Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

nhà thơ Trần Vấn Lệ
















Hái Nụ Hoa Quỳ Để Vào Tay Nguyễn

 

Nguyễn báo tin qua:  “Dran mưa tạnh.  Mùa Thu đã về, gió đã heo may, và anh ơi hoa quỳ nở dọc đường đi Cà Beu, Lạc Nghiệp...  Anh về có kịp mùa hoa không anh?”.

 

Tôi hồi âm nhanh:  “Anh về vẫn hẹn bao giờ biển cạn thì anh sẽ về…”.

 

Tôi không thêm gì sau email đó.  Nếu bắt được gió gửi về buồn hiu!  Nếu gói được chiều như thếp lụa nhỉ…em thấy lụa Mỹ không bằng Mã Châu, không bằng B’Lao, Hà Đông thì nhất!

 

Tình yêu Tổ Quốc như người yêu người.  Nguyễn chắc không cười mà buồn rười rượi? Tôi nói, tôi nói…toàn chuyện vô thường!  Nguyễn thì dễ thương, tim tôi cố định!  Ngày đi lính quýnh, ngày về miên man…Nguyễn ở Dran lang thang hồn mộng, một ngày còn sống, một ngày thấy thừa…may nhờ nắng mưa lấp đầy nhung nhớ…may mà còn lụa vuốt ve chiều chiều; vuốt cả buồn hiu, vuốt từng giọt lệ!

 

Bao giờ tận thế?  Bao giờ Chúa ơi!  Tôi nói nghẹn lời vì tôi ngoại đạo!  Đã là chim sáo thì thôi không về!  Biển cạn?  Không hề!  Ngày về?  Không có!  Mặt trời mà nhỏ như mặt trăng khuya, chắc tôi sẽ về, chắc tôi sẽ về…

 

hái nụ hoa quỳ để vào tay Nguyễn, rồi nhìn cái miệng Nguyễn cũng là hoa!   Hỡi ơi trăng tà, hỡi ơi nguyệt xế, không có tận thế…chỉ có tận tình!  Mình ơi anh rất nhớ mình, hàm răng mình trắng, cái nhìn mình xanh…



Dì Ơi Đúc Bánh Căn Cho Con Ăn Dì Nhé

 

Không ai muốn bỏ nước đi làm người lưu vong.  Biết bao người đau lòng:  Tại sao mình viễn xứ?

 

Thôi, coi như quá khứ!  Lịch sử úp lại đì!  Nhiều người đã trở về dù mang quốc tịch khác…

 

Những cái gì mất mát, thôi cũng bỏ qua đi!  Cái gì không lưu ly?  Từ mái đầu sắc tóc!

 

Hình như ai cũng khóc trước mộ của Tổ Tiên.  Không có một ai quên, lạ kỳ là đỉểm đó…

 

Này, chỗ nằm của Má, chỗ kia Ba thường ngồi.  Chỗ này mình hay chơi với bạn bè đánh chắt… 

 

Ai cũng lau nước mắt!  Tại sao lại không lau?  Tại sao xe chạy mau?  Tại vì nhiều đường mở?

 

Xe qua cánh đồng lúa, xe qua cánh đồng ngô, đám mía lau phất cờ…và bờ sông, bến nước…

 

Trời ơi làm sao được ngắm mái tóc thề bay?  Làm sao mình đi ngay khi áo dài phất phới…

 

Đường đi nào cũng tới…hết biển về lại làng!  Dì ơi đúc bánh căn cho con ăn dì nhé!

 

Má ơi lau con lệ bằng chéo góc poncho của Ba con ngày xưa che mưa trên mặt trận…

 

Bác tài ơi chạy chậm Bác tài ơi chạy chậm…tôi muốn nhìn thấy nắng…nắng vàng buổi hoàng hôn…

 

Chào Bình Minh Bonjour

 

Không còn gì vui hơn:  sáng thức dậy mở cửa, ngó ra vườn hoa nở…Hoa thức dậy với mình!

 

Không lời nào đẹp hơn:  Chào Bình Minh Ngày Mới!  Những con bướm như đợi mặt trời, rủ nắng bay…

 

Ô nắng bay lên cây!  Khói huyền ta thả đó…Mình bỗng thành làn gió, mình bỗng thành làn sương!

 

Ta nhìn xa, xa hơn:  xe bus vàng vừa tới, những đứa học trò đợi leo lên xe, xe đi…

 

Không còn gì, có gì?  Chữ Vô Thường nghĩa vậy…là những gì mình thấy giống như là giấc mơ?

 

Chữ Vô Thường là Thơ – hồi nãy mình chưa có, bây giờ có, rồi đó…gió thơm trên bàn tay…

 

Tôi nói chuyện với ngày bởi có ai đâu nói!  Những dấu than dấu hỏi, cỏ vàng gió lung lay…

 

Cỏ vàng gió lung lay, mùa Thu rồi, bước khẽ, tóc thề em gió rẽ những đường ngôi dễ thương…

 

Đời quả thật vô thường, muốn nghĩ sao cũng được,  cọng khói huyền lả lướt rồi tan, tan như mơ…

 

Tôi nâng niu cành hoa…tôi nghĩ mình là bướm, tiếng chuông Chùa giao hưởng tiếng lòng tôi long lanh…

 

Tôi nói với bình minh:  Anh Chào Em Yêu Quý.  Tôi nói với ai thế?  Ai…cũng là Bình Minh?

 

Đi Khắp Nước Tìm Quê Hương

 

Em nói em đi khắp nước mà tìm chưa thấy Quê Hương.  Em đang đứng bên Ải Bắc sao Tàu dám gọi Nam Quan?  Đây đường chúng dẫn quân sang và bắt ta gọi như chúng?  Ở trong hoàn cảnh lúng túng, ta ngả theo Tàu cho yên?  Lịch sử cứ ngả cứ nghiêng, lòng người cũng nghiêng cũng ngả!  Hai chữ Việt Nam (*), xỏ lá, dân ta cứ chạy về Nam.  Tội nghiệp cho vua Gia Long đặt tên Nam Việt nghĩa khác – chữ Việt bộ Mễ, phát đạt, ấm no hạnh phúc muôn nhà, ứng với Gia Long, tăng gia, ứng với Gia Long thịnh vượng…

 

Lịch sử xoay như gió chướng, dân mình càng lớn càng ngu.  Tản Đà từng nói như cù:  “Nước bốn ngàn năm không người lớn, dân lên trăm triệu toàn trẻ con!”.  Từ khi Đảng ta đăng quang, thơ của Tản Đà xếp xó…

 

Ta nói dân Miên mọi rợ, nó đổi tên Cambodia,  Pháp chia nước ta Bắc Kỳ, Nam Kỳ, Đảng gom một mà…tan nát!  Uổng công chính quyền miền Bắc xua quân giải phóng miền Nam!  Từ tháng Bốn năm Bảy Lăm…đến giờ toàn Tây, toàn Chệt!

 

*

 

Em nói em đi đã mệt, từ Nam ra Bắc về Trung…đến đâu cũng muốn nổi khùng:  nhìn rừng không còn gỗ quý, nhìn biển không còn cá nhảy, nhìn đường ổ ngựa ổ voi!  Xe lửa mình thì thụt lùi hơn một trăm năm, thảm thiệt!  Em nghĩ em đi cho biết Quê Hương / nùi giẻ thế nào?  Không ai còn nghĩa đồng bào chỉ còn tham lam cướp giật…Cầm tờ báo ngày lên đọc, bao nhiêu nước mắt cho vừa?

 

Em ngó lên tượng Bác Hồ, may còn hai tay chắp lậy!

 

 

(*) Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802, đặt niên hiệu Gia Long (giàu có), đặt quốc hiệu Nam Việt (chữ Việt viết bộ Mễ, mễ cốc/ lương thực) rồi cử Sứ sang Tàu cầu phong chịu làm An Nam Quốc Vương.  Năm 1804, sau gần 3 năm suy nghĩ, vua nhà Thanh cử Sứ sang bắt buộc:  tên nước đổi ngược, Việt Nam, chữ Việt với bộ Tẩu, chạy trốn về Nam, không được léng phéng lên phía Bắc theo gương Triệu Đà và Quang Trung, không được đòi hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây. Tàu không công nhận kinh đô của ta là Huế, nhất định cứ là Thăng Long và giao thiệp với triều đình nước ta ở đó, Vua Gia Long và các vua kế vị đều phải ra đó đón tiếp Sứ Tàu.  Vua Gia Long không dùng hai chữ Việt Nam, nói tắt nước ta là Nam Quốc.  Năm 1820, vua Minh Mạng nối ngôi, đổi tên nước lại là Đại Nam, năm 1834 chính thức đổi tên Thăng Long thành Hà Nội, không giao thiệp với Tàu nữa vì chiến tranh xâm lược của phương Tây đã lan tới châu Á, chiếm nước ta và gần trọn nước Tàu.  Ta, chính quyền Việt Nam, từ 1945 đến nay không biết xấu hổ khi:  Xiêm La (tức giận vì Tàu gọi là Tiêm La) đổi tên thành Thailand, Cao Miên (tức giân vì vua ta gọi là Cao Man, Cao Mên, Cao Miên) đổi ra Cambodge rồi nay là Cambodia, Nam Dương đổi ra Indonesia, Holland đổi ra Neitherland, Nam Triều Tiên đổi ra Hàn Quốc.  Dân ta quá ngu, Hồ Quý Ly từng đặt tên nước là Đại Ngu (1400 – 1407).  Ông Tản Đà từng có thơ:  Cũng bởi dân mình ngu quá lợn, cho nên quân nó mới làm quan!  Nước ta là nước Việt Nam, cứ chấp nhận nhưng phải chua cách viết lối Hán Tự, chữ Việt bộ Mễ đi, dám không?  Phan Bội Châu thần phục Tàu, xin với Tôn Dật Tiên cho mình lập Việt Nam Quang Phục Hội ở bên Tàu chống Pháp (1905), Nguyễn Thái Học quyết tâm theo đường lối của Tôn Dật Tiên, xin Tàu ủng hộ mình dựng Việt Nam Quốc Dân Đảng coi như một tổ chức ngoại vi của Trung Hoa Quốc Dân Đảng.  Rồi…Trần Trọng Kim cũng chẳng thông minh hơn, lập chính phủ Việt Nam từ tháng 3 năm 1945…trong khi vua Bảo Đại vẫn là Đại Nam Hoàng Đế cho đến ngày phải thoái vị, tháng 9 – 1945!

 

Buồn quá lắm!  Hận ngút trời!



Khói Quyện Trầm Hương

 

Hôm nay em nói em đi Chùa, em sẽ ăn trưa ở đó trưa, ăn cho được nhẹ lòng ham muốn, cho thấy đời không có thiếu, thừa…

 

Em muốn hồn nhiên như lúc nhỏ níu tà áo Mạ nép lưng Ba, em quỳ tay chắp Nam Mô Phật…lòng tự nhiên bừng một đóa hoa…

 

Em nói dễ thương như tiểu thuyết để anh mặc sức diễn thành thơ.  Chúng ta rồi sẽ như chim sẻ ríu rít bên nhau trước bệ thờ…

 

Em nói líu lo như chim rừng hôm nào về đậu ở Dran, áng mây Ngoạn Mục trùm Eo Gió, hoa anh đào nở rực sáng Xuân…

 

Em nói như là chuông thánh thót, ờ em hôm nay em đi Chùa, Sư Ông sẽ tặng phong bì đỏ, em cúi đầu, em ấp úng thưa…

 

Ôi em, em vẫn là cô bé, vẫn nhé như trăng tháng Bảy Rằm, xá tội vong nhân, đời hạnh phúc với người kề cạnh kẻ xa xăm…

 

*

 

Hồi tối anh mơ thấy dọc đường, một o xinh lắm áo mù sương, anh đưa tay hứng vầng trăng bạc rồi gọi âm thầm em-cố-hương…

 

Em nói nữa đi, em cố quận, con đò, bến cũ, bóng cây đa…Mái tranh quán lá ngày mưa bão, khói quyện trầm hương anh thiết tha!


 
Dòng Sông Con Sông

 
Tôi viễn xứ nhận ra điều có lẽ

Tim mỗi người đêu có một dòng sông?

Kai Hoàng

 

*

 

Một hôm "phượt" face book, tôi đọc Bích Nga một câu :  "Sông ơi trôi đi đâu?".  Bích Nga đứng ngay trên con sông không sâu...vì sông không có nước!  Sông ở California chắc cũng đi "phượt" ở đâu, hết rồi.  Mùa mưa, sông vẫn vơi, vì mưa rất là ít. Nhiều con sông đen nghịt bầy quạ đậu kiếm ăn.  Nhiều con sông lang thang...trong mắt người giọt lệ.

 

California này là thế.  Đọc thơ Kai Hoàng, tôi nhận ra điều có lẽ mỗi trái tim người tha hương đều có một dòng sông!  Đúng như...boong!  Lưu Trọng Lư từng nói:  "Mắt em là một dòng sông, thuyền anh bơi lội trong tròng mắt em!".  Nhiều con sông đổ ra biển thì...thành biển.  Đúng thôi!  mà biển khi người tha hương vượt sóng lên bờ rồi thì đâu còn có nước mặn nữa, chỉ còn nước mắt!    Hồi nào  Một là con nuôi Má, hai là con nuôi cá, ba là Má nuôi con", may mắn được dung thân có công ăn việc làm, có tiền con gửi về hay mua quà gửi về nuôi Má, là điều thứ nhất, là điều ao ước nhất! Còn hai điều kia, không may bể thuyềnbị cá đớp, con người thành mồi ngon của cá.  Vàcái ít  không may hơn, lỡ mà bị "bộ đội duyên phòng" chớp được, con chắc chắn đi tù..., lúc đó Má tha hồ lặn lội thăm nuôi con!  Sau ba mươi tháng 4 Việt Nam mình, chuyện “bỏ đi” như nước chảy đá mòn...Tôi viết con số 4, bạn à, tôi không viết chữ Tư...vì ai cũng đếm một, hai, ba, bốn.  Tháng thứ tư của năm là tháng bốn, đúng chứ?  Đúng...y chang!  Hầu như người mình ai cũng biết có một nhà thơ...thường giả vờ khùng là Bùi Giáng.  Ông làm thơ thả giàn, nhiều vô số kể, nhà văn Mai Thảo, tác gỉa nổi tiếng với truyện ngắn đầu đời của mình là Đêm Giã Từ Hà Nội cho biết là có đêm ở lại tòa soạn báo Văn ở Sài Gòn, Bùi Giáng làm cả ngàn bài thơ, không chuyện gì mà ông né, kể cả chuyện ông viết những câu thơ van nài nghệ sĩ Kim Cương đái trên mồ ông vài giọt…khi một mai ông chết!  Vì làm thơ nhiều quá, ông phải để nhiều bút hiệu...cho vui.  Ông từng có bút hiệu Báng Giùi, Bùi Văn Bốn, Bùi Văn Bốn Lù.  Cái bút hiệu Bùi Văn Bốn của ông động lòng trắc ẩn của một nhà thơ ngoài nước Việt Nam, người ấy khoe mình từngdựa hơi Bùi Giáng, kết thân cùng Bùi Giáng những hai mươi năm hơn khi còn “sanh hoạt” ở thành phố Hồ Chí Minhtrước khi Bùi Giáng đột ngột chuyển sang từ trần và thi sĩ ấy đột ngột chuyển sang...đi Mỹ - tại Mỹ, chàng “mần” nhiều bài thơ nhớ nhung Bùi Giáng và noi gương Bùi Giáng, chàng "sáng tạo" chữ nghĩa theo “kiểu” của Bùi Sư Phụ…là những bài thơ “chuyên” nói lái...lái dủm, giải phóng, tồn lưu, nắng cực…Con số 4 mà tôi viết cũng xin được coi là tí tí dựa hơi một thi hào vĩ đại là Bùi Giáng vậy nha!  Bạn ơi, bạn thử nói ngày-ba-mươi-tháng-bốn-năm-bảy-nhăm, đi, nghe nó mát cái miệng biết đến ngần nào!  Hút thuốc lào và ăn nói có “văn hóa” như thế mới là người văn minh chớ bộ!  Chẳng chi cũng thể hoa nhài, chẳng chi chi cũng là người Tràng An, mà lại!

 

Kai Hoàng, thật tình tôi mới thấy tên một người thơ, lần đầu nhờ tôi “phượt” trên cái website  vanchuongviet.org.  Dù chưa đọc được thơ Kai Hoàng (nếu đã in thành sách hay trên báo nào), tôi vẫn thích một cách sững sờ, một cách không ngờ, hai câu nói như tưng tửng:  Tôi viễn xứ nhận ra điều có lẽ / tim mỗi người đều có một dòng sông. Tôi không giấu là tôi rất mềm yếu khi đọc được một bài thơ của Trúc Thông, ngắn thôi, trước Kai Hoàng, hơn mười câu thì phải, trong đó có sáu câu làm tôi nghẹn ngào:

 

Xin người hãy trở về quê

Một lần cuối…một lần về cuối thôi

Về thương lại bến sông trôi

Về buồn lại đã một đời tóc xanh!

.

Lá ngô lay ở bờ sông

Bờ sông vẫn gió, người không thấy về!

 

Trúc Thông chắc làm xong mấy câu “đoạn trường thất thanh” đó không ngó ra bờ sông nữa, mà úp mặt?  Tôi tưởng tượng vậy vì tôi đang úp mặt!  Không có cách nào, không còn cách nào, không biết làm sao…mà tôi tràn trề nước mắt!  Lá ngô lay ở bờ sông, ờ sông vẫn gió, Trời ạ, Trời ơi, bờ sông vẫn gió!

 

Tôi sinh ra ở Phan Thiết, học tiểu học và trung học đệ nhất cấp ở quê nhà, trung học đệ nhị cấp thì lên Đà Lạt học tiếp và Đà Lạt tôi ở hoài hơn ba mươi năm, nếu không có biến cố lịch sử ba-mươi-tháng-bốn-bảy-nhăm, thì tôi ở hoài với Đà Lạt.  Những giai đoạn đi lính có xa Đà Lạt nhưng không phải là từ biệt Đà Lạt.  Có thể Đà Lạt sẽ là Vùng Năm Chiến Thuật của tôi lắm.  Đà Lạt ơi, tôi thương nhất đời tôi, xứ sở lạ lùng:  bạn đi giẫm nát núi rừng Đà Lạt bạn không hề đạp gai vì không có loài cây nào có gai!  Cây hoa hồng có gai thật và chắc là loài cây (hoa) duy nhất, là vũ khí của các nàng.  Muốn có cây hoa hồng, người ta nghiên cứu tạo nó ra từ cây hoa tầm xuân…mà hoa tầm xuân thì chỉ nở ra cánh biếc!  Em có chồng rồi, anh biết!  Người con gái ngồi trên lưng voi đóng vai Trưng Nhị, đã đi lấy chồng từ năm mười bảy.  Trăng khuyết rồi khuyết mãi trong hồn tôi…Tôi nhẫn nha lang thang nãy giờ là tôi muốn nói tới con sông Cà Ty ở Phan Thiết.  Con sông không dài lắm, chừng hai mươi cây số ngàn, phát nguyên từ vùng sơn cước cuối của dãy Trường Sơn, ở đó có một cái ga xe lửa, bây giờ mang tên Ga Bình Thuận, trăm năm trước nó là ga Mương Mán(g).  Đúng nó là Mương Máng do bởi người Pháp đào một cái hồ chứa nước ngọt, họ đào một con mương dẫn nguồn nước chính vào hồ chảy qua một cái máng rất lớn, dân địa phương thấy cái mương cái máng thì gọi tên đây là Mương Máng.  Năm 1954, đồng bào miền Bắc di cư ồ ạt và ào ạt vào Nam, nhóm người này là dân mạn ngược ở miền Bắc gồm có người Mường, người Mán, người Lô Lô…, nói gọn là dân-thiểu-số…được chính quyền Ngô Đình Diệm “đặt đây ngồi đó” thôi, rồi thì vùng đất này có tên nửa vời Mường Mán, và câu ca dao biến thành câu hát ru con:  “Tiếc thay cây quế giữa rừng để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo!”.  Nước trong cái hồ chứa khi ở cái mức nhất định thì trào ra ngoài và theo dòng có sẵn chảy về Phan Thiết.  Đó là sông Cà Ty, tên đọc từ tiếng Thượng, viết K’ Ty, đọc Ca Ty, nhưng người Việt mình thích dấu huyền nên nó thành Cà Ty.  Mấy chữ K’rongpha, K’Tang, K’ Đú, K’Loon…, người mình đọc Cà Rông Pha hay Sông Pha, Cà Tang, Cà Đú, Cà Loan…Nói đến Cà Ty, tôi nhớ con sông Cà Ty lắm.  Con sông này tôi đã từng lội qua, không sâu, tôi từng tắm, giỡn hồi còn con nít học đệ thất, đệ lục.  Nó là ký ức tuổi thơ của tôi, với tôi, hồi tôi nhỏ, nó chỉ là con sông…không mơ mộng, mơ mòng gì cả.  Nhưng với những người làm thơ chắc chắn có vấn đề!  Tôi gặp Hoài Khanh một lần ở Đà Lạt, tôi nhắc cho ông ấy nghe một bài thơ ngắn, lục bát, chỉ có bốn câu, của ông ấy nằm mãi trong đầu tôi.  Với tôi, nó hay tuyệt.  Hoài Khanh bảo tôi đọc đi.  Và…

 

Một dòng xanh mấy niềm sâu

Chợt nghe gió lạnh từ đâu thổi về

Giật mình sương rụng trên đê

Người đi rồi chẳng thấy về, chao ôi!

 

Tôi đọc xong, Hoài Khanh rưng rưng…Ông rút trong cái cặp táp, cartable, cuốn truyện ngắn Chị Tôi Dế Mèn Và Gió ký tặng tôi.  Hoài Khanh làm bài thơ trên đặt tựa đề Cà Ty tôi thấy đăng trong giai phẩm Mây Thu do Tạ Tỵ chủ trương.  Ông không sống thường ở Phan Thiết mà có cơ ngơi trong Biên Hòa.

 

Bài thơ Cà Ty theo tôi từ năm 1958…Năm 1978, cải tạo tại K’Loon, đêm trăng tôi tới phiên trực gác anh em, ngồi trên bờ sông nhỏ, ngó trăng, cảm khái bài thơ ấy, nhớ lại.  Giật mình.  Không phải vì sương rụng mà vì Hoài Khanh làm thơ chỉ có bốn câu mà mắc lỗi:  hai chữ về!  Bài thơ vẫn hay!  Vẫn hay?  Chắc vậy…vì cái bài Sen cũng chỉ bốn câu, trật luật thơ lục bát, vẫn cứ là hay, mãi mãi:

 

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng

Nhụy vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn!

 

Bài Sen này tôi phải học thuộc lòng từ năm học lớp Đồng Ấu ở trường Sơ Học Phú Trinh Phan Thiết, nó đi theo tôi từ năm 1948, 1949 đến ngày tôi chết!  Tôi nhớ bài Sen, nhớ luôn cô giáo dậy vỡ lòng tôi là cô Trần Thị Sen.  Tôi cũng không bao giờ quên năm lớp Dự Bị tôi học thầy Trần Văn Cúc, năm lớp Sơ Đẳng tôi học Thầy Trần Thiện Mưu, năm lớp Nhì tôi học Thầy Nguyễn Mô, năm lớp Nhất tôi học Thầy Nguyễn Khánh.  Từ khi lên lớp Đệ Thất tới chấm dứt ở lớp Đệ Nhất, tôi chỉ học Thầy, không hề có cô giáo nào dạy tôi.  Nhưng học Sư Phạm thì có cô Ưng Sâm (tên chồng), cô người Huế, thấp, đẹp như Má tôi và hiền chắc hơn Má tôi!  Cô về hưu hình như năm 1963, tôi thường có viết thư thăm vào dịp Tết khi tôi chưa vào lính, địa chỉ của cô thật dễ thương và “hên” vì chín nút: Bà Ưng Sâm, 18 đường Quang Trung, Nha Trang.  Tôi cũng rất thương Thầy Trần Quý Tuệ, sao Thầy dễ thương kỳ lạ, Thầy truyền cho tôi cái tình thương của người Thầy đến với học trò, tôi đi dạy học hơn mười bốn năm, học trò cũng thương tôi quá là thương.  Địa chỉ nhà Thầy tôi:  Ông Trần Quý Tuệ số 9 đường Phương Sài Nha Trang.  Các Thầy, các Cô dạy tôi bây giờ đều ở cõi khác…Giật mình sương rụng trên đê!

 

Rồi…con sông, dòng sông, sương rụng, lá bắp lay ở bờ sông…lại chuyển động trong tôi, lại lay động trong tôi…và cào cào hai con mắt tôi!  Cảm ơn Kai Hoàng nha, hai câu thơ của anh giúp cho tôi biết tôi còn sống, còn mơ màng bát ngát một con sông!  Anh, hay là tôi nhỉ?  Tôi viễn xứ nhận ra điều có lẽ:  Tim mỗi người đều có một dòng sông!  Tôi muốn nghe hoài hoài câu gào thét của Bích Nga khi Bích Nga đứng trên mặt đáy của dòng sông cạn khô Los Angeles:  “Sông Ơi Trôi Đi Đâu?”  



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HoaKỳ ngày 10.9.2017.

Quay Lên Đầu Trang

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004