Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






THẦY GIÁO QUÁCH TẤN






Quách Tấn, tự Đăng Đạo, hiệu Trường Xuân, sinh ngày 4-1-1910 tại thôn Trường Định, Bình Khê, Bình Định (nay là xã Bình Hòa, Tây Sơn, Bình Định).

     Thơ ông thường đăng trên các báo (từ 1932): An Nam tạp chí, Tiếng Dân, Phụ nữ Tân văn, Tiểu thuyết Thứ bảy…
     Trước và sau năm 1975, ông cũng đã có đăng thơ, bài trên các tạp chí, tuần báo xuất bản tại Sài Gòn.
     - Tác phẩm đã in: Một tấm lòng (1939), Mùa cổ điển (1941), Non nước Bình Định (1968), Xứ trầm hương (1969), Đọng bóng chiều (1965), Mộng ngân sơn (1968), Giọt trăng (1973).
     - Tác phẩm đã viết (chưa in) : Bước lãng du – từ Huế đến Phan Rang (1958- 1963), Cảnh cũ còn đây (1958 – 1963), Đôi nét về Hàn Mặc Tử (1971), Đôi nét về Bích Khê (1971), Giàn hoa lý (1973 – 1979). Ông mất vào ngày 22 tháng 12 năm 1992 tại Nha Trang.
     (Theo Từ điểm văn học, tập 2, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1984).
Quách Tấn là một nhà thơ, nhà biên khảo; điều đó tất cả chúng ta điều biết rất rõ, bởi vì ông đã làm thơ, có thơ giới thiệu trên các báo rất sớm; là một trong những nhà thơ có uy tín của Việt Nam từ những năm 1940, và là một trong “tứ trụ”  cuả xứ thơ Bình Định (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan, Quách Tấn). Nhưng, có lẽ, vẫn còn ít người biết ông là một nhà giáo - người thầy có nhiều nhiệt tình với công tác giáo dục, rất nặng lòng với sự tiến bộ, trưởng thành của thế hệ trẻ.
     Vào khoảng năm 1948, sau khi dự Đại hội Văn hoá toàn quốc ở thủ đô Hà Nội về, ông đã dời tản gia đình từ Nha Trang về lại quê nhà là thị trấn Phú Phong (Bình Khê, Bình Định).
     Cuộc kháng chiến chống Pháp trong toàn quốc đã bắt đầu. Mọi người đều tùy sức lực, khả năng tham gia kháng chiến giữ nước, giành độc lập. Quách Tấn đã tham gia nhiều công tác ngay trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến. Tuy vây, có điều làm cho Quách Tấn suy nghĩ, ưu tư nhiều lúc này là số học sinh sau khi qua khỏi bậc tiểu học, đã nghỉ học  rất nhiều. Toàn tỉnh chỉ có một trường trung học, số học sinh nhận vào hạn
chế, đa số con em gia đình nghèo đều không thể tiếp tục đi học khi phải sống xa nhà, thêm tốn kém.
     Năm 1948, Quách Tấn đã cùng nhà giáo Nguyễn Đồng - là một người bạn thân, xin mở các lớp đầu của bậc trung học. Ý nguyện xây dựng , đóng góp của hai ông đã được chấp thuận.
     Quách Tấn liền soạn thảo tấm bảng quảng cáo cho ngôi trường trung học đầu tiên ở Bình Khê như sau:
                             “Quách Tấn và Nguyễn Đồng
                             Có mở tại Phú Phong
                             Nhất, nhì niên hai lớp
                             Bậc trung học phổ thông
                             Ai có tiền thì trả…
                             Không tiền thì học không!
                             Chỉ mong lòng chẳng phụ
                             Danh con cháu Tiên Rồng”.
Tờ “thơ bích chương” trên đã được phổ biến rộng rãi, học sinh đều thuộc, và cả các bậc phụ huynh cũng… đều thuộc lòng.
Qua một năm hoạt động có hiệu quả tốt, được giới trẻ trong huyện hưởng ứng, năm 1949, Quách Tấn đã cùng thân hữu xin mở một trường trung học phổ thông hẳn hoi; ông được đứng tên hiệu trưởng. Ngôi trường  nhỏ nhắn này có tên “Trung học Mai Xuân Thưởng”, tọa lạc tại thôn An Chánh, xã Bình An, Bình Khê.
Nhà trường đã thu nhận số đông học sinh ở trong huyện, các huyện lân cận (An Nhơn, Phù Cát, Vĩnh Thạnh…) và đặc biệt, có cả học sinh ở tỉnh Phú Yên cũng đến học.
Tuy mới mở, nhưng nhờ những tấm lòng nhiệt tình của nhiều thầy – nhất là thầy hiệu trưởng Quách Tấn, nhà trường đã hoạt động rất nề nếp, nội quy được tôn trọng rất nghiêm, các thầy giảng dạy rất tận tâm (tuy phần lớn nhận lớp vì nghĩa vụ). Ngoài chương trình theo chủ trương chung của tỉnh, nhà trường còn đặc biệt quan tâm rèn luyện lòng yêu nước, yêu văn học, hấp thụ hào khí các anh hùng Quang Trung, Mai Xuân Thưởng (là những người được sinh ra và lớn lên ở trong huyện).
Ngày khai giảng của trường đã được tổ chức đơn giản, nhưng thật khó quên : Cạnh bàn thờ Tổ quốc là một án thư có khói trầm nghi ngút tỏa hương; đặt bên chồng sách cao là một thanh kiếm. Ý nghĩa “thư kiếm” được tôn trọng, nhắc nhở cho tất cả “môn sinh” nhớ rằng, muốn cứu nước, giúp dân, cần phải có “văn võ song toàn”.
Ngôi trường nằm bên bờ sông Côn, dưới chân dãy Hương Sơn - đồn lũy của nghĩa binh Mai Xuân Thưởng ngày trước; tuy bé nhỏ, đơn sơ là thế, mà đã để lại biết bao ấn tượng sâu sắc trong lòng mọi người. Một nhân sĩ ở địa phương đã cảm tác:
Rộng rãi ba gian trung học đường
Nương dòng Côn thủy, tựa non Hương
Rèn tâm trí trẻ nên son sắt
Mong ước nhà sau vững cột rường
Lũy cả gió đưa mùi chính khí
Non dài sóng dợn thức văn chương
Ngàn năm rỡ mặt Mai Xuân Thưởng
Đất nước lồng treo một tấm gương”.
Năm 1951, theo chủ trương chung, các trường trung học tư phải ngưng hoạt động (chỉ duy trì các trường công). Trường Trung học Mai Xuân Thưởng của Quách Tấn và bạn hữu ngưng hoạt động từ ấy. Các thầy của trường được mời về dạy ở các trường công: Trung học An Nhơn, Bồng Sơn, rồi Bình Khê… Quách Tấn đã nhận dạy thêm giờ Hoa ngữ… Dù dạy ở bất kỳ môn học nào, ở lớp nào cũng vậy, Quách Tấn luôn luôn giảng dạy với tất cả niềm hăng say, nhiệt tình cao. Ông luôn luôn chú tâm dạy đi đôi với kiến thức là lòng yêu nước, lòng quý trọng văn chương, tinh thần “tôn sư trọng đạo”… Tất cả học sinh được học ông đều rất quý mến, gần gũi thân thiết và kính trọng ông.
Trong những phút “giờ ra chơi” hay được gặp ông tại nhà, Quách Tấn thường đọc, giảng thơ cho học sinh nghe. Có bài ngũ ngôn chỉ có 4 câu, có lần, ông đã bảo rằng, đã hoàn thành nó trong… 4 năm ! Trong việc giảng dạy ở lớp, ông là một thầy giáo rất nghiêm túc, nhưng trong lúc  mạn đàm thơ  văn – trong giờ phút ấy, ông lại rất cởi mở, phóng khoáng, không một chút cố chấp. Một lần, ông hào hứng đọc cho đám học sinh nghe một bài tứ  tuyệt “vừa mới làm xong là các em đến chơi”, một anh trong đám xin sửa lại một chữ. Ông đọc lại, ngẫm nghĩ. Và ông rất vui vẻ chấp nhận sửa đổi lại theo ý của cậu học trò!
Năm 1967, Quách Tấn được thỉnh giảng về môn văn học cổ điển ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Ông đã tham gia giảng dạy một thời gian, nhưng vì ở xa (Nha Trang), lại bận việc trước tác, nên ông chỉ nhận lời thỉnh thoảng đến nói chuyện về các đề tài văn học…
Năm 1973, Quách Tấn có gửi cho tôi tập thơ “Giọt trăng” (được nhà thơ Thi Vũ in ở Paris - Pháp) với dòng đề tặng : ”Mến tặng… người đồng hương, đồng nghiệp”. Tôi chỉ xin nhận hai chữ “đồng hương” bởi vì chánh trú quán của tôi là Bình Khê, Bình Định. Còn hai chữ “đồng nghiệp”, tuy lúc đó tôi có dạy học và cũng có viết lai rai, tôi đã xin gửi lại ông.
Những ngày cuối năm 1992, Quách Tấn mất. Tôi chỉ được đọc tin, bài trên các báo; không đến kịp (hay không đến được!) để tiễn đưa ông lần cuối. Mỗi lần nhớ, nghĩ về ông, tôi rất ân hận. Tuy hiểu được rằng “vạn vật là vô thường” nhưng sao tôi vẫn thấy lòng bùi ngùi, khi  nhớ   đến những lần  hội ngộ trước  đây  nơingôi nhà xinh xắn phủ mát bóng cây… Ngôi nhà số 10 đường Bến Chợ (TP Nha Trang) ấy nay vẫn giữ nguyên dang vẻ trầm lặng, yên ả cũ. Nhớ những lần từ Tuy Hòa vào Nha Trang, hai địa chỉ ưu tiên phải đến là 37 Hồng Bàng (nhà của Võ Hồng) và số 10 Bến Chợ. Tôi đã nhận được từ hai người bạn Văn vong niên ấy nhiều niềm khích lệ, và an ủi. Phút này, tôi… xin ghi lại câu chuyện “Quách Tấn, một nhà giáo” như thắp muộn một nén hương để tưởng nhớ ông…
    (Giác Ngộ số 118 ngày 15-11-1995)
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Bình Định ngày 26.6.2014.