tìm…”
    Điều thú vị là hoạ sĩ Bùi Ngọc Tư có người vợ đẫm hồn nghệ sĩ dân gian. Chị luôn hát chèo, ca trù, quan họ, lẩy Kiều, hát ru, ngâm Chinh phụ, hát cửa đình, ngâm kinh Phật… cho chồng vẽ tranh.
    Hoạ sĩ Bùi Ngọc Tư nhờ vợ mà biết cầm trống chầu, biết gẩy đàn nguyệt, đàn tranh, biết vẽ hai mươi mốt kiểu khăn của nàng và trang phục mớ ba mớ bảy, yếm đào, nón quai thao.
    Một kiếp sống bên chồng, lang bang đây đó, chị Đoàn Thị Hải đã chuyển cả hồn quê Việt vào tranh của chồng trong nhạc điệu dân gian. Là con gái Ninh Bình say đêm hát chèo thuở mười lăm, nay làm bà, chị vẫn hát, giọng ấm và trẻ như ngày xưa ấy. Cả gia đình chị qui y tại chùa Pháp Hoa- Sài Gòn. Ngày Phật đản quốc tế, Thượng toạ Thích Thọ Lạc thỉnh chị về chùa Đồng Đắc, chùa Bái Đính- Ninh Bình. Chị đã hát lời ca dâng Phật bằng chất giọng dân ca quê lúa Việt Nam, chào đón bạn năm châu.
    Thăng Long- Hà Nội nghìn năm tuổi, chị lăn lộn cùng chồng và các con trai gái, dâu, rể, cháu nội ngoại, triển lãm tranh với chủ đề “Vinh qui bái tổ” tại Hồ Gươm đang nắng lửa mưa tràn.
    Ngắm bức tranh sơn mài lớn của Bùi Ngọc Tư “Hà Nội hương xưa” thắm nền son, nàng cổ cao ba ngấn, ngực trần, yếm trễ lưng ong, ngồi kiệu hoa vui hội rồng, trẻ em, dân phố, cá tôm, tảo xanh Hồ Gươm ca vang nhảy nhót quanh nàng, chị Hải ngâm cho tôi nghe một giọng ca trù:

Ngàn năm văn hiến đất này Thăng Long
Đài Nghiên- Tháp Bút in sóng nước
Cầu Thê Húc tần ngần bao tài tử
Khách văn nhân xao xuyến đã bao lần…

    Giọng hát ấm ngọt của chị vang bên tôi như vỗ về, trao gửi. Bỗng chị nắm tay tôi, chuyển giọng ngâm Chinh phụ:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này…
Đường dong ruổi lưng đeo cung tiến
Buổi tiễn đưa lòng bịn thê noa
Bóng cờ tiếng trống xa xa
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng…

    Giọng của chị càng ngâm nga càng vang ấm, quấn quyện phòng tranh thắm sắc son của chồng. Chị đã thổi bùng những tầng tầng, lớp lớp sắc màu sâu thăm thẳm hồn Việt, trong phòng tranh sơn mài Hương sắc chân quê của Bùi Ngọc Tư, một chiều Hồ Gươm oi nắng.
    Chị mơ màng bảo: “ Mình là cháu mười đời của Đoàn Thị Điểm”.
    Giọt lệ nào vương trong đôi mắt tôi.
    Vâng. Tất cả mọi người đàn bà Việt Nam đều thấm máu và nước mắt Đoàn Thị Điểm. Và mơ:

Thiếp xin chàng chớ bạc đầu
Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung.

Hồ Gươm Mùa Hoa Sen 2010.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 29.6.2014.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn