Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Đọc “Thăm thẳm miền sông”
tập bút ký của Dương Phương Toại
– Nxb Văn học – 2012.

SOI THẤY MÌNH TRONG

“THĂM THẲM MIỀN SÔNG”





    Có lẽ tôi cần phải trích ngang một số thành tựu văn học của Dương Phượng Toại để bạn đọc thêm sáng tỏ về một cây bút nông dân đang hoạt động sáng tác VHNT ở Hội VHNT Quảng Ninh.

Dương Phượng Toại – Cẩm Phượng, hội viên Hội VHNT Quảng Ninh, sinh năm 1950, sinh trú quán tại xã Cẩm La, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Tác phẩm đã xuất bản: “Tiếng còi gốc rạ” tập thơ (1997), “Làng bây giờ” tập truyện và ký (2005), “Người đàn bà cọp vồ” tập truyện ngắn (2008), “Cánh đồng & ngọn lửa” tập thơ (2009), “Lục bát sóng đôi” tập thơ (2010), “Khát vọng Bạch Đằng” tập thơ (2010), “Thăm thẳm miền sông” tập bút ký (2012). Các tác phẩm trên đều xuất bản tại NXB Hội Nhà văn và Văn học. Ngoài ra còn có tác phẩm in chung ở 13 tuyển thơ văn của trung ương và địa phương, thường xuyên có bài đăng trên báo chí cả nước. Được nhận 8 giải thưởng văn học, trong đó có giải “Văn nghệ Bạch Đằng giang” Yên Hưng lần thứ nhất (2005-2010), hai lần giải Văn nghệ Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh.

Có phải vì quá yêu mảnh đất này mà trong tôi cứ mãi một niềm đau đáu: Bạch Đằng giang – Một miền quê của sử thi, sông nước trăng thơ. Mỗi tấc sông thăm thẳm một bầu trời thơ, một áng văn vô tận. Mỗi tấc đất một sắc màu huyền thoại, một câu chuyện kể đến muôn sau.Tât cả đã ủ men, lắng sâu thành trầm tích và chưng cất trong tôi thành xạ hương” (Dương Phượng Toại). Lời tâm huyết ấy đã thấm lên từng trang tập bút ký “Thăm thẳm miền sông”.
Trong văn của Dương Phượng Toại có thơ, có nhạc, có hồn sông núi, có tình người sâu thẳm và có cả nước mắt mồ hôi… đã thuyết phục tôi chìm vào 230 trang sách. Tình đất, tình người nơi quê hương “Thăm thẳm miền sông” đã chiếm hết tâm hồn tôi mà không nghĩ mình đang đọc trang bút ký văn học của anh. Tâm huyết của anh đêm đêm trào lên ngọn bút đã thấm sang lòng tôi như thế trong một đêm hè nóng lửa trên châu thổ Sông Hồng thân thương.
Ba mươi hai bài viết theo thể bút ký, ký, tuỳ bút, truyện ký, tản văn làm nên tập bút ký “Thăm thẳm miền sông”, mang sắc thái nhiều của bút ký văn học. Tác giả đã khai thác vào nhiều đề tài từ lịch sử, địa chí, văn hoá, con người cải tạo thiên nhiên để tồn tại, tự sự về mình, gia đinh, dòng họ… và quá trình dựng nước giữ nước của quê hương. Nhưng tất cả chỉ tập trung vào một chủ đề nơi quê “Thăm thẳm miền sông” – đất và người An Bang, vùng sông Bạch Đằng đã từng mang các địa danh trong tiến trình lịch sử từ khi mở đất đến nay: Trại An Hưng, tỉnh Quảng Yên, huyện Yên Hưng, thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh. Miền đất được tạo ra từ phù sa trầm tích của sông Bạch Đằng lịch sử, nơi có chiến thắng của Ngô Quyền chống quân Nam Hán, nơi có trận địa bãi cọc Bạch Đằng giang của Trần Hưng Đạo thắng Nguyên Mông, nơi thuộc chiến khu Đông Triều bất khuất trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nơi có trận địa đánh thắng thuỷ lôi và không quân của giặc Mỹ xâm lược thời hiện đại, nơi có sự nghiệp cách mạng to lớn về xây dựng nông thôn mơi…, nơi có hình sông thế núi như bức tranh thuỷ mặc. Dòng sông Chanh thơ mộng chia hai bờ: Hà Bắc miền đất bằng màu mỡ nằm ở chân dãy núi Yên tử kéo dài. Hà Nam – Một hòn đảo thấp hơn mực nước biển 3-4m, chứa hơn sáu vạn dân được bao bằng 34km đê biển, đã được 24 vị Tiên Công từ thành Thăng Long và một vài nơi khác về đây mở đất cách nay khoảng hơn 600 năm. Có thể nói tập bút ký “Thăm thẳm miền sông” của Dương Phượng Toại như một cuốn văn sử - địa chí của đất và người thị xã Quảng Yên từ khi mở đất đến ngày nay. Các nhà nghiên cứu lịch sử, các nhà giáo chốn học đường, bạn đọc ai muốn thông tỏ miền đất này hãy tìm đọc Dương Phượng Toại với “Thăm thẳm miền sông”.
Những tên gọi “Quảng Yên – Bến Ngự - Sông Chanh”, “Người Thăng Long bên sông Bạch Đằng”, Bạch Đằng đất sông quê”, “Trăng về làng cát Tân An”, “Yên Đông làng Việt cổ”… cứ gợi lên trong tôi bóng dáng những người đi mở đất, giữ đất, những người lăn lộn trên cửa sông cửa biển, trên những cánh đồng… Họ là những thảo dân từ châu thổ Sông Hồng gánh các cuộc binh đao đi ra phía biển để lấp đầy bóng tối, để được những mùa vàng. Đọc các trang bút ký, ta như đằm vào những trang thơ văn xuôi: “…Bạch Đằng giang! Thăng trầm của đất và nước, của biển và rừng đã lắng sâu trong bao thời bồi tụ, nở bung lên những những bờ bãi một vùng rừng ngập mặn, một tấm gấm xanh sau đêm dài dòng sông thay áo, sớm mai ra hồng rực sắc phù sa. Dòng sông quanh quanh buộc lấy bao đời tổ tiên, ông bà ông vải, cha mẹ với chúng tôi. Dòng sông như mang một sắc vị riêng, một vẻ anh linh riêng của nước do trời rót xuống ban cho một triều đại mà khí thiêng sông núi vẻ vang đến nghìn thu sau vẫn còn sáng chói như những áng thơ văn vẫn ấp ủ trong dân gian. Tôi vốc lên ngụm nước để đọc lại trang sách lịch sử tuổi học trò đình làng. Với tôi dòng sông vẫn trắng vẫn thơm tinh khiết của dáng xuân mới bắt đầu nơi ngực em thời thiếu nữ. Đến nỗi tôi chợt nhớ tới một hình ảnh thời chống Mỹ: có một chàng nhạc sĩ Hà thành đất Thăng Long từng cất công hàng dặm đường xuống tận nơi múc nước sông đóng vào chai mang về khoe với bạn bè phố cổ một làn nước sông Bạch Đằng!...” (Tr. 189 - Bạch Đằng đất sông quê). Lối viết bút ký của Dương Phượng Toại có chỗ mang hình tượng sân khấu nhân gian lúc hiện lúc mờ khiến ta như sa vào cổ tích một dòng sông. Đây là một đoạn khiến ta không khỏi suy ngẫm: “Tấm màn sương khép lại trong làn hương thơm ngát và khói sóng sộng Bạch Đằng toả trắng. Sân khấu đêm trăng đã thay cảnh. Bến đò và túp lều cỏ không còn nữa. Thế vào là một bức tranh sắp đặt với con đường lát kè đá, với bức tường hoa một công viên ôm quanh ngôi đền mái ngói đỏ sẫm dưới tán cây quếch. Bên tai tôi vẫn còn dư âm câu chuyện trong lều cỏ, trong tiếng thuỷ triều đang dâng rào rạt ngoài cửa sông. Nếu không có lịch thuỷ triều ngày đó của bà hàng nước, không biết dòng sông này có nổi danh, có đầy ắp sử thi và ánh trăng mộng mỵ thế kia không ?...” (Tr 216 – Miên man theo dòng huyền thoại).
Điểm qua mấy đoản văn như vậy để chứng tỏ Dương Phượng Toại đã thoát khỏi lối viết kể lể, những dãy số liệu dài dặc mang tính thống kê mà bút ký của anh được nuôi dưỡng bằng những hình ảnh, ngôn ngữ văn học nóng hổi hơi thở cuộc sống và những sự kiện tâm hồn. Tôi cho rằng chỉ viết về một vùng quê, mà anh khai thác được nhiều thứ quá với bao nhiêu chi tiết, với bao sự kiện, có số phận con người, có tiến trình trầm tích đất đai và thăng trầm lịch sử xã hội… vẫn hấp dẫn người đọc đến trang cuối cùng. Đây là thế mạnh văn chương của anh trong “Thăm thẳm miền sông”. Anh đã thuyết phục và mê dụ người đọc bằng những áng văn chương.

*****

Là một kỹ sư ngành Thuỷ lợi Quảng Ninh từ năm 1961-1991, một thời xuân sắc nhất của đời tôi gắn bó với sự nghiệp “Tam nông” của tỉnh Quảng Ninh, trong đó có huyện Yên Hưng nay là thị xã Quảng Yên. Xin nói với nhà văn Dương Phượng Toại cái gì anh nói về mảnh đất con người ở đây tôi đều biết cả. Nhất là qua bút ký “Vùng quê ba cuộc đổi đời”. Nhưng may thay anh đã nói đúng đến “bốn con chín phần nghìn” rồi, nên tôi không nhắc lại những chi tiết, những sự kiện, những làng quê, những mảnh đất anh đã đưa vào trang viết. Từng mét đê, từng chỗ chân đê bị dòng xâm thực, từng bãi sú Tiền Phong, từng đàn lợn nuôi bằng củ năn và con rạm khi mùa gió chướng, chia từng bát nước chống khát cho cụ già em nhỏ, từng cơn bão tôi có mặt cùng dân phòng chống lụt… tôi đã được góp phần nhỏ nhoi và thấm giọt mồ hôi ở vùng quê Bạch Đằng giang ấy.
Đặc biệt vinh dự, tôi là cán bộ đã trực tiếp làm phân tích hoá nghiệm nguồn nước, thí nghiệm cơ học đến từng hạt đất nhỏ hơn hai phần nghìn mi li mét để phục vụ thiết kế, thi công hồ chứa nước Yên Lập – nay là công trình thuỷ nông Yên Lập. Đã đã trực tiếp tham gia hạ thuỷ xi phông Sông Chanh đưa nước ngọt về nuôi 6 vạn dân đảo Hà Nam. Được trực tiếp khảo sát, thiết kế thi công công trình khai hoang Phạm Hồng Thái, Sông Khoai, đê Hoàng Tân, và là một trong 4 kỹ sư trực tiếp khảo sát thiết kế thi công cầu máng Cẩm La. Tuy hôm nay là một cầu máng nhỏ nhưng lúc đó là một cầu máng dẫn nước thuỷ lợi to nhất tỉnh và miền Bắc. Anh Đoàn Văn Diễn, anh Tố Như, anh Nguyễn Đức Trọng hôm nay đã thành người thiên cổ. Còn một mình, hôm nay đọc bút ký của Dương Phượng Toại tôi như người đang đứng dưới chân cầu máng Cẩm La mà bùi ngùi nhớ lại!
Anh Dương Phượng Toại và bạn đọc thông cảm, đừng cười chê tôi tự phụ nhưng từ đáy lòng tôi thấy đời mình thật hạnh phúc vì đã góp phần nhỏ bé để bát cơm thêm đầy, có bát nước lã trong sạch chống khát cho hàng vạn nông dân Quảng Yên. Vì văn chương một phần, vì tình cảm cá nhân tôi có nhiều kỷ niệm sâu sắc với mảnh đất con người ở đây mà tôi đã nuốt từng chữ “Thăm thẳm miền sông” và soi thấy hình bóng mình trong ấy. Tôi như được sống lại thời gian công tác những ngày xa ấy của tôi trong “Thăm thẳm miền sông
Trở về với “Thăm thẳm miền sông” văn chương của Dương Phượng Toại - Một “Lão nông tri điền”, một nhà văn mà tôi thực sự rất quý trọng. (Cho đến bây giờ theo tôi được biết, là một cán bộ văn hóa, là một người viết báo khá chuyên nghiệp và một nhà văn nông dân hoạt động ở cơ sở, không hề được hưởng lương nhà nước). Tôi nghĩ anh còn là nhà nghiên cứu văn hoá dân gian nữa. Là người đọc bình thường, tôi mong tiếp tục được đọc những trang văn tâm huyết như thế của anh.


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Thái Bình ngày 25.6.2014.

Quay Lên Đầu Trang