Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




THI PHÁP CA DAO TRONG

“MIỀN DÂN GIAN MÂY TRẮNG”



1. Trước hết, xin nói đến tên các bài thơ trong tập. Ca dao vốn không định danh từng bài. Người đời sau thường dựa vào câu thơ đầu, để đặt tên như Tát nước đầu đình, Trèo lên cây bưởi hái hoa... Trần Nhuận Minh cũng vậy. Bốn mươi ba bài trong Miền dân gian mây trắng, đều được đặt tên như thế cả. Nào Con chim nó đậu..., Ngày này tháng nọ..., nào Sáng qua anh đến..., Một lần em ghé qua đây... Nghe vừa dân dã, vừa pha chút hóm hỉnh, mà ẩn ý sâu xa. Đặt tên bài thơ theo kiểu này dễ gây hứng thú cho người đọc.
2. Các đề tài là bức tranh sinh hoạt đời thường, diễn ra hàng ngày quanh ta. Cổ kính có. Hiện đại có. Chuyện cưới xin. Chuyện ma chay. Chuyện đổi thay làng xóm. Chuyện cặp bồ, cặp bịch. Chuyện tuổi trẻ. Chuyện người già... Từ các chuyện đó, tác giả thường rút ra những bài học về nhận thức, về lối sống, về nhân cách, nhưng lắm lúc cũng chỉ là chuyện vui, thế thôi!
   Bên cạnh lời cảnh tỉnh:
              Cá mà trông thấy lưỡi câu
              Thì dù có đói dám đâu đớp mồi
              Trớ trêu là tại Ông Trời
              Sinh ra cái bẫy nhử người tham lam...
                           (Cá mà trông thấy...)
  là giây phút đùa vui, hài hước:
              Anh đây, công tử họ Trần
              Thấy em trắng tựa ngó cần... cũng mê
              Chờ anh, anh đón em về
              Anh còn mượn áo với thuê cái quần...
                              (Anh đây, công tử...)
Nhưng khá nhiều bài thơ trong tập dừng lại ở góc độ phê phán. Thuận lẽ trời thì tồn tại. Ngược thiên tính, trái nhân tình thì bị người đời ghét bỏ, chê bai. Đó là cái sùng ngoại, mất gốc của các cô gái tân thời (Sáng qua anh đến...), là cái thói trục lợi, xu nịnh người quyền quý của kẻ cơ hội (Ông già nằm trong quan tài), là cái đổi mới xói mòn truyền thống văn hóa dân tộc (Trăng xưa…, Làng tôi thành quán...), là cái tính chạy theo đồng tiền của một số đương chức (Ta qua bến Lú...). Điểm mạnh của thơ Trần Nhuận Minh ở góc này là trào phúng kết hợp với trữ tình. Trước bao nghịch cảnh diễn ra hàng ngày quanh ta, tác giả tận dụng cái cười châm biếm, nhưng là cái cười ra nước mắt. Xót xa lắm chứ. Đau lòng lắm chứ:
           " Ta về ta tắm ao ta”
                  Nghe câu hát cũ mà da sưng phồng…
           (Trăng xưa...)
3. Nói tập thơ nghiêng về đề tài thường nhật, giản dị, nhưng không vì thế mà đơn điệu. Trái lại, rất đa dạng, nhiều bài thơ đạt tới độ sâu triết lí nhân sinh. Chẳng hạn, nói về sự im lặng, ở trường hợp này là vàng:
                   Cây trong im lặng, trổ hoa
                   Trời xanh không nói vẫn là trời xanh…
            (Khó thay là biết…)
Nhưng ở lúc khác, như trước những bất công, thì “im lặng là tội ác” (Từ xửa từ xưa…).
Từ cách nhìn đó, ta thấy thơ Trần Nhuận Minh giàu tính phát hiện. Đấy là những phát hiện của đôi mắt thẩm mĩ, của sáng tạo nghệ thuật, mang màu sắc dân dã, ít hàn lâm. “Không mưa, biển nước vẫn đầy”, không có gì mới, nhưng khi nhà thơ viết:
                    Vì cành nặng quả mà cây cúi đầu…
(Gió đưa khói bếp...)
thì lại là một phát hiện tài tình, giàu cảm xúc. Bóng với người được nhà thơ xưa nay nói nhiều như Lí Bạch, Tản Đà... nhưng nghiêng về phía trữ tình. Còn Trần Nhuận Minh rút ra một nhận định ẩn dụ, hàm ý phê phán:
                  Khi anh đứng quay lưng về phía mặt trời
                  Bóng tối của chính anh
                                   sẽ ngả dài trước mặt…
              (Khi anh đứng…)
Đây cũng là một phát hiện, chứa đựng chất triết lí khá sâu sắc. Tôi tâm đắc nhất khi nhà thơ nói về sự trả thù của Tấm đối với Cám, người em cùng cha khác mẹ, bởi ông đứng trên quan điểm nhân văn chủ nghĩa, chứ không xuất phát từ quy luật ác giả, ác báo:
                  Man rợ và thấp hèn
                  Cô Tấm vợ vua là một người như thế...
           (Vẫn còn đây…)
Lắm câu thơ lấp lánh trí tuệ, như rút ra từ gan ruột nhà thơ:
                  Thương ôi!
                  Có những viên kim cương
                  Đến gần mới biết
                                      là những giọt nước mắt...
(Lên ngựa xuống xe...)
Hoặc khi bàn về sức mạnh của phái yếu, Trần Nhuận Minh nói theo cách phóng đại, hợp với lối diễn đạt dân gian:
                   Cho hay sợi tóc đàn bà
                   Trói trâu trâu chết, kéo nhà nhà xiêu…
           (Trời cho nhan sắc...)
Không pha từ Hán Việt như trong Truyện Kiều:
                         Cho hay cái sóng khuynh thành
                          Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi…
Có những hiện tượng thoạt trông thì phi lí:
                  Tay dài chẳng với tới lưng
                   Cửa không đóng được thì đừng mở ra
                    Hương hoa không ở trong hoa...
                                    (Tay dài chẳng với...)
Song nghĩ cho kĩ, lắm lúc muốn đến chỗ hợp lí, ta phải giải quyết bằng phi lí. Muốn nhanh tới đích trên con đường dài, anh phải đi chậm. Muốn nhận biết ai là bạn tốt, anh phải bước vào thế giới nghịch lí:
                   Chó cũng sủa nhầm, anh hãy mở cổng ra
            Người bạn tốt nhất của anh
                                       thường ít đến thăm nhà...
           (Chó cũng sủa nhầm...)
4. Cảnh vật trong tập thơ là chốn đồng quê hoặc thị thành, làng xóm thân quen:
            Làng tôi thành quán hết rồi
            Bún gà, lòng lợn... cứ xơi suốt ngày…
             (Làng tôi thành quán...)
Còn nhân vật cũng vậy. Những bà mẹ. Những cô gái nhan sắc. Người bán hàng rong. Ông giám đốc… Sang có. Hèn có... Nhân vật thực đối thoại cùng thần thánh. Lại có cả sư nữa:
            Đêm qua, gió lạnh sân chùa
            Có hai bà vãi bỏ bùa ông sư…
            (Châu chấu sang hỏi...)
có lẽ nhà thơ lấy cái tứ ở bài ca dao xưa:
            Ba cô đội gạo lên chùa
            Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư...
Và cũng như ca dao, để phong phú thế giới nhân vật, Trần Nhuận Minh đã nhân hóa cây cối, động vật, đồ vật... Khi là cây chanh, con cá. Khi là con cò, con châu chấu hoặc cào cào:
            Châu chấu sang hỏi cào cào:
           " Nước trong, cá sống thế nào hở anh?”
(Châu chấu sang hỏi...)
Tác giả không cá tính hóa các nhân vật, mà để chúng tham gia vào câu chuyện nào đấy, làm bật ý nghĩa bài thơ, dù có khi hé lên tính cách nhân vật trữ tình:
            Ta sống dung dị và tự nhiên
                                   như Cây, như Đá
            Không là công cụ trong tay ai
                               để đánh chó, dọa người…
(Ta sống dung dị…)
5. Nhiều bài thơ hóm hỉnh, như ta thường gặp trong ca dao. Này đây là lối nói phóng đại, đáng yêu, về đám cưới chàng công tử họ Trần:
            Xe Công Nông rất rộn ràng
            Rước dâu, mời cả họ hàng cùng đi…
            (Anh đây, công tử...)
Này đây, là cái lú lẫn của người già, khiến ai đó phì cười:
            Cúc quần đôi khi không đóng
            Cái trong thì để ra ngoài…
            (Quê ta…)
Cái hóm dạng tiếu lâm. Nhưng khá nhiều cái hóm được khai thác theo ý nghĩa triết học, từ các mặt đối lập, như trong bài thơ Nhà thơ nói gì...:
            Nhà tư tưởng nói gì cũng sai
                                                   thì thật đáng yêu
            Còn không nói gì thì đẹp vô cùng…
            (Nhà thơ nói gì…)
Quan hệ giữa cái không và cái có của triết học Phương Đông ư? Hay sắc sắc, không không của đạo Phật? Tác giả cũng tận dụng các biện pháp tu từ thơ ca dân gian như phép ẩn dụ:
            Đi hết đời vẫn không hết nỗi lo toan của mẹ
            Và ngẩng lên lúc nào
                                cũng thấy bóng mây xanh...
            (Ông Trời sinh ra...)
Hay vừa ẩn dụ, vừa nhân hoá:
            Anh nhìn gió động bờ tre
            Thương con cò trắng bay về, bơ vơ...
            (Sáng qua anh đến...)
Hoặc phóng đại để đề cao một nhan sắc trời cho:
            Ngày nào em đẹp, em dòn
            Em qua, chó đá cũng còn vẫy tai...
            (Ngày nào em đẹp...)
Cũng có khi nói phiếm chỉ, tạo cảm giác, chuyện xẩy ra thời nào cũng được; ca dao, truyện cổ tích, hay dùng:
            Ngày này, tháng nọ, năm kia
            Tình cờ vào một quán bia, gặp nàng…
Lại đôi khi, nói ngược một cách tinh ma:
            Chỉ thương các cụ chết rồi
            Làm sao sướng được như tôi thế này...
Chỉ là nhà thơ kể chuyện Làng tôi thành quán hết rồi, ai nấy mải mê ăn nhậu, hội họp, xướng ca, rồi ngậm ngùi nhớ đến các Cụ đã về cõi từ lâu, không được sướng vui cùng con cháu. Ch “sướng” dùng thật đắt.
Có bài lặp lối diễn đạt ca dao, nhưng được cách tân:
            Sáng qua anh đến thăm em
            Thấy cha, đứng ở bên thềm tưới hoa
            Thấy em, soạn sách trong nhà...
            (Sáng qua anh đến...)
làm ta nhớ đến bài ca dao:
            Hôm qua, anh đến chơi nhà
            Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường
            Thấy em nằm đất, anh thương...
Trần Nhuận Minh cũng rất thông thạo vận dụng thể đồng dao, cả hình thức đến nội dung, vừa gợi không khí dân dã, vừa hiện đại, lại trữ tình nữa:
            Ngày xuân chơi oẳn tù tì
            Trong tay, anh có cái gì thì ra...
            (Ngày xuân...)
Và lại thử tài trong thể ngụ ngôn:
            Túng đói cũng chẳng làm liều
            Bởi chưng ngược gió mà diều bay lên
            Sông sâu nước chảy mới êm
            Để thui con chuột, chớ nên đốt nhà...
             (Túng đói cũng chẳng...)
Nhà thơ sử dụng ngôn ngữ rất giàu tính nghệ thuật, uyên thâm, khi cần, có thể dùng cả khẩu ngữ, mà lời thơ vẫn trang nhã, sinh động:
            Ối giời ơi! Đến nỗi này
            Ăn gì mà bụng mỗi ngày một to
            - Ứ  hừ... Ai khiến anh lo
            Lo trâu đen cổ, lo bò trắng răng...
           (Ngày nào em đẹp...)
Nhà thơ có tài chắt lọc ngôn ngữ, đôi khi, chỉ cần một từ đã lột tả được thần khí của đối tượng miêu tả. Chẳng hạn, lời của một người vợ nông thôn, mỉa mai ông chồng thích đi đây, đi đó, để tìm của lạ, rồi cuối cùng, phải quay về với bà xã:
            Vợ ra ruộng khoán vừa về
            Rằng: “Không thoát khỏi gái sề này đâu!”
            (Một đi...)
Chữ “gái sề” nói được cả hai: chồng và vợ. Hoặc cũng ngôn ngữ bà v khá đanh đá với đức ông chồng:
Về nhà, vợ mắng rầm rầm
            Hai hòn nguyên tử, ông... cầm cho ai?...
           (Hỏi chàng quân tử...)
Nói về một vật dung tục mà dùng một thuật ngữ khoa học hiện đại, để tạo nên nụ cười dí dỏm, có lẽ chỉ có một Trần Nhuận Minh mà thôi. Rõ ràng, nhà thơ đã vận dụng tính đa nghĩa của từ tiếng Việt, khi làm nhoè nghĩa gốc, khi chuyển nghĩa, khi lập l cách hiểu:
            Chị tôi đi Nhật, đi Tây
            Muốn cái gì cũng được ngay cái gì...
            (Trời cho nhan sắc...)
Thật ra cái khó của sự vận dụng thi pháp dân gian không phải ở chỗ lặp những mô típ chữ nghĩa, những hình ảnh tượng trưng đã được định hình, hoặc những biện pháp tu từ, như ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, phóng đại, mà cái khó nhất là làm sao bài thơ toát lên được cái hồn dân dã, cái âm hưởng ca dao, có chiều sâu tâm linh dân tộc. Bài thơ Ngày xuân, có thể vươn tới chuẩn mực đó chăng?
            Ngày xuân chơi oẳn tù tì...

Cuối cùng, ta hãy cùng tác giả trở về cội nguồn, sau những năm tháng gian nan, khổ ải trên đường đời, để rũ hết bụi trần, để lọc sạch tâm hồn, sống thanh thản, hồn nhiên, giữa một không gian quen thuộc, gần gũi, nhưng đầy tính huyền thoại, có lúc ta tưởng như xa lắc, xa lơ:
            Thôi về với “Tiếng võng kêu”
           Ba gian nhà nhỏ, sớm chiều bình yên
            Khi đi bộ, lúc bơi thuyền
            Bốn phương mây trắng một miền Dân gian...
            (Hình như từ đất...)
 Thơ Trần Nhuận Minh đã đến được cái đích, là chủ nghĩa nhân văn và truyền thống văn hóa, đạo lí của dân tộc.
 
Trong “TRẦN NHUẬN MINH
VÀ BA LẦN ĐỊNH VỊ CHO THƠ
 Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2009

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 02.5.2014.

Quay Lên Đầu Trang