Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





45 NĂM ĐỌC LẠI

NHỮNG TRANG THƠ CŨ CỦA BẰNG HỮU

VIẾT CHO NHÀ VĂN Y UYÊN





Đến hôm nay - ngày 08 tháng 01 năm 2014, đã là lần giỗ thứ 45 của nhà văn Y Uyên. Anh mất bên dòng suối gần chân núi Tà - lơn, Phan Thiết; ngày 8 tháng 1 năm 1969, khi vừa 26 tuổi! Ở tuổi 26, nhưng Y Uyên đã có 6 tác phẩm được xuất bản (Tượng Đá Sườn Non, tập truyện Thời Mới -1966/ Bão Khô, tập truyện Giao Điểm - 1966/Quê Nhà, tập truyện Trình Bầy - 1967/ Ngựa Tía, truyện dài Giao Điểm - 1967/ Đuốc Sậy, tập truyện Văn Uyển -1969/ Chiếc Xương Lá Mục, tập truyện Tân Văn - 1971) tạo được sự quan tâm đặc biệt của giới văn nghệ và bạn đọc. Anh cũng là nhà văn trẻ cọng tác thường xuyên cho hai tạp chí nổi tiếng Bách Khoa và Văn từ những năm đầu thập niên 60…Y Uyên tốt nghiệp trường Sư phạm Saigon, được bổ nhiệm về dạy học ở Tuy hòa từ năm 1961 và bị lệnh động viên nhập ngũ khóa 27 trường võ bị Thủ Đức năm 1967…

   Tin anh mất trong một trận phục kích khi đóng đồn ở Nora Phan Thiết, đã khiến tất cả bàng hoàng, sững sốt, và vô cùng thương tiếc! Một con người “hiền khô”, tài năng, và chí hiếu với gia đình, chí tình với bằng hữu, nhưng đã ra đi quá sớm khi ước mộng đang đầy! Cuộc tương tàn dai dẳng 21 năm là thế - không hề chừa một ai. Tuổi trẻ đã lần lượt ra đi, và lần lượt nằm xuống khi ước mơ đang vừa xanh mầm dâng hiến! Anh Trần Huiền Ân đã tâm sự: “(…) Lộc đưa cho tôi tờ Công Luận hay Hòa Bình gì đó, tôi không nhớ rõ. Nhưng dòng chữ “Thương Tiếc Y Uyên” trong khung đen - thật tình tôi không muốn tin. Như mấy lần trước, được cho hay Nguyễn Nho Sa Mạc, rồi Vũ Liên Châu mất, tôi đã không muốn tin. Nhưng những dòng chữ tiếc thuơng rành rảnh ra đó. Và, Nguyễn Nho Sa Mạc, Vũ Liên Châu từng thật sự ra đi. Tôi sững sờ bỏ tờ báo xuống sạp. Từ Ngã Năm Tuy hòa về nhà, tôi phóng xe nhanh(…). Nhà tôi ở sâu trong ngõ hẻm. Cái ngõ hẻm mà mỗi lần Y Uyên đến, nhìn dáng anh trong đó, tôi tưởng nó ép chặt anh lại, khiến anh càng thêm gầy guộc. Chưa kịp dựng xe tôi đã kêu: “Ông Uy chết rồi!”. Cả nhà tôi đổ ra sân. Cùng nhận lấy nổi sững sờ, bởi Y Uyên không những là người bạn văn nghệ của tôi, mà đối với cả gia đình tôi, anh là chỗ thâm giao(…)”
   Trong một số báo Bách Khoa xuất bản sau đó đã đăng bài thơ “Người Đã Lên Tàu” dài 8 đoạn (35 câu) của Trần Huiền Ân - bài thơ gợi cho tôi không những nhớ Y Uyên, nhớ Tuy hòa những tháng năm sum họp đầm ấm, mà còn rất nhớ con ngõ hẻm vào nhà anh đã không biết bao lần tôi đã đi qua, tìm đến với gia đình anh và các cháu khi còn dạy học ở Tuy hòa (và cả năm tháng sau nầy) như một người anh ruột thịt thâm tình. Nhớ các cô con gái anh vẫn thường kêu lên khi tôi vào chơi: “Chú Long nằm xuống cháu đấm lưng cho!”. Tuy hòa nghĩa tình và dễ thương là vậy!
   Xin trích ghi đoạn mở đầu bài thơ “Người đã lên tàu”:
Nhà tôi chen xóm nhỏ
Đường sâu ép chặt dính vai gầy
Chiếc võng ngoài hiên chiều đợi gió
Anh thừơng ngồi trông lớp lớp mây

Chúng mình thân nhau
Những con đường Tuy hòa về khuya vắng vẻ
Những đêm buồn nhìn từng giọt cà phê rơi nhẹ
Những chung trà thơm khói buổi mờ sương
Chúng mình xa nhau khi từ giã mái trường
Xếp sách vở làm thân lính chiến
Tôi biết mẹ anh thương con trời biển
Thân gìa quên với thăng trầm
Cứ mỗi lần anh có dịp về thăm
Than trách mãi: “thằng Uy không lấy vợ” (,,,)”
   Nhà thơ Lâm Hảo Dũng trong “Tuần 100 ngày khóc Y Uyên” - tiếng khóc của anh cũng là “tiếng khóc” thầm không giọt lệ của bao bạn văn, thân hữu của Y Uyên khi anh đã đi xa:
Rồi mai bỏ núi về trời
Dấu trong lửa đạn buồn rời quê hương
Tay xuôi mạng số đoạn trường
Khóc đôi mắt biếc của buồn thanh niên
Rồi mai hồn đắm du thuyền
Lang thang gởi lại trăm miền vui xưa
Bỗng dưng buồn bã bây giờ
Trong khô lệ xót ngoài mưa cuối mùa”
   Trong tạp chí Văn số đặt biệt “Thương nhớ Y Uyên”được thực hiện, phát hành ngay sau ngày Y Uyên mất không lâu, đã kịp đăng ba bài thơ của ba tác giả: Mường Mán, Cao Thoại Châu, và Nguyễn thị Thùy Mỵ. Nhà thơ Mường Mán với “Lời dặn dò” bi thiết:
Khi đẩy đưa tim trên võng mắt hiền
em hãy lắng nghe hồn cỏ ướt dưới chân chim
nếu thấy mùa thu cuốn về trời những cơn bão lửa
hãy nghĩ rằng
lúc bấy giờ chỉ còn mình chàng ở lạị với đêm

Nếu qua sông bằng thuyền mây đêm nay
hãy lắng nghe trăng hấp hối trong rừng cây
trăng rót rượu hồng trăng úp mặt
chàng chết mơ hồ như ơn say

Khi trở về không còn ai mở cửa
hãy cúi đầu mặc tình cho lòng nhớ miên mang
nếu bỗng dưng chợt thấy mình buồn ngủ
hãy nằm xuống nghe
đất kể
chuyện trăm năm “
   “Trong nấm mồ ký ức” nhà thơ Cao Thoại Châu đã “trò chuyện” với Y Uyên, với chính mình, trong cơn uất hận và thất vọng cùng cực trước nỗi bất lực của tuổi trẻ đối với cuộc chiến tương tàn đã và đang hủy hoại con người, đất nước từng ngày đêm:
sao xuất ngũ sớm và kỳ cục vậy Uyên
có phải vì những người còn sống
đều đớn đau nên tìm đi vội vàng
như vì sao lẩn trốn bình minh
của một ngày nổi bão

sao xuất ngũ vội vàng vậy Uyên
nước Việt nam sẽ có hòa bình
các yếu nhân vừa tuyên bố như vậy
khi chúng ta còn mang da thịt
làm cho mập chiến tranh

sao đi sớm vậy Uyên
có phải vì bất lực
trước một nổi kinh hoàng
trước một cơn bão khô
không lý do giải thích

tôi chưa hề chôn ai
trong nấm mồ ký ức
chưa hề thương tiếc ai
bằng ngôn ngữ bất lực

(…) tôi đang dành nước mắt
để khóc mình mai sau”
   Nguyễn Thỵ Thùy Mỵ có “Thơ cho Y Uyên” với sự tỉnh táo đến sững sờ; có niềm tiếc thương nhẹ nhàng nhưng vô vàn ray rức, quặn đau:
trong ý tưởng lạ về chàng
trong tim tôi có
một giọt máu tình cờ
chảy hoài trên thánh giá
giọt máu hình như đen
ứa qua chiều say khướt

phải rồi có máu đen
phải rồi có máu đen
có chim sẻ hót lúc bình minh
có quạ đen đậu trên nóc nhà
có tình nhân hộc máu mồm
có quốc kỳ viet nam phủ trên quan tài
phải rồi có y uyên
phải rồi có y uyên

chiều ngừng thổi bong bóng
địa cầu quanh chúng ta
trong vú tôi căng sữa
có dấu tay chàng
và môi trẻ thơ”
   Nhà thơ Từ Thế Mộng quê Phan Thiết - nơi Y Uyên được chuyển đến, là người bạn văn thân thiết của Y Uyên nhiều năm - nhất là trong những tháng “lưu lạc” về đây - đã “Thương người không thể cầm trong tay” với bốn mươi câu là 40 lần hoài niệm, nhớ thương, đau xót:
ta với ngươi tuy quen đã lâu
lênh đênh ngàn dặm tình không sâu
bỗng dưng một sáng nghe ngươi mất
buông thõng hai tay ta cúi đầu
(…) nghe ngươi vào lính ta đang lính
súng đạn như đùa với kẻ thơ
ta tròn hai mắt ra kinh ngạc
mắt người dìu dịu mầu ca dao
(…) nora còn chúng bông cỏ may
nora chùng lòng dăm đứa bạn
thương người không thể cầm trong tay(…)
vui quá nên vui tràn nước mắt
hồn buồn không thấy mộng Y Uyên”
   Thơ viết cho Y Uyên còn có Nguyễn Hữu Hạnh Vũ, Nhất Uyên, Nguyễn Đức Nhơn, Thanh Vân (…) - nhưng tôi cũng xin được tạm kết thúc trang viết ở đây - vì nổi buồn thương đã quá đầy…
Quê nhà, tháng Giêng năm 2014

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Bình Định ngày 04.6.2014.