Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



BỘ TIỂU THUYẾT

ĐỒ SỘ NHẤT VIẾT VỀ VÙNG MỎ






   Đó là bộ tiểu thuyết Đất Bỏng của Nhà thơ Trần Tâm, do NXB Thời Đại ấn hành, vừa ra mắt bạn đọc đầu tháng 10 năm nay. ĐẤT BỎNG gồm 4 tập (mỗi tập chia làm hai phần) với gần 1500 trang in (khi biên tập, NXB đã cắt bỏ khoảng 300 trang). Đây là bộ tiểu thuyết viết về vùng Mỏ và thợ mỏ đồ sộ nhất, kể từ xưa đến nay. Theo tôi, có thể gọi đây là bộ sử thi về vùng Mỏ.

   Nhà thơ Trần Tâm – tác giả bộ tiểu thuyết – là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam, nguyên là cán bộ Công ty than Đèo Nai, nay nghỉ hưu tại Cẩm Bình, Cẩm Phả, Quảng Ninh. Cẩm Phả cũng là nơi ông sinh ra, lớn lên, đi làm ở Mỏ than Đèo Nai cho đến khi nghỉ hưu. Đến nay, ông đã cho xuất bản 7 tập thơ, 2 tập truyện ngắn và 2 tập tiểu thuyết. Các tác phẩm của ông chủ yếu viết về vùng Mỏ và những người thợ mỏ. Ông cho biết, để hoàn thành bộ tiểu thuyết ĐẤT BỎNG 4 tập, ông phải mất gần 4 năm.
   Tôi là người được ông tin tưởng trao bản thảo bộ tiểu thuyết trên để làm thủ tục xuất bản. Bản thảo gồm 4 tập với trên 800 trang khổ A4 chép tay. Nhìn tập bản thảo dày, chữ lởm chởm như chông (ông cầm bút bằng tay trái) tôi ái ngại, đề nghị ông gõ máy tính. Ông mới tập gõ máy tính nên vụng về, dò dẫm trên bàn phím suốt hàng tháng mới xong; hai bắp chân sưng vù. Xong, tôi copy về in bản thảo hộ ông.
   Tập đoàn Vinacomin có chính sách ưu đãi đối với văn nghệ sỹ trong ngành rất tuyệt vời, đó là tài trợ kinh phí để xuất bản sách, triển lãm tranh, ảnh v.v.Nhà thơ Trần Tâm thuộc đối tượng được Tập đoàn tài trợ kinh phí xuất bản. Do vậy, khi xong phần vi tính, tôi chuyển bản thảo ĐẤT BỎNG cho Nhà văn Vũ Thảo Ngọc để làm các thủ tục xin tài trợ kinh phí xuất bản cho Nhà thơ Trần Tâm và đã được Tập đoàn Vinacomin tài trợ 60 triệu đồng. Sau đó, các thủ tục xin cấp phép, thiết kế bìa, mi trang, in ấn v.v. đều do Nhà văn Vũ Thảo Ngọc đảm nhận; thậm chí, khi sách in xong, Nhà văn Vũ Thảo Ngọc còn mang bộ sách này tặng bạn bè theo sự ủy quyền của Nhà thơ Trần Tâm. Việc ra đời bộ tiểu thuyết Đất bỏng phải kể đến sự quan tâm của lãnh đạo Tập đoàn Vinacomin, trong đó cụ thể là ông Bùi Văn Khích, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn và anh Lý, anh Ngọc Bảo (trưởng- phó Ban Thi đua-văn thể Tập đoàn), đặc biệt là Nhà văn Vũ Thảo Ngọc. 
   Bộ tiểu thuyết ĐẤT BỎNG viết về vùng đất Cẩm Phả trải dài từ quãng năm 1885 đến năm 2000. Tập 1 phần 1 viết về những nông dân từ các vùng quê bị bần cùng hóa ra mỏ làm “cu li” đã hình thành nên giai cấp công nhân Việt Nam. Công việc khai thác hoàn toàn thủ công nặng nhọc, nguy hiểm và bắt đầu mở ra các đường lò tầng mỏ từ 1885 đến hết Đại chiến Thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918). Phần 2 nói về thợ thuyền, những nông dân khi thực dân Pháp tăng cường mở rộng việc khai thác than, mở cảng, mở đường. Không chịu cúi đầu làm nô lệ, người dân được giác ngộ, kiên quyết đứng lên, tham gia cách mạng trong các tổ chức tiền thân của Đảng (trước năm 1930). Tập 2 phần 1(1930 - 1945) nói về tình cảnh người phu mỏ dưới chế độ cũ. Họ hoạt động bí mật, trải qua những cuộc đình công (tiêu biểu là năm 1936), qua nạn đói, cướp chính quyền về tay nhân dân năm 1945. Phần thứ hai kể về cuộc sống người dân trong vùng tạm chiếm cho tới ngày giải phóng hoàn toàn miền Bắc năm 1955. Tập 3 phần 1(1955 - 1964) mô tả cuộc sống thợ mỏ dưới chế độ mới, khắc phục những khó khăn nghèo túng và những tàn dư chế độ cũ để lại. Nạn cờ bạc, rượu chè, nghiện ngập, bán vợ đợ con còn rơi rớt và sự vượt khó, cần cù lao động để hoàn thành nhiệm vụ đề ra trong kế hoạch “Năm năm lần thứ Nhất”. Đến năm 1964, Đế quốc Mỹ ném bom đánh phá miền Bắc mà vùng Mỏ là một trọng điểm bị huỷ diệt. Phần thứ hai kể về người công nhân vùng Mỏ vừa sản xuất vừa chiến đấu với bao nhiêu hy sinh mất mát và những người con ưu tú của vùng Mỏ lên đường nhập ngũ, góp phần cùng cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Tập 4 phần 1 nói về cuộc sống thợ Mỏ trong thời kỳ bao cấp với những khó khăn thiếu thốn và sự trì trệ của của phương thức quản lí lỗi thời. Phần thứ hai nói về người thợ mỏ trong công cuộc đổi mới của Đảng (từ năm 1986 đến sau năm 2000). Đó là thực trạng xã hội vùng Mỏ những năm đầu đổi mới. Nạn nghiện hút hoành hành. Tệ nạn tham nhũng của một số người có quyền chức. Công nhân không có việc. Người dân bỏ xứ sở vượt biên. Cuộc sống vô vàn phức tạp. Nhiều dự định lớn lao bị thui chột. Rồi nhiều nhân tố mới xuất hiện. Nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết là công nhân khai thác than. Trải suốt cả chiều dài hơn một thế kỷ lầm than, cay cực, chịu đựng hy sinh, mất mát, người công nhân than đã trở thành một lực lượng hùng hậu, có đủ năng lực, kiến thức vững bước vào thế kỷ 21.
  ĐẤT BỎNG có dung lượng lớn cả về tư liệu, chất liệu, sự việc và những gì tác giả đã trải qua, thu nhận được từ giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng. Qua ĐẤT BỎNG, bạn đọc sẽ nhận ra cả một miền đất lầm than, đau thương và anh dũng với những bước thăng trầm, máu lửa đã trở nên to đẹp rộng dài cùng nhiều vấn đề mà cuộc sống đặt ra. Có thể gọi ĐẤT BỎNG là bộ sử thi về vùng Mỏ và những người thợ mỏ. 
     Bộ tiểu thuyết Đất Bỏng 4 tập do Nhà xuất bản Thời Đại ấn hành năm 2011. Hội VHNT Quảng Ninh đã tổ chức lễ ra mắt, công bố tác phẩm ngày 09/12/2011. Đây là bài phát biểu của tác giả - Nhà văn Trần Tâm trong buổi ra mắt ấy!
 
  Kính thưa các qúy vị đại biểu.
  Kính thưa các bác, các anh chị và các bạn đồng nghiệp!
 
   Tôi rất xúc động khi Hội văn học nghệ thuật Quảng Ninh tổ chức buổi ra mắt bộ tiểu thuyết Đất bỏng của tôi. Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và lời chào trân trọng đến các đồng chí đại diện tỉnh ủy, ủy ban nhân dân, lãnh đạo Hội văn học nghệ thuật Quảng Ninh, Tập đoàn Than Khoáng sạn Việt Nam, chi hội nhà văn Việt Nam tại Quảng Ninh, các quý vị đại biểu, các bác, các anh chị và các bạn đồng nghiệp.
   Tôi là công nhân than, sống và làm việc tại Cẩm Phả. Vùng đất khổ đau tăm tối khi xưa giờ đã thành một đô thị sầm uất. Trải qua hơn ba mươi tư năm làm công nhân, tôi đã chứng kiến những thăng trầm, buồn vui, cay đắng cũng như hạnh phúc, tự hào trong công việc làm mỏ. Lớp lớp thợ đã đổ mồ hôi, thậm chí cả máu xương mình để khi nhắm mắt xuôi tay không xấu hổ truớc cơ ngơi rộng dài, giàu có ở vùng than hôm nay. Tôi gặp những bác thợ khoan BY đưa mũi choòng vào công phá Him Lam - Nơi đất đá rắn vào loại nhất trên tầng mỏ. Những cô gái bất kể gió mưa lạnh rét hay nắng nóng khủng khiếp lên tầng chỉ hở hai con mắt - nói vậy chứ cả hai mắt cũng được che bằng cặp kính dày - lùa tay trong bụi trong bùn nhặt than ra khỏi sít, nhặt sít ra khỏi than. Chính những con người ấy đã phải trăn trở biết bao nhiêu khi đưa máy khoan vào khoan bãi thải để tăng sản lượng, đập sít cho vào than mới xuất được hàng. Tôi đã cùng gần 80 công nhân trên chuyến xe Nícxơn ném bom vào buổi sáng ngày 28/ 06 năm 1972. Khi tỉnh dậy, nhìn qua tấm kính phía sau ca bin tôi còn thấy người tài xế gục xuống vô lăng với một bên quai hàm bị vỡ. Bên cạnh tôi, người thợ nằm ngoẹo đầu. Từng đống bọt máu liên tục nở ra rồi lại vỡ theo mỗi nhịp thở. Bạn tôi nằm kia, người chồng đống không còn thấy mặt. Cái cẳng chân gập vào kéo ra liên tục như giã giò. Khi tôi ra viện, mười bảy người trên chuyến xe đó đã chết. Tôi còn phải chứng kiến nhiều cái chết thương tâm trên tầng mà đa phần họ còn rất trẻ. Rồi những người không làm than nhưng phục vụ than. Đêm đêm ngày ngày trồng rau, cấy lúa, chăn nuôi, làm muối, trồng rừng…Không thể kể hết những kỷ niệm một thời vất vả và gian lao. Những điều ấy đã thôi thúc tôi phải viết một cái gì dài hơi về mảnh đất này. Trong công tác, tôi có thuận lợi tiếp thu được nhiều nguồn tư liệu, tài liệu từ gia đình, từ những người trong Hội những người kháng chiến chống Pháp tại Cẩm Phả, những câu chuyện do các cụ làm cu li thời đó còn sống kể lại, những cuốn lịch sử viết về công nhân than của Trần Văn Giàu, của Nguyễn Thanh Sỹ, của nhiều tác giả khác…và ngay từ bản thân, bầu bạn mình. Tôi sưu tầm, góp nhặt, ghi chép lại với ý thức phải viết để người sau biết thời cha ông họ sống gian nan, tăm tối khổ đau, vất vả và tự hào thế nào. Nếu tôi không viết, sau này có thể có người viết hay hơn nhưng sẽ khó hơn rất nhiều so với tôi hôm nay. Trong sự ồn ào sôi sục của công cuộc đổi mới, hàng loạt những đòi hỏi, yêu cầu gắt gao. Người viết không thể chạy theo sự kiện mà phải chắt lọc, gọt rũa. Chính vì lẽ đó, tôi đã không quản khó khăn đau đáu hơn 20 năm bòn nhặt, ghi chép tư liệu và gần 4 năm để viết. Trong khi viết, tôi được sự động viên khích lệ cũng như thái độ khinh bạc của rất nhiều người. Kể không thể hết nhưng có nhiều điều khiến tôi không quên.
 
     Một lần, tôi đi đâu về. Chờ tôi khá lâu tại nhà là một ông già không quen. Sau khi nghe chào hỏi thưa gửi xong, ông nhẹ nhàng: - Tôi nghe nói anh đang viết cuốn sách gì đó về cha ông tôi, về chúng tôi, về các anh. Viết gì thì viết nhưng anh đừng để ông cha phải mủi lòng, phải ngậm cười. Không phải họ sợ kể khổ. Ngày xưa, chúng tôi ai cũng khổ cả. Các anh cũng khổ chứ có sướng đâu. Họ mủi lòng, họ ngậm cười vì con cháu không viết đúng, nói đúng về họ. Anh tưởng viết ra để in là thành công thì không được đâu. Chữ nghĩa có vai trò, vị trí của nó. Nhiều người đã chết vẫn đang dõi theo chúng ta đấy. Phía sau cuộc đời này còn nhiều thứ cả đời ta không biết hết. Tôi nói thật, nếu thấy khó thì đừng nên bịa ra để viết. Cu li mỏ phần đông tăm tối dốt nát. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Họ dốt nhưng họ không ngu. Dốt vì họ không được học hành tử tế thôi. Tôi đây. Cu li chính cống. Mù mịt giang sơn chứ có hơn gì. Vậy mà tôi cũng biết. Biết chữ Pháp nhiều hơn chữ Quốc ngữ. Ngày giải phóng, tôi được nhà nước cử sang Liên xô học bảy năm. Anh nói anh biết đánh vần chữ Hán, vậy thì tên tôi đây. Ông lấy bút viết ba chữ Nho. Nhờ đó, tôi biết ông tên là Đinh Công Đàm. Sau một hồi chuyện trò, tôi nghe nói ông giờ về ở thành phố Hạ Long và cung cấp cho tôi khá nhiều tư liệu - kể cả những điều tôi đã biết, đã ghi chép được. Tôi băn khoăn vì chưa rõ cụ thể tên từng dãy phố, con đường ngày thuộc Pháp. Ông hứa sẽ mang cho tôi vào sáng hôm sau. Thú thật, tôi có chờ ông đến nửa buổi rồi phải đi làm việc khác. Khi về nhà, tôi nhận được một tờ giấy. Đó là bản chỉ dẫn ông vẽ tay, có chú lại rõ ràng bằng cả tiếng Pháp và tiếng Việt. Ông đi rồi. Tôi tiếc mãi vì mình chưa kịp hỏi địa chỉ nhà ông.
    Năm 2008 tôi nằm viện. Phòng điều trị đông lắm. Sáng bác sĩ đến khám. Tám chín người một giường. Chiều họ về hết chỉ còn lại hai người. Tôi bị gút, không đi lại được. Một ông già nhà xa. Ông tên là Đinh Khắc Cóc. Đại biểu Quốc hội từ mấy khóa trước. Hai bác cháu rỗi rãi tâm sự cùng nhau. Ông là đại biểu Quốc hội nhưng chỉ biết chặt gỗ. Mỗi năm mấy lần đi họp, họp xong lại lên rừng chặt. Chặt nhiều được phong chiến sĩ thi đua rồi được bầu vào Quốc hội. Hôm nào rỗi lên nhà bác chơi, hay lắm chứ không thường đâu. Tôi lên nhà ông. Nhà ông ở bên trong khu vực cây số 11. Chính ở đây người dân và con cháu ông đã cung cấp cho tôi những trang viết về rừng Cẩm Phả. Họ kể nhiều chuyện và hiểu rất cặn kẽ về rừng. Rất nhiều gia đình ba bốn đời sống bên khe suối, ăn cơm bẹ, cháo măng. Ông tôi chặt gỗ, gọi là sơn tràng. Bố tôi chặt gỗ, được chiến sĩ thi đua. Tôi giờ chặt gỗ, họ gọi là lâm tặc. Lâm tặc là giặc rừng đấy bác. Giặc rừng thì phá rừng chứ để rừng mà làm giặc à? Tôi đã ăn ở cùng họ hơn chục ngày, được đến những nơi nghe họ nói ở Cẩm Phả số người đến biết chỉ tính trên đầu ngón tay.
   Người thứ ba tôi muốn nói tới là ông Trương Văn Hoành - nguyên Giám đốc xí nghiệp xây lắp Mông Dương. Ông bị bệnh, đi lại khó khăn nhưng luôn quan tâm đến vấn đề tôi định viết. Thấy tôi lên chơi, ông hỏi xem viết đến đâu và thường xuyên khuyến khích tôi. Đang buồn bã trước những trang viết bế tắc mà tương lai cuốn sách còn mờ mịt, tôi lưỡng lự trả lời quấy qúa cho xong. Ông nói : - Có nhiều người không tin anh viết nổi đâu. Họ nói nhiều câu khó nghe nữa cơ. Ai nói anh đừng hỏi. Có hỏi tôi cũng không kể. Tôi thì tôi rất tin. Tôi còn nói với họ: 100 % không dám chắc nhưng nó chỉ cần viết được 40% cũng là tốt lắm rồi. Cố gắng mà làm anh ạ. Được đến đâu hay đến đấy còn hơn hứa suông. Chính sự khuyến khích của người giám đốc già đã nâng đỡ tôi, chính sự không tin tưởng của bè bạn đã như cú hích khích lệ tôi rất nhiều trong lúc tôi buồn nản gặp khó khăn về nhiều vấn đề tưởng như không tháo gỡ nổi.

    Giờ đây tập sách đã ra đời. Nó ra đời trong sự gắng gỏi của bản thân lại được sự tài trợ kinh phí của Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam, của Hội văn học nghệ thuật tỉnh, chi hội Hội nhà văn Việt Nam tại Quảng Ninh và một số anh em bè bạn mà điển hình là ông Đặng Mạnh Đàm ở phường Cẩm Thủy, thị xã Cẩm Phả. Hôm nay, tôi rất hạnh phúc và cảm động trước sự quan tâm góp ý, động viên khuyến khích của các quý vị lãnh đạo Hội văn nghệ, Tập đoàn than Khoáng sản Việt nam, lãnh đạo một số địa phương và các anh chị, các bạn đồng nghiệp. Tôi xin hứa sẽ nghiêm túc xem xét, trao đổi, sửa chữa, thực hiện những ý kiến xác đáng, những gợi ý, những đóng góp của lãnh đạo, của các bạn đồng nghiệp trong những lần tái bản sau.
Nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày truyền thống công nhân ngành than, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể cán bộ công nhân vùng than, đến lãnh đạo Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam qua nhiều thế hệ, đến các vị lãnh đạo tỉnh ủy, ủy ban nhân dân, Hội văn nghệ, hội nhà văn, các anh chị em, các bạn đồng nghiệp đã giúp tôi cả về tinh thần lẫn vật chất để Đất bỏng sớm được ra mắt bạn đọc.
    Xin kính chúc toàn thể các vị đại biểu các cơ quan, ban ngành, các bác, các anh chị và các bạn đồng nghiệp mạnh khỏe, gia đình dồi dào hạnh phúc. Tôi xin chân thành cảm ơn!
 
 

(Phó Tổng biên tập Tạp chí Than – Khoáng sản Việt Nam)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 04.6.2014.