Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT

TRONG THƠ NGUYỄN ANH NÔNG



2.1. Thế giới hình ảnh trong thơ Nguyễn Anh Nông
Theo Từ điển Tiếng Việt, “hình ảnh” được giải thích là: Hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học [như máy ảnh], hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí. Là khả năng gợi tả sinh động trong cách diễn đạt [6, tr.548-549].
Hình ảnh và màu sắc là chất liệu của hội họa. Nhưng với ưu thế của nghệ thuật ngôn từ, văn học có thể sử dụng chất liệu đó như một phương thức miêu tả, phản ánh thế giới và con người. Từ những hình ảnh hết sức bình thường, quen thuộc nhưng dưới con mắt nhà thơ nó trở nên sinh động, hấp dẫn và góp phần thể hiện tư tưởng của tác giả. Hình ảnh còn có khả năng mã hóa cảm xúc, mã hóa ý tưởng của nhà thơ. Và hình ảnh hiện diện trong tác phẩm, được lặp đi lặp lại nhiều lần, mang vai trò của tín hiệu nghệ thuật, mang ý nghĩa triết lý càng tạo cho tác phẩm những điểm nhấn.
Nhà thơ tư duy bằng hình ảnh. Hình ảnh thơ là yếu tố của hình thức thơ. Đó là hình ảnh thực trong cuộc sống được nhà thơ nắm bắt, cũng có thể là hình ảnh nảy sinh trong ý nghĩ, tình cảm rồi hiện lên trong thơ và truyền cảm đến người đọc. Những hình ảnh ấy mang tính thẩm mỹ, có khả năng ẩn chứa nhiều ý nghĩa.
Thơ Nguyễn Anh Nông thường xuất hiện nhiều hình ảnh thiên nhiên quen thuộc của núi rừng như núi, trăng, sông suối… và hình ảnh con người mà tiêu biểu nhất là người mẹ, người lính, người yêu. Tất cả đã hình thành một hệ thống hình ảnh phong phú, tạo nên nét riêng cho thơ Nguyễn Anh Nông. Nhà thơ luôn luôn tìm tòi, sáng tạo những hình ảnh mới lạ - những hình ảnh đó gợi ra những suy ngẫm, những liên tưởng rất độc đáo. Trong thơ Nguyễn Anh Nông ta bắt gặp các hình ảnh núi, trăng, sông suối, đá… không chỉ gắn liền với vẻ đẹp của thiên nhiên quê núi mà còn là nơi gửi gắm những tâm tư, tình cảm thể hiện triết lí sống của tác giả.
2.1.1. Hình ảnh người lính trong thơ Nguyễn Anh Nông
Trong gia đình Nguyễn Anh Nông, có lẽ ảnh hưởng nhiều nhất đến nhà thơ là người cha – một người lính trải qua nhiều gian khổ trong chiến tranh. Nguyễn Anh Nông đã tiếp bước cha mình, từng là người lính nhập ngũ năm 1980 bảo vệ các tỉnh biên giới phía Bắc. Vì vậy, Nguyễn Anh Nông hiểu và viết sâu sắc về người lính qua những kí ức về một thời đã qua của dân tộc. Hình ảnh người lính được Nguyễn Anh Nông khắc họa sâu sắc với những nét riêng biệt và thể hiện tiêu biểu nhất qua tập thơ Những tháng năm ở rừng và trường ca Trường Sơn.
Hình ảnh người lính trong thơ Nguyễn Anh Nông được khai thác ở nhiều góc độ mà trước hết đó là những người lính với tinh thần dũng cảm, chấp nhận mọi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ Đất nước.
Người lính của thời đại nào cũng gương cao tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, cùng dân tộc trải qua những thiếu thốn, vất vả để chiến thắng kẻ thù. Từ trong kháng chiến chống Pháp hình ảnh đó được nhà thơ Chính Hữu khắc họa:
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày.
            (Đồng chí – Chính Hữu)
Hay hình ảnh người lính được nhà thơ Phạm Tiến Duật khắc họa với vẻ lạc quan, phơi phới niềm tin vào ngày Đất nước thống nhất dù cuộc kháng chiến rất gian khổ, họ phải lái những chiếc xe đã bị bom đạn kẻ thù tàn phá:
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính- Phạm Tiến Duật)
Và đây là cuộc sống của người lính trong thơ Nguyễn Anh Nông, đêm nằm gai, ngày nếm mật để giữ gìn từng tất đất vùng biên giới cho Tổ quốc:
Những tháng năm ở rừng
ăn trong nắng, ngủ trong sương
(Những tháng năm ở rừng)
Họ phải chịu đựng những căn bệnh quái ác đã cướp đi sinh mạng của nhiều đồng đội mình:
Sốt rét tái màu da
Đồng đội mấy người gục ngã
Hồn thiêng gửi lại lá cây rừng.
(Những tháng năm ở rừng)
Còn đây là những kỉ niệm trong những đêm băng rừng, vượt suối:
Tôi chợt nhớ đêm tuần tra biên giới
Mưa lai rai rét mướt nổi da gà
Cơn sốt đến bạn không rời cây súng.
                       (Khúc tưởng niệm bên dòng suối)
Đó là những cảnh tượng rất thực: trong cái âm u của rừng già, trong cái tĩnh mịch của miền biên ải, vẳng trong đêm khuya, lâm thâm mưa phùn giá rét, người chiến sĩ lên cơn sốt rét ác tính. Đây là điều thường thấy trong đời sống gian khổ của người lính. Có nhiều nhà thơ đã viết về hiện thực khắc nghiệt này, nhà thơ Quang Dũng đã từng viết: Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc/ Quân xanh màu lá dữ oai hùm (Tây Tiến – Quang Dũng). Thậm chí chúng ta còn thấy hình ảnh anh vệ quốc quân thật đáng yêu với màu da vàng nghệ khi phải chống trọi với bệnh tật: Giọt mồ hôi rơi rơi/ Trên má anh vàng nghệ/ Anh vệ quốc quân ơi/ Sao mà yêu anh thế (Cá nước – Tố Hữu). Ta thấy, trong các tác phẩm trước khi viết về sự hi sinh các nhà thơ thường dùng cách nói giảm, nói tránh để giảm bớt những mất mát, đau thương của chiến tranh. Đối với Nguyễn Anh Nông, nhà thơ có sự kế thừa những người đi trước nhưng đã đi vào phản ánh hiện thực khốc liệt đó bằng lối viết mộc mạc, chân thực như sự thực vốn có mà không hề che giấu.
Những người lính đó sẵn ng hy sinh hạnh phúc riêng tư của mình để hoàn thành nhiệm vụ:
Bàng hoàng… tiếng thét giữa đồi
Mìn giặc cài khuất chìm trong cỏ
Buổi đi phép – bạn về cưới vợ
Thành ngày tang –
trời sậm sịch –
                                  mưa buồn.
                                  (Khúc tưởng niệm bên dòng suối)
Câu thơ ngắt quãng đột ngột như diễn tả sự bất ngờ của nhà thơ trước tin bạn đã ra đi mãi mãi khi hạnh phúc gia đình chưa thực hiện được. Sự hy sinh của họ thầm lặng, có thể không ai biết nhưng họ vẫn luôn sống mãi trong lòng mọi người, đó là những tấm gương sáng về lòng quả cảm vì quê hương, Đất Nước:
Bạn tôi như mạch suối nhỏ trong lành
Cứ rì rầm, ngọt mát, long lanh…
                                  (Khúc tưởng niệm bên dòng suối)
Trong kí ức về người lính, Nguyễn Anh Nông còn đem đến cho độc giả những trang thơ tươi vui, tràn đầy sức sống. Đó là hình ảnh người lính gắn bó máu thịt với quần chúng nhân dân như cá với nước. Họ vừa cầm chắc cây súng vừa tô đậm từng nét phấn trên bảng đen. Tác giả Tạ Xuân Ngọc đã nhận xét rất đúng: Người lính ở đây đã hóa người Thày. Gieo mần xanh hi vọng lên đất cằn, sỏi đá nơi địa đầu Tổ quốc [4, Tr 100]:
Với cử chỉ trong sáng
Người lính trẻ
Viết lên bảng đen
Những con chữ tươi ròng
Những tư duy ánh sáng
Những con chữ chữ chân chạy tung tăng.
(Những nhịp điệu trong sáng)
Ở nơi đây, bạt ngàn núi đá rừng xanh, con suối mát trong rì rào hát bài ca năm tháng, người lính ngoài nhiệm vụ bảo vệ Đất nước, họ còn truyền lửa tri thức cho những em nhỏ đồng bào ít người, trao cho các em những bài học đầu tiên. Bài học thấm đượm hồn thiêng sông núi, thấm đẫm hương sắc mây trời quê hương. Với hình ảnh đó, người lính càng đáng chân trọng và ngợi ca hơn bao giờ.
Đó còn là hình ảnh người lính với niềm vui, niềm hân hoan khi được về đón tết cùng gia đình:
Đường xuôi tấp nập lúc xuân sang
Ai đó nhà xa có nhỡ nhàng
Có anh lính trẻ về ăn tết
Vác cả mùa xuân kịp tới làng.
                                 (Rừng xuân)
Khổ thơ bốn câu, mỗi dòng bảy chữ, vạch nhịp 4/3 gằn nhanh và gấp gáp. Người đọc cảm nhận được niềm vui phấn chấn và có phần nôn nóng của anh lính về quê ăn tết. Thú vị nhất nằm ở từ “vác” – kết lại ở dòng cuối và của toàn bài. Anh lính trẻ “vác cả rừng xuân” về làng cũng chính là mang lại hòa bình, hạnh phúc, ấm no cho quê hương, dân tộc. Có được ý thơ hay như vậy là nhờ sức liên tưởng sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ.
Người lính trong thơ Nguyễn Anh Nông không thể thiếu sự lãng mạn, mộng mơ trong tình yêu. Nhà thơ đã đúc kết một cách dí dỏm đầy chất lính về tình yêu như sau:
Cồng chiêng ai gõ bang khuâng quá
Trời ơi, mặt đất cứ chao nghiêng
Rượu cần mới nhấm đôi ba giọt
Chân tay cũng có nỗi niềm riêng.
                                  (Thảo nguyên đêm)
Đọc những dòng thơ trên ta vừa thấy được cái lãng mạn mà khỏe khắn, giản dị mà tinh tế trong cách viết: Chân tay cũng có nỗi niềm riêng, có phải là trạng thái do rượu hay là cảm xúc của một tình yêu rất trẻ trung, đậm chất lính. Những người lính trong thơ Nguyễn Anh Nông dù đã đi qua nửa đời sương gió, trở về vẫn với một tâm hồn tươi mới trong tình yêu:
Mắt em men gì mà lắm kẻ say
Anh như gã sơn tràng đễnh đoãng
Cứ có rượu, có hoa là chếnh choáng
Lạc bước lên non quên nẻo đường về…
                                  (Tình tự với Thạch An)
Trong thơ Nguyễn Anh Nông, người lính không chỉ là những anh bộ đội mà còn cả những nữ chiến sĩ cũng dũng cảm, gan dạ không kém. Các cô không những hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao mà còn luôn giữ được tâm hồn trẻ trung, lãng mạn của tuổi trẻ. Giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết họ vẫn giữ trong mình vẻ đẹp tâm hồn của những cô gái tuổi mới mười chín, đôi mươi:
Thư từ bên lán em cầm lại
Bao phen thấp thỏm ngóng tin nhà
Điện đài thoảng thốt lời nhắn gửi
Công văn, đầy túi, đựng toàn hoa.
                                  (Nữ chiến sĩ)
Những người con gái đó chưa một lần được cảm nhận hạnh phúc lứa đôi, vẫn luôn mong một ngày đoàn tụ nhưng cuối cùng phải ra đi mãi mãi. Điều đáng chân trọng ở đây chính là sự hi sinh thầm lặng của họ với tâm hồn ngời trăng sáng luôn trở thành một biểu tượng đẹp sáng trong.
Có một điều đặc biệt là, Nguyễn Anh Nông không chỉ viết về những người lính bên ta gan dạ, dũng cảm, những người chiến thắng, những tướng tá được vinh thăng mà nhà thơ còn nhắc đến cả những người lính đào ngũ với lời tâm sự chân thật:
Ngày ấy nếu tôi… không còn
Buồn đau, thống khổ đổ dồn vào ai?
Đêm đêm thao thiết thở dài
Ngày ngày tức tưởi, than trai bẽ bàng
Cúi đầu đi giữa xóm làng
Thấm bao vinh - nhục, khẽ khàng nỗi đau…
                                  (XIV- Lời kẻ đào ngũ)
Nhà thơ thấu hiểu rõ rằng: trong cuộc chiến nào trước bom đạn chết chóc của chiến tranh, những thiếu thốn gian khổ trong cuộc sống sao chẳng có những kẻ thối chí. Lẽ thường tình là như vậy, cho nên, lời thơ không quá nặng nề, đay nghiến mà chỉ nhẹ nhàng trách móc, vì một phút nản lòng mà làm mất đi danh dự của người lính. Họ biết nhận ra sai lầm, biết cúi đầu để nhận thấy nỗi đau của bao người đã ngã xuống cho Tổ quốc. Khi viết về những đối tượng này nhà thơ đã tỏ rõ lòng vị tha của mình:
Đã sinh ra ở trên đời
Cầu mong trọn kiếp phận người là tôi
Nguyện làm ngọn cỏ nhỏ nhoi
Thắp tia hi vọng trên môi tháng ngày
                                  (XIV- Lời kẻ đào ngũ)
Nhà thơ vừa nhắc nhở nhẹ nhàng kẻ đào ngũ và thể hiện niềm tin, hy vọng về sự sám hối của những người như vậy. Nguyễn Anh Nông muốn nói rằng: Anh dừng chân quá sớm, phía trước đường còn dài, vẫn còn lối đi sáng sửa cho anh. Bài thơ toát lên tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà thơ đối với những con người lầm đường lạc lối và đó cũng chính là tinh thần nhân đạo của nhân dân ta trong cuộc chiến tranh đã qua của dân tộc.
Bài thơ để lại ấn tượng nhất khi viết về người lính trong thơ Nguyễn Anh Nông là bài Cảm tác. Đây là được coi là sáng tác hay nhất trong sự nghiệp của nhà thơ, bài thơ viết về tình người trong cõi chết của hai chàng lính trẻ tuổi:
Hai chàng từng là địch thủ
Choảng nhau có lúc mẻ đầu
Bây giờ xanh hai nắm đất
Khói hương thi thoảng thăm nhau.
Đã có rất nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu đánh giá, bình phẩm về bài thơ độc đáo này như: tác giả Lê Văn Vọng, Nguyễn Tấn Việt hay nhà thơ Đỗ Trọng Khơi… Nhưng có lẽ, những nhận xét thấu đáo và thỏa đáng với bạn đọc về bài thơ này phải kể đến bài viết Mây bay đi thơ đậu lại của tác giả Trần Mạnh Hảo. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với cách đánh giá của tác giả và xin trích dẫn một đoạn trong bài viết: Đọc bài thơ này, tôi cứ ngồi ngẩn ra, không thể đọc tiếp được nữa vì có bao nhiêu điều từ bài thơ truyền vào làm cổ họng tôi, tim ứa nghẹn lại, tràn ngập suy tư, mê man nỗi niềm sống chết phận người. Tục ngữ bảo: Đánh nhau chia gạo, mời nhau ăn cơm, tôi xin mượn tinh thần câu tục ngữ này để nói về bài thơ rất hay trên của Nguyễn Anh Nông: Đánh nhau khi sống, mời nhau khi chết. Cái chết kia chợt nhân đạo quá chừng, có một nén hương cắm mộ này mà khói cũng chia khói cho cả nấm mộ “địch thủ” kia, mà chia phần “thi thoảng” vì khói còn bẽn lẽn làm quen, làm thân. Khói còn thay người ngường ngượng, ân hận vì lúc sống từng choảng nhau mẻ đầu. “Khói hương” hay chính hình ảnh hai linh hồn kia sám hối, chìa khói sang nhau như cố ý làm một sợ lạt hư vô buộc hai nấm đất vào nhau cho bớt lạnh, bớt cô đơn? Câu thơ: “Khói hương thi thoảng thăm nhau” đã nâng bài thơ lên cõi vô bờ. Thực tế, đúng là khi thắp hương ở phần mộ này thì bao nhiêu khói bay sang phần mộ kia gần hết. Thành ra thắp hương cho một người mà hương tỏa cả hai. Có khi hai nhà đến thắp hương cùng lúc, hoặc nhân thắp cho mộ này, tiện tay, người sống cũng thắp tràn sang mộ bên một nén. Nhưng nghĩa bóng của bài thơ. câu thơ đã vượt qua cây hương mà thấm vào phận người, thấm cả vào tạo hóa, vào nỗi thiện ác, ghét thương. Bài viết với giọng kể, như câu kể việc ở dạng thô giản mà tư tưởng, tình cảm bài thơ lại được nâng lên như một sứ mệnh, có tác dụng hóa giải hận thù, hòa hợp con người [4, tr.80- 81]. Bài thơ để lại nhiều ám ảnh và suy ngẫm cho người đọc về tình người cả những khi còn sống hay đã về cõi vĩnh hằng luôn có một sợi dây vô hình gắn kết con người với nhau.
Đó là cuộc sống của người lính trong những năm tháng chiến tranh, còn khi hòa bình số phận và cuộc đời của họ ra sao cũng được Nguyễn Anh Nông khắc họa rất cụ thể:
Đồng đội tôi đứa mất, đứa còn
Có đứa thành kỹ sư, bác sĩ
Có đứa thành lái xe, người thợ
Có đứa hiền lành chất phác – bác nông dân…
(Khúc tưởng niệm bên dòng suối)
Hòa bình lập lại, những người mẹ, người vợ đều mong ngóng con, chồng mình bình an trở về với hi vọng có khi rất mong manh: Biết bây giờ chồng sống chết ra sao? (Nhát chổi trong chiều). Có những gia đình vỡ òa trong niềm hạnh phúc khi người lính trở về với thân hình lành lặn, cũng có khi là thương tích đầy mình, không ít người thân nhận được tin rằng chồng, con đã hi sinh ngoài mặt trận. Đó là nỗi đau chung của cả dân tộc, bởi có biết bao người lính đã ngã xuống cho Đất nước được bình yên. Cuộc sống được xây dựng từ đầu, hạnh phúc gia đình của người họ tuy muộn màng, không trọn vẹn nhưng thật đáng nâng niu và trân trọng. Đó là hạnh phúc giản dị, hạnh phúc đó nảy sinh từ những đau thương, mất mát: Anh còn cậu con trai/ Chị còn cô con gái/ Vợ anh mất lâu rồi/ Chồng chị không còn nữa (Trước lá vàng).
Từ việc tìm hiểu trên ta có thể thấy, Nguyễn Anh Nông đã viết về người lính bằng cả tấm lòng trắc ẩn, những ưu tư, trăn trở của một người lính thực thụ. Bằng cách viết giản dị, nhà thơ đã tái hiện hình ảnh người lính một thời đã qua thật sinh động và chân thực. Thức tỉnh trong tâm trí người đọc hôm nay hãy nhớ và biết ơn những con người cao cả đã hy sinh thầm lặng cho Tổ quốc.
2.1.2. Hình ảnh quê hương, gia đình trong thơ Nguyễn Anh Nông
Nhà thơ Chế Lan Viên có câu thơ nổi tiếng: Khi ta ở chỉ là nơi đất ở - Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn. Với Nguyễn Anh Nông đúng như vậy. Cuộc đời ông gắn liền với nhiều vùng quê: Thanh Hóa, Hòa Bình, Cao Bằng… Mỗi một mảnh đất đều trở thành quê hương thân thiết của nhà thơ. Đây cũng là nguồn cảm hứng để nhà thơ viết nên những vần thơ ca ngợi quê hương mình.
Nguyễn Anh Nông đưa người đọc đến thăm những địa danh mà nhà thơ đã từng đến. Đây là vùng đất Lạc Thủy – Hòa Bình:
Tôi tới đây này, Lạc Thủy ơi!
Sông Bôi vang tiếng trẻ reo cười
Kìa hang Trinh Nữ cô sơn nữ
Dăm gã trai khờ men tới nơi…
                                  (Lạc Thủy)
Lạc Thủy - một địa danh, qua cảm xúc thẩm mỹ của nhà thơ trở thành tên gọi một bài thơ. Biến thiên nhiên thành đối tượng, xưa nay là thủ pháp quen thuộc, nhưng biến địa danh thành khách thể trữ tình thì chưa nhiều, với Nguyễn Anh Nông là thành công. Nhà thơ dùng thủ pháp này với một số lượng khá lớn và có sự biến hóa rất sinh động.
Với hang Trinh Nữ thì:
Kìa hang Trinh Nữ, cô sơn nữ
Dăm gã trai khờ men tới nơi.
Với dốc Bòng Bong thì:
                              Bòng Bong, cây đứng như ai đứng.
Với thị trấn Chi Nê thì:
                              Chi Nê thì thầm em với tôi.
Các địa danh được nhà thơ đưa vào thơ vừa là tên riêng, lại là hình dung từ rất lạ, rất mới: Bòng Bong, Trinh Nữ, Đồng Nội… nhưng lại rất thân quen, hay đúng hơn là vừa quen vừa lạ. Chính điều này đem hấp dẫn cho thơ.
Còn đây là vùng đất được gọi bằng cái tên trìu mến như tiếng gọi người yêu – Hòa Bình, em:
Hòa Bình, những ngày chưa biết
Em chẳng thèm để ý đến tôi?
Và, tôi có bao giờ mơ tưởng
Một dòng sông lơ đãng cuối trời!
Đó là những cảm nhận khi nhà thơ chưa được đặt chân lên mảnh đất Hòa Bình. “Tôi” không chỉ biết đến một dòng sông hung dữ, mạnh mẽ nhưng cũng rất dịu dàng, trôi “lơ đãng cuối trời”. Khi đã hiểu và khám phá ra vùng đất này thì lại là một cái nhìn khác:
Hòa Bình em, ơi cô gái đẹp
Cô gái không hề trang điểm phấn son
Nước Đà Giang trong veo như thể
Tâm hồn em xao xuyến, bồn chồn.
Hòa Bình – một vùng núi đá vôi với những khung cảnh đẹp nên thơ được tác giả ví như một cô gái có sắc đẹp trời cho “không hề trang điểm phấn son”, với dòng sông Đà nước trong veo chảy bốn mùa. Bằng trí tưởng tượng và tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của nhà thơ, dòng Đà Giang mang vẻ đẹp trong sáng, tinh khiết.
Mảnh đất Thanh Hóa anh hùng là nơi nhà thơ sinh ra và lớn lên được hiện lên trên những trang thơ qua hình ảnh chiếc cầu Hàm Rồng – một chứng nhân lich sử. Cầu Hàm Rồng bắc ngang qua dòng sông Mã, được Pháp xây dựng năm 1904, đây được coi là một vị trí giao thông trọng điểm trong cuộc đấu tranh đánh phá và bảo vệ giao thông. Nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng từng viết về cây cầu Hàm Rồng gắn với nhiều kỉ niệm tuổi thơ:
Yêu hơn cả cái cầu ao mẹ thường đãi đỗ
Là cái cầu này ảnh chụp xa xa
Mẹ bảo: cầu Hàm Rồng sông Mã
Con cứ gọi: cái cầu của cha.
(Cái cầu- Phạm Tiến Duật)
Còn trong cảm nhận của nhà thơ Nguyễn Anh Nông Hàm Rồng như một chủ thể trữ tình – một chứng nhân của một thời bom đạn. Chiếc cầu đã chứng kiến những đau thương, mất mát của nhân dân, vạch trần tội ác của kẻ thù: Nát tan thôn làng, tứa máu tươi/ Lửa cháy lộ thiên tâm ác quỷ nhưng vẫn đứng hiên ngang cùng thời gian mặc: Mưa nắng, bão giông, sương gió vẫn soi mình trên dòng sông Mã:
Hàm Rồng
Chiếc cầu
Soi
Dòng sông Mã
Núi Ngọc
Đứng
Kiên gan
Mưa nắng, bão giông, sương gió
Bằng những lời thơ giản dị, Nguyễn Anh Nông đã gieo vào lòng người đọc về một vùng quê anh dũng, kiên cường. Thiên nhiên xứ Thanh có sự khắc nghiệt của khí hậu gió Lào cát biển. Chính điều kiện đó đã tôi luyện cho con người nơi đây ý chí, nghị lực vượt lên để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, tạo ra sự thay đổi mới trong cuộc sống:
Một thời mái tranh, mái nứa
Bây giờ mái bằng với tường xây
Con người nơi đây cũng được nhà thơ khắc họa với những tính cách đặc trưng:
Thôn Chín Cảnh, quê anh
Giếng nước trong veo
Người thật thà như lửa
Đó là những con người thật thà, chất phác, so sánh với “lửa” tác giả muốn nhấn mạnh cách sống tràn đầy tình nghĩa yêu thương, luôn giúp đỡ, đùm bọc lẫn nhau.
Cao Bằng cũng là một trong những vùng đất mà nhà thơ đã từng gắn bó trong một thời gian dài. Ai đã từng đặt chân lên mảnh đất này thì không thể không bị thu hút bởi vẻ đẹp sơn thủy hữu tình của một vùng non cao rừng thẳm. Có người đã từng ví quê hương Cao Bằng - cái nôi của những làn điệu Then làm say đắm lòng người - mang hình dáng của một cây đàn tính thiên nhiên mà núi đá là cần đàn, thị xã Cao Bằng là bầu đàn và hai dòng sông Hiến, sông Bằng là hai dây đàn huyền diệu. Bàn tay gió đại ngàn hay ve vuốt hai dây đàn ấy để bật lên khúc nhạc ảo huyền mang những cung bậc khác nhau. Thiên nhiên Cao Bằng có cái nghiệt ngã của khí hậu vùng biên ải núi đá trập trùng. Nhưng cái dữ dội ấy lại được bao bọc trong cái bảng lảng của sương núi, cái trầm sâu mơ màng của sông Bằng mùa nước êm. Sự hòa trộn giữa hai tính chất tưởng chừng như đối chọi nhau đó ở thiên nhiên cũng tạo ra hai đối cực trong tính cách con người nơi đây. Thiên nhiên dữ dằn, con người phải sinh tồn trong cái khắc nghiệt tất lẽ ở vùng đất địa đầu. Sóng đôi với nó là thiên nhiên hiền hòa, dịu dàng, con người được sinh sống trong sự bao bọc, che chở. Chính sự đối cực ấy đã tạo ra sự tương phản mà hòa hợp trong văn chương. Nhà thơ Võ Sa Hà cũng đã từng viết rất hay về vùng đất Cao Bằng:
Mùa thu ấy Bằng Giang rờn sóng nước
Mã Phục run trong gió lạnh biên thùy
Pháo đài cổ loáng ánh trăng xanh mướt
Núi Sa Hà u uất tiễn tôi đi.
                                  (Mùa thu ấy – Võ Sa Hà)
Những địa danh trong thơ Võ Sa Hà như sông Bằng Giang, đèo Mã Phục, núi Sa Hà bước vào thơ thật đẹp, nó mang nặng nỗi lòng của người ra đi. Hiện thực vẫn được đặc tả, nào là sông Bằng mùa nước êm với hàng ngàn con sóng lăn tăn như vờn trên mặt sông, nào là đèo Mã Phục trong tiết trời của những ngày đầu thu. Cảnh đẹp mà thoáng buồn. Còn Nguyễn Anh Nông lại viết:
Có điều gì đau đáu Bằng Giang ơi
Dòng sông quặn mình như người trở dạ.
                                  (Loanh quanh một khúc sông Bằng)
Dòng sông Bằng Giang không chỉ biết đến vẻ đẹp dịu dàng, trữ tình mà còn hùng vĩ, mạnh mẽ mang lại vẻ đẹp hài hòa cho thiên nhiên nơi đây. Những miền quê, vùng đất mà Nguyễn Anh Nông nhắc đến trong thơ đều trở thành chủ thể trữ tình thể hiện tình cảm của mình. Phải là người gắn bó máu thịt với nguồn cội quê hương Nguyễn Anh Nông mới có thể viết lên những câu thơ tràn đầy cảm xúc như vậy về là những vùng đất mà nhà thơ đã đi qua.
Khi lần đầu được tiếp xúc với nhà thơ Nguyễn Anh Nông ta sẽ thấy đó là một người trầm lắng, sống giản dị, ít thể hiện ra bề ngoài. Có lẽ trong cuộc sống, Nguyễn Anh Nông ít khi trực tiếp nói ra những lời yêu thương đối với gia đình. Nhà thơ đã dùng cách riêng của mình đó là viết lên những vần thơ để thể hiện tình cảm đối với người thân và tri ân bạn bè.
Nguyễn Anh Nông viết về cha mình với lòng biết ơn, niềm cảm phục, ngưỡng mộ, cha là: Một dũng sĩ/ Một đồng chí/ Một con người (Bố ơi). Cả đời cha đã phải đối mặt với những ngày tháng gian khổ vào Nam ra Bắc: Nửa đời bố vào Nam ra Bắc/ Nửa đời sau lặn lội với mùa màng (Ngày xuân tảo mộ). Con đường cha đi đầy chông gai, trắc trở, hiểm nguy với “bom gầm/ đạn rú” (Bố ơi). Cả cuộc đời cha đã cống hiến, hi sinh một phần xương máu cho quê hương, đất nước cùng đồng đội mình. Khi hòa bình lập lại, trở về với gia đình cha lại chịu đựng đau đớn, bệnh tật, đó là hậu quả của chiến tranh mà bao người phải hứng chịu. Cuối cùng, cha trở về thế giới bên kia bỏ lại oán thoán, âu lo, để lại sự thương tiếc của gia đình, làng xóm:
Cháu con chèo đò đưa cha đi lặng lẽ
Tiếng khóc sau xe tang, đau xé
Đám mây mùa chì lặng lặng ngập ngừng trôi.
                                  (Bố ơi)
Cha ra đi đã để lại những lời răn dạy, khuyên nhủ con cháu sống đúng đạo lí làm người:
Cháu con độ lượng
Bao dung
Thuận hòa…
Nhìn đời cao rộng, sâu xa
Bàn chân chẳng ngại phong ba, bụi trần
Bởi cháu con không nản lòng, thối chí
Không nấp bóng cha làm điều bậy bạ
Không đào ngũ, thoái lui.
(XV – Lời một người cha)
Thấm nhuần lời dạy đó, Nguyễn Anh Nông là người đã đi theo con đường của cha, trở thành một người lính sẵn sàng hy sinh cho quê hương, đất nước.
Những năm xa nhà đến với những vùng đất xa xôi để thực hiện nhiệm vụ, mọi công việc gia đình và chăm sóc hai con nhỏ đều do người mẹ, người vợ của nhà thơ đảm đương. Vì vậy đối với những người phụ nữ trong gia đình, Nguyễn Anh Nông luôn ca ngợi sự đảm đang, tần tảo và sự biết ơn đối với họ:
Một nắng hai sương mẹ tôi, em tôi
Thắt ruột, thắt gan nghe trời trở gió.
                                  (Mùa hè 98)
Đó là lòng thương cảm của nhà thơ trước sự vất vả, khó nhọc của người mẹ, người vợ, người em mình. Nguyễn Anh Nông cũng như cha luôn dành những lời ca ngợi đẹp nhất dành cho người mẹ thân thương:
Với mẹ con
(Người vợ yêu dấu của cha)
Ngàn lời vàng ngọc không đủ để ngợi ca
Tình yêu, tình thương và nỗi nhớ
Một người vợ, người em, người chị
nàng dâu, quản gia, đội trưởng, nội tướng...
(XV – Lời một người cha)
Đúng là một người phụ nữ quan trọng trong gia đình với nhiều trọng trách phải gánh vách. Đối với người vợ đảm đang “ít ai bằng” luôn được nhà thơ dành những tình cảm chân trọng nhất:
Vợ tôi – vốn cô thôn nữ
Thương chồng con ít ai bằng
Lam làm sớm hôm tất bật
Quên hết mặt trăng, mặt trời.
(Nhà ta)
Những công việc trong gia đình, từ việc lớn đến việc nhỏ, đáng lẽ phải do bàn tay của người chồng lo lắng nhưng tất cả đều được người vợ gánh vác. Dù vất vả, thiếu thốn cả về về vật chất và tình cảm nhưng người vợ thảo hiền đó cũng không một lời than thở và luôn làm điểm tựa vững chắc để nhà thơ yên tâm làm nhiệm vụ.
Với hai người con của mình, Nguyễn Anh Nông luôn thể hiện tình thương, nỗi nhớ vô bờ. Đây cũng chính là động lực to lớn giúp nhà thơ phấn đấu trong công việc:
Con là tình yêu
Của cha và mẹ
Con là bông hoa
Của trời và đất
Con là gió mát
Của đêm oi nồng
Con là dòng sông
Của ngày nắng lửa…
                                  (Con là)
Có thể thấy, thế giới hình ảnh trong thơ Nguyễn Anh Nông rất phong phú, với mỗi hình ảnh thơ riêng biệt, nhà thơ lại sử dụng bút pháp nghệ thuật riêng. Đó đều là những hình ảnh gần gũi, mộc mạc, chân gắn bó máu thịt với tác giả và được cảm nhận bằng trái tim của một người nghệ sĩ đích thực.

Trong THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NGUYỄN ANH NÔNG

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 02.5.2014.

Quay Lên Đầu Trang