Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

nhà thơ Trần Nhuận Minh


NHÀ THƠ TRẦN NHUẬN MINH:

"ĐÁNH CƯỢC CUỘC ĐỜI MÌNH VÀO TÁC PHẨM”






LTS: Vừa qua, tại Hội trường UBND tỉnh, nhà thơ Trần Nhuận Minh được mời nói chuyện về thơ và cách tân thơ từ truyền thống với các bác Câu lạc bộ hưu trí Thái Nguyên, buổi chiều nhà thơ có cuộc trao đổi về công việc của người làm thơ với các bạn đồng nghiệp của Hội VHNT Thái Nguyên tại Trụ sở của Hội. Nhân dịp này, Phóng viên báo Văn nghệ Thái Nguyên có cuộc chuyện trò với nhà thơ

    - Người ta nói, thường thì nhà thơ nào cũng phải có một lần quyết định mình sẽ là nhà thơ. Với ông thì sao?

Nhà thơ Trần Nhuận Minh: Trước đây, chỉ khi nào bạn được công nhận là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ở loại hình nghệ thuật thơ, lúc ấy bạn mới được gọi là nhà thơ. Với quan niệm này, tôi là “nhà thơ” từ đầu năm 1982. Tôi có danh sách được xét kết nạp từ 1980, sau giải văn học công nhân của Tổng Công đoàn Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ Âm điệu một vùng đất, do nhà thơ Xuân Diệu làm Trưởng ban chung khảo thơ và giải văn học thiếu nhi của Ủy ban Thiếu niên nhi đồng Trung ương và Hội Nhà văn Việt Nam, cho tập truyện vừa Trước mùa mưa bão do nhà văn Tô Hoài làm Trưởng ban chung khảo. Thời ấy, thấy ai có thể là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, thì ban Nhà văn Trẻ của Hội mới gợi ý làm hồ sơ để đề nghị xét kết nạp. Hồ sơ của tôi do nhà thơ Xuân Diệu và nhà thơ Phạm Tiến Duật kí, nhà văn Lê Xuân Giang, cán bộ ban Tổ chức, để thất lạc, nên căn cứ vào cái thư giới thiệu tôi của nhà thơ Tế Hanh gửi lại nhà văn Nguyễn Đình Thi, Tổng Thư kí của Hội, trước khi bay sang Pháp, để chữa mắt dài hạn, đã được nhà văn Bùi Hiển, ủy viên Thường vụ Thường trực, Trưởng ban Tổ chức của Hội khi đó, đọc tại Hội nghị Ban chấp hành. Tôi không nhớ ai đã thông báo cho tôi biết điều này, hình như là nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, Trưởng ban Nhà văn Trẻ, thày dạy tôi ở Trường Viết văn trẻ Quảng Bá, khóa học năm 1972 - 1973 và văn bản đó được coi là lời giới thiệu thứ nhất ( cho lần 2). Tôi xin nhà văn Huy Phương 2 tờ giấy, viết mỗi tờ có một mặt giấy, làm luôn hồ sơ tại Hội Nhà văn, và may thay, nhà thơ Bằng Việt mà tôi rất yêu mến, có mặt ở đó, vui vẻ kí giới thiệu, thế là xong. Văn bản để tôi là “ nhà thơ” cũng không được in và làm lễ trao rất “oách” như hiện nay. Chỉ là một nửa ( ½) tờ giấy “ pơ-luya” rất mỏng, nhận qua bưu điện, đánh máy mấy chữ: “ Ban Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, thông báo cho đ/c biết, đ/c đã được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, là Hội viên dự bị của Hội, tại phiên họp toàn thể Ban chấp hành, ngày 19/ 02/ 1982”. Ở dưới kí tên: “Bùi Hiển, ủy viên Thường vụ Thường trực Hội Nhà văn Việt Nam”. Hai năm sau, nhận được thông báo là “hội viên chính thức” cũng đơn giản như vậy. ( Sau này Điều lệ Hội bỏ “Hội viên dự bị” nên được tính tuổi Hội từ ngày kết nạp đầu tiên). Tất cả có vậy thôi. Bây giờ khái niệm “nhà thơ’ được mở rất rộng. Theo tôi cũng là điều rất hay, vì thêm một nhà thơ là thêm một người lương thiện và thơ ca là sự đinh dưỡng trong tinh thần nhân văn và giá trị thẩm mĩ của dân tộc. Và như thế, tôi cứ làm thơ hết lòng mình, còn việc trở thành nhà thơ, là tự nhiên “nó” đến, như cái quả tự chín trên cây mà thôi. Tôi chả có quyết định gì. Chỉ có một cái quyết định lớn nhất là “Phải cố gắng làm thơ cho hay theo kiểu của mình” thì mình lặng lẽ chí thú với mình thôi, nay tự nói ra đây là lần đầu tiên, xin được các bạn cảm thông. Bởi làm được điều đó khó lắm lắm. Tôi cũng không dám chắc.

     - Có thể nhà thơ không [muốn] khẳng định về cái quyết định ấy của mình, nhưng các tác phẩm đã khẳng định thay cho tác giả của nó. Tôi muốn được nói về những tập thơ của ông. Có những tập thơ của Trần Nhuận Minh (Nhà thơ và hoa cỏ, Bản Xônat hoang dã, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh, Miền dân gian mây trắng...) mà nếu đặt chúng lại cạnh nhau thì người đọc sẽ hết sức ngạc nhiên vì sự khác biệt trong một tác giả?

Nhà thơ Trần Nhuận Minh: Tôi có ý thức cố gắng tự làm đa dạng mình, 4 tập thơ mà bạn kể trên, tôi muốn được coi là 4 cặp mắt khác nhau nhìn ra xã hội, đồng thời lại nhìn vào chính lòng mình, để hi vọng phát hiện ra cho được những vấn đề khác nhau của đời sống và tâm trạng của chính mình như nó vốn có. Nhà thơ Vũ Quần Phương đã có lần nhận xét về thơ tôi là đi đến tận cùng con đường này thì phải tìm mà rẽ sang một con đường khác. Có lẽ vì thế chăng mà thơ tôi năm nào cũng được tái bản. Tập Nhà thơ và hoa cỏ in lần thứ 20 năm ngoái, năm nay in lần thứ 21. Tập Bản Xônat hoang dã in lần thứ 11 năm ngoái, năm nay in lần thứ 12. Còn 2 tập sau là 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danhMiền dân gian mây trắng đã in lần thứ 5. Và vì thế, trong 17 tập thơ đã xuất bản của tôi, tôi thực sự coi mình chỉ là tác giả của 5 tập thơ mà thôi. Tập thứ 5 là Cánh rừng đã bay về trời. Tập này là tổng hòa các xu hướng sáng tác của 4 tập thơ trước, như một cái Vĩ Thanh, in năm 2012, dự định sẽ được tái bản hoàn chỉnh hơn vào năm 2015. Tôi đã nói có lẽ đây là tập thơ xuất bản cuối cùng của tôi. Bởi tôi cho rằng: Nếu viết không có gì khác ( không dám nói là hay) thì tốt nhất là không nên viết, mà đã viết rồi thì tốt nhất là không nên cho in ra. Cách làm này rất lí thú, nhưng có một cái rất khó là nếu anh không dày vốn, không có nhiều “trò”, tức là các thủ pháp nghệ thuật khác nhau, thì anh sẽ chỉ tự pha loãng thơ mình mà thôi.

   - Đa dạng nhưng không pha loãng mình. Nhiều con đường nhưng thực chất là một con đường. Tôi nghĩ, dù thế nào thì vấn đề của một người viết vẫn là đích hướng. Nhân đây, tôi muốn ông chia sẻ về vấn đề này: Có người xác tín rằng mỗi nhà thơ phải thuộc về một dân tộc; Nhưng cũng có người thẳng thừng gạt đi, rằng cái mác đó thực chất không quan trọng, vấn đề là ở sự khám phá con người. Tôi có nên hiểu điều đó như một mâu thuẫn không, thưa nhà thơ?

Nhà thơ Trần Nhuận Minh: Tôi thuộc cả quyển Kiều của cụ Nguyễn Du từ năm lên 10 tuổi, do bà cô ngoại tôi là bà đồng Xuân, một người mù bẩm sinh, em ruột ông ngoại tôi, làm nghề bói toán, nuôi tôi, dạy truyền khẩu cho tôi, trong những đêm bà không ngủ được, từ năm tôi còn 4 - 5 tuổi. Lớn lên, tôi thấy quyển Kiều thuần Việt: “ Ngổn ngang gò đống kéo lên/ Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay...”. Sang Trung Hoa, tôi lại thấy quyển Kiều của cụ Nguyễn, Trung Hoa không thể nào Trung Hoa hơn được: “Người lên ngựa, kẻ chia bào/ Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san...” Rồi nữa, nhà thơ Raxun Gamratôp, người Đaghextan ở trên núi cao, dân tộc chỉ có mấy ngàn người, mà thơ ông được cả thế giới tìm đọc. Điều đó dạy tôi một bài học: Hãy bắt đầu đi từ chỗ dân tộc mình đi. Còn chỗ đến, phải đến với toàn nhân loại. Tất nhiên hiểu được thế đã khó, nhưng làm được thế thì còn khó lắm lắm. Vậy thì hãy cứ cố gắng... Nhà phê bình nghiên cứu văn học Phong Lê nhận xét thơ tôi có 3 lần định vị, một là từ Nông dân đến với giai cấp Công nhân, hai là từ giai cấp Công nhân đến với Nhân dân và ba là từ Nhân dân đến với Con người. Vậy nên, thưa bạn, điều bạn quan tâm là chặng đường đi lên tất yếu của mọi nhà thơ, không của riêng tôi đâu, hoàn toàn không có gì mâu thuẫn với nhau cả.

   - Tôi rất tâm đắc và chia sẻ về điều đó. Như vậy, vấn đề còn lại của một nhà thơ là anh đi trên con đường đó thế nào mà thôi. Ai đó đã tiếc nuối, rằng nhiều thi tài đã bị làm hỏng bởi những bài thơ chính trị có dụng ý tốt. Ông nghĩ sao nếu người ta cho rằng cần phải có một cự li nào đó?

Nhà thơ Trần Nhuận Minh: Đã là “thi tài” thì không bao giờ bị làm hỏng cả. Tố Hữu suốt đời chỉ làm thơ chính trị, vậy mà thơ ông có nhiều bài hay. Tất nhiên con cá bơi trong nước mặn sẽ không bơi được trong nước ngọt. Vì thế, nếu “cần phải có một cự li ” nào đó, như bạn nói, thì chỉ là, tự xác định mình, nếu biết mình là cá nước mặn thì đừng bơi vào vùng nước ngọt mà làm gì. Cái nghề này, bạn ơi, thường thì nó “chọn” mình, chứ mình không “chọn” nó được đâu. Có “chọn” nó, cũng khó mà “thủy chung” với nhau được. Nó đỏng đảnh và nghiệt ngã lắm. Ít nhất là tôi cảm thấy cay đắng mà nhận ra như thế.

   - Nghĩa là chúng ta vẫn phải chọn dòng bơi, tránh dòng bơi sao? Ông có cho rằng một nhà thơ có thể viết được ra hầu hết mọi vấn đề của mình không? Đã bao giờ ông không thể diễn đạt nổi một điều gì đó trong mình chưa?

Nhà thơ Trần Nhuận Minh: Ai cũng có sở đoản và sở trường. Người được coi là có tài, là thành đạt, chính là người đã tự nhận ra cái sở trường của mình và được phát triển mình từ chính cái sở trường đó. Nếu là một cái nồi áp suất thì dưới nhiệt độ thường có thể ninh nhừ tất cả các loại xương. Còn đã là các lò nung, thì ở Thái Nguyên, bạn biết đấy, có thể nung chảy tất cả các loại sắt thép. Cho nên cụ Nguyễn Gia Thiều mới có câu: “Lò cừ nung nấu sự đời”. Nếu trong lòng anh là cái lò nung, cái “ lò cừ”, thì anh sẽ biến được tất cả mọi sự xương xẩu của đời sống thành nghệ thuật. Còn tôi, tôi thấy tất cả những gì tôi mong muốn, có ở trong tôi, tôi đều có thể diễn tả được, thậm chí rất tự do và phóng khoáng. Trước hết đó là nhờ Đảng ta, đã mở rộng đường biên tư duy cho mọi sáng tạo của các nhà sáng tạo. Tôi cảm thấy thật hạnh phúc được sinh ra và lớn lên ở một thời điểm mà những biến động của thời cuộc bằng tất cả các thời điểm của hàng trăm năm cộng lại, và được cầm bút trong tầm rộng dài những khát vọng lớn của nhân dân. Tôi biết sức mình đến đâu thì cố làm đến đấy và làm hết cái tâm, cái trí của mình. Còn cái lớn hơn mình, lại là việc của các bạn khác, thậm chí của các bạn trẻ hơn, đang thay mình và vượt qua mình mà đến với những dự định sáng tạo có tầm vóc cao hơn...

     - Khi không thể diễn đạt một điều gì đó trong tâm trí, tôi nghĩ, liệu có phải do trong mình còn thiếu một người thợ? Với sáng tạo, có lẽ người thợ cần sát cánh cùng người nghệ sĩ chăng…?

Nhà thơ Trần Nhuận Minh: Văn chương là một nghề, vì thế rất cần cái tài của một người thợ, có thể gọi là “ thợ chữ” chẳng hạn. Nhưng sáng tạo của người nghệ sĩ, nếu đạt được tiêu chuẩn của nó, mà tôi đã nói trong Đối thoại văn chương, là “tiêu chuẩn Nguyễn Du”, thì “Phong sương được vẻ thiên nhiên/ Mặn khen nét bút càng nhìn càng tươi”, nghĩa là có 2 yếu tố: một, phải tự nhiên, thiên nhiên, như gió như sương vậy, và hai, phải có được sự ủng hộ của thời gian, “càng nhìn càng tươi”. Nếu đạt được “tiêu chuẩn Nguyễn Du” ấy, thì chữ lại phải biến đi đâu sạch, để chỉ còn lại cái tinh khiết, cao cả, cái cô đơn, khăc khoải, cái lay động, thăm thẳm... và đôi khi cả cái vu vơ của hồn người, của số phận người. Câu hỏi của bạn rất đúng với cụ Nguyễn Gia Thiều, trong Cung oán ngâm khúc, ở đây cụ là một người “thợ chữ” rất vĩ đại, từng chữ đều có nét chạm trổ kì tài, và cùng với cái công kì khu đó, cụ đã để lại cái dấu vân tay và cả mùi mồ hôi tay của chính mình trên từng con chữ. Vì thế, kì tài đến ghê gớm, cụ vẫn đứng sau cụ Nguyễn Du rất xa. Cái tài của Nguyễn Du là cái tài của ông trời đã sáng tạo ra Vịnh Hạ Long mà tôi có câu thơ: “Sáng tạo một lần xong sông núi/ Trời không để lại dấu vân tay...”. Thiên tài khác người kì tài chỉ là ở chỗ đó mà thôi...

- Vậy mới càng hiểu, sáng tạo là một vẫy gọi mà câu trả lời thật vô cùng. Nhưng suy cho cùng, hình như, những “câu hỏi” mà một nhà thơ đặt ra còn quan trọng hơn câu trả lời của họ. Nếu chỉ đặt ra một “câu hỏi” thôi, ông sẽ nói gì?

Nhà thơ Trần Nhuận Minh: “Bạn có dám đánh cược cả cuộc đời mình vào tác phẩm mà bạn đang viết hay không?”. Nếu chỉ có một câu hỏi thôi, thì tôi xin nêu câu hỏi ấy, trước hết là với chính mình, sau mới là các bạn nghề của mình. “Có” cũng chưa chắc đã thành công, mà “không” thì thật khó... Cũng có người tự nhiên “nhặt” được một bài thơ như sự rơi vãi của “trời”, thì đó có lẽ lại là một điều khác...

(Thái Nguyên)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 16.6.2014.

Quay Lên Đầu Trang