Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới









LỤC BÁT TRÀ





CHƯƠNG I


TRÀ VIỆT – NÔI PHÁT SINH




II. Thiên cổ đệ nhất Trà



1. THIÊN ĐƯỜNG TRÀ THƠM


Làm “Trà Sen phủ Tây Hồ”

Từ Trà Shan-tuyết sương mờ Hà Giang

Tận cực Bắc giáp Vân Nam

Phía Nam tiếp nối Tuyên Quang rừng dày

Hiên Tây – Yên Bái – Lào Cai

Cao bằng : Đông cận – chè vây bủa đường

Núi điệp trùng rừng ngập sương

Cổ thụ dày đặc. “Thiên đường Trà thơm”.


2. CÁCH LÀM CHÈ SHAN-TUYẾT


Lão chè hàng trăm tuổi hơn

Mỗi năm thu hái không hơn bốn lần

Đem chưng ủ đủ ba năm

Lá chuối khô lót hủ sành – rồi đây:

Sấy lên đốm trắng nổi dày

Gọi tên Shan-tuyết – định ngay Danh Trà


3. CHỢ TÌNH KHÂU VAI


Mới nghe tưởng chợ nhà thơ

Thái – Mông trai gái chờ cơ hội này

Nghe chữ Chợ - tưởng đem bày

Bán buôn đủ thứ xưa nay thường tình


Nhưng không đây là chợ tình

Dịp cho trai gái soi tìm nửa kia

Họp hàng năm – khởi từ khuya

Gái trai tìm bạn sẻ chia tấc lòng


Khâu Vai chuyện quẩn chuyện vòng

Cốt sao duyên bén tơ hồng ngày sau


Tình trần dễ hẹn nơi đâu

Chưa quen nay sẵn nhịp cầu hỏi han

Không hoàn không, hợp sẽ bàn

Đem Trà Shan-tuyết hoà tan duyên tình

Hẹn ngày dạm ngõ cưới xin

Mẹ cha chàng thuận “rước mình” thoả mơ.



4. TRÀ SEN HÀ NỘI

Cách làm Trà Sen phủ Tây Hồ



Trà cùng sen phủ Tây Hồ

Hai nơi Quảng Bá hoa to “gạo” nhiều

Lượng thì lớn chẳng bao nhiêu

Trên ngàn búp lượt chẳng nhiều gạo sen

Hái sáng sớm tách trong đêm

Khéo còn lưng ký, ngỡ hên được quà

Tháng tư qua tháng bảy ta

Gạo thơm gỡ lấy cùng trà ướp chung


Lớp trà lớp gạo từng tầng

Ba ngày mỗi đợt, bảy lần mới thôi

Mỗi đợt sàng gạo kỹ rồi

Thay ngay gạo mới xông hơi đèn cầy

Hoặc dùng “hơi nước sôi” thay

Vị thơm mới đượm tình lay hồn người


Mỗi năm trăm ký làm chơi

Để dành biếu khách đâu khơi đại trà


Mỗi ký dăm chỉ vàng ta

Dân sành tranh đặt dễ mà được hên ?


Thiên cổ đệ nhất” Trà Sen

Chính danh Shan-tuyết ướp sen Tây Hồ.


III.TRÀ VUA TỰ ĐỨC


Phiên bản chuẩn về Huế đô

Tự Đức ngự chế sen Hồ Tịnh Tâm

Từ Đại Nội đến Khiêm Lăng

Sen xanh thành quách cánh xoan trắng hồng

Hương sen Huế ngát thơm lừng

Ai từng cảm nếm chẳng ngừng tiếc khen

Sẵn trà Shan-tuyết với sen

Cung nữ trinh khiết ngón quen ngoan nghề

Nhuần nhị trong nếp áo thêu

Khiến thuyền tách bến nâng niu hoa lòng

Chọn sen kỹ lựa từng bông

Tay ngà từng đoá búp hồng nâng lên

Sợi chiều óng ả tô thêm

Cắn sen cá lén không quên khen thầm

Không gian vĩnh tịch nhu âm

Cung khiêm trinh nữ âm thầm chọn hoa

Khéo tay nụ sống hé ra

Xen trà vào búp chờ hoà hương đêm

Bình minh thuyền nhỏ nhẹ êm

Gom sương khuya rụng nơi thềm lá xanh

Đất trời ngân giọt thuỷ tinh

Phải bao nhiêu lá đủ tình thăng hoa?

Ít nhất bốn ấm gọi là

Thuyền về ghé ngắt “búp trà ngậm hương”

Lá sen gói – tay nhẹ nương

Chưa dùng để đấy vách tường dựng yên.


GIỮ LỄ VUA TÔI


Cuộc trà khởi sự bắt đầu

Tự tay vua sớt nhuyễn câu thâm tình


Nhịp Chuyên rót – toả lòng mình

Qua từng chén một nghĩa tình hoa khai

Trang trọng mời cả hai tay

Thiêng liêng cao khiết cuộc bày vua – tôi

Lời tao nhã phong cách mời

Đẳng cấp giao tế xuôi trôi từ hồn

Ngón giữa đỡ - ba ngón nâng

Tam long giá ngọc” – tam phân đế kiềng


Cúi đầu thi lễ lộ duyên

Nhẹ nhàng nâng đỡ đặt liền lòng tay

Nghe như ấm cả niềm tây

Nhìn nghiêng sang trái nhẹ xoay chân trà

Sóng sánh hổ phách vàng pha

Du sơn lam thuỷ” xuýt xoa ảnh hình


Cuộc trà này – Chén đời Minh

Trà ngâm chén nhẹ trắng tinh men sành


Khác thời Tống – Trản màu xanh

Thích dùng trà vụn – loáng thanh sẫm màu


Trước đó đời Đường hai màu

Nam xanh Bắc trắng đời sau vẽ bày.


IV. DÂN HUẾ UỐNG TRÀ


1. Bánh mứt cho cuộc Trà


Bánh mứt, Trà khúc dạo đầu

Nỗi lòng san sẻ hát câu sinh tồn

Từ thành thị tới nông thôn

Bánh in dân dã gởi hồn tận trong

Giấy ngũ sắc gói tấm lòng

Đậu xanh bột nếp thơm lồng áo hoa


Mứt hạt sen giúp cuộc trà

Hương thanh thấm đậm âm ba tình trần

Dịp Tết nhấm lát mứt gừng

Vị cay nồng ấm ngậm từng bâng khuâng

Nghe đất trời trổ lộc xuân

Chủ khách quý trọng tha thân thoả lòng.


2. Nâng tầm nghệ thuật


Để níu giữ phút tình nồng

Dân Huế cẩn thận muôn phần lễ nghi

Chữ Hoà mấu chốt nội qui

Cuộc trà thoả đáp những khi rỗi nhàn


Bao tiêu chí khi luận bàn

Nâng tầm nghệ thuật lớp lang Cung đình.


3. Trà cụ


Bộ trà cụ phỉ cái tình

Mát nồng ấm lạnh” phát sinh “Thời Trà”

Xuân Hạ Thu Đông phân ra

Đồ trà bốn bộ phải là biệt riêng


Cùng Ấm – Tống – Quân và Chuyên

Nhưng đã phân định rẽ riêng khi dùng


4. Nước dùng


Cuộc trà dù hạng “Bậc trung”

Nước mưa, suối, giếng thế vùng thiếu sương

Nước suối tốt nhất đầu nguồn

Hứng mưa mái lá, ngói – thường giữa cơn

Giếng đá ong chẳng giản đơn

Đào sâu mạch tốt phải hơn cả sào

Nước mưa lấy ở cây cau

Bằng gân tàu lá cột vào gốc cây

Cho xuôi dốc nước xuống đầy

Sẽ bị chặn lại – xuôi dài mo cong

Muốn tốt hơn dây sợi thòng

Hoa cau cột dưới rỉ dòng xuống chum

Cơn mưa nhỏ nước chớ dùng

Giữa cơn mưa lớn mới cần tốt thôi

Khi đậy chum, chế nước sôi

Loăng quăng khó sống lỗ hơi thông vào


Nghề chơi đâu quản tốn hao

Không tanh tạp chất dù bao nhọc nhằn

Nhất là những đêm trăng rằm

Bánh – Mứt – Trà bạn cùng Trăng toạ đàm


5. Bạn Trà


Thói đời rượu tứ Trà tam

Không khéo chọn bạn, tục phàm hỏng duyên

Độc – Đối – Tam – Tứ… hàn huyên

Cốt giữ hoà khí bạn hiền khó phân

Dù vui – lễ nghĩa tối cần

Nhiều sinh bạn tạp nản dần thú chơi

Mất luôn vẻ đẹp đất trời

Còn gì ý nghĩa lỡ đời phế hoang.


6. Cách pha


Xúc trà vào ấm nhẹ nhàng

Thìa bằng tre gỗ sợ phàm tục hơi

Ngọc Diệp hồi cung” yên nơi

Nước tăm sủi bọt trào sôi rót vào

Cao sơn trường thuỷ” nước đầu

Tráng nhanh, chắt nước kẻo hao hương trà

Lần hai tràn miệng khi pha

Cao sơn nhập thuỷ” trào ra bọt vàng

Chế sôi lên ấm nhẹ nhàng

Bụi dơ lần cuối lẹ làng xuống khay.



7. Cách rót mời


Nhẹ đưa vòi ấm vòng xoay

Chậm vừa thoang thoảng hương bay khẽ khàng

Nếu không, dùng Chuyên trung gian

Chén vòng đặt sát hoặc hàng nối đuôi

Rót hai lần xuôi ngược xuôi

Tay nhịp lên xuống đầu đuôi rồi ngừng

Hai lần chỉ nhích ngang lưng

Đầu cuối đậm nhạt xem chừng đều nhau

Châm vào ấm chờ đợt sau

Xuýt xoa hớn hở chuẩn câu tỏ bày

Nâng chén mời cả hai tay

Nơi từng người một khoan thai tới mình

Ngỏ lời bàng cả chân tình

Ngữ ngôn tao nhã du sinh từ hồn

Ngón giữa đỡ ba ngón nâng

Ba rồng đỡ ngọc vững chân đế kiêng.


8. Cách nhận và thưởng thức


Cúi đầu đáp lễ đầu tiên

Trang trọng đỡ chén đặt liền lòng tay

Nhìn sang trái tay phải xoay

Rừng mây sông núi” lung lay ảnh hình

Mời xong cùng giữ nếp mình

Nâng lên che miệng hít tinh khiết Trà

Nét văn ẩn hoá sâu xa

Hớp mím chíp miệng, chậm khà khẽ thôi

Khi hương trả về mũi rồi

Miệng chắp nước bọt để rồi cảm nghe.



9. Cách đàm đạo


Khúc dạo đầu phút tê mê

Đài từ bổ khuyết – ngón nghề chế pha

Thưởng – khen từ bộ đồ trà

Khéo thăm hương nụ tình qua cục bày


So sánh bao lần trước đây

Một cách khéo léo riêng xây ý tình

Tôn trọng nhau khi luận bình

Đẳng cấp mỗi một chí tình bày phơi

Với bao kinh nghiệm trong đời

Thảy đều khôn cả” giữ lời gió bay

Chiêm nghiệm thức giả luận bày

Hợp tổng phương thức ý này lần sau

Mai bạn khác nối tiếp nhau

Vòng xoay tiếp mãi – Chuyên sâu về trà


Giữa cuộc chuyện nước chuyện nhà

Thơ phú âm nhạc buông ra ý lời

Chí bạn hiền mới bày phơi

Không khéo tạp bạn – đánh rơi cuộc Trà.



10. Cái hồn còn đó


Xưa nay dân Huế uống trà

Cung cách điệu nghệ chỉ là phát sinh

Từ lối “nói kiểu” Cung đình

Lễ nghĩa trang trọng đậm tình nét riêng

Thú thưởng thức vẫn giữ nguyên

Cái hồn còn đó” bạn hiền lưu tôn

Tuy không gác tía lầu son

Vẫn tay chấp lễ nghĩa ơn đáp mừng.


11. Giới thượng lưu thưởng Trà


Đẳng cấp cao phải biết dùng

Qui trình nghiêm nhặt tột cùng công phu

Trà tuyệt ngon nên hái từ

Bình minh chưa ló sương mù còn vây

Rừng chè hướng phía Đông Tây

Bên đông ngon nhất - tránh xoay nắng chiều

Hái nụ kỵ nhất một điều

Nặng tay chè dập sinh nhiều tạp hoai


Chọn thiếu nữ tay móng dài

Nụ búp ngắt gọn hài hoà ngón ngoan

Xuân Hạ Thu Đông tuần hoàn

Xuân một ngon nhất chồi toàn mập non

Qui trình trọng yếu sấy giòn

Đem ra pha uống ủ hương hoa vào.



12. Trà Sen và cung cách uống trà

(Huế và Hà Nội)



Trà Tự Đức” tuyệt vời ngon

Tinh chè Shan-tuyết phối hồn hương sen


Giống Hà Nội – lối Trà Sen

Một bên kín hủ còn bên rộng hồ

Nhận hương sống giữa Huế Đô

Thềm lá sương đọng bao hồ gần quanh

Lăn tăn như giọt thuỷ ngân

Cả chục ngàn lá đủ cần để pha

Người Hà Nội khi thưởng trà

Giống như dân Huế khi pha và mời

Tuy nhiên còn số ít người

Bày chia đẳng cấp vẽ vời cách riêng


Tay nào thuận được ưu tiên

Nâng chén lên xuống xoay liền cổ tay

Tuy một nhưng tròn cả hai

Nâng và che miệng – an bài phi phong

Này là cách thưởng ân cần

Uống hoà con cháu gia nhân trong nhà


Vấn đề rót có gặp qua

Từ ấm trực tiếp chiết ra chén rời

Nhịp nhịp cao thấp nước rơi

Lại lia lia kiểu như vòi bắn ra

Thành thử rất dễ nhận ra

ảnh hưởng của cách rót Trà Kung-fu.



V. Thiền sư với Trà


Cuộc trà với các Thiền sư

Bôi trơn xúc tác mong chờ cơ duyên


Tiếng lửa cười nghe hồn nhiên

Lách tách khô gọn não phiền thành tro

Giã từ vai diễn tuồng trò

Một đời khoáng chất – hư vô gọi mời

Tro tàn trắng xốp yên nơi

Phút giây hấp hối thảnh thơi giã trần

Nước sôi reo ngọc lâng lâng

Nhạc khúc biến thể hoá thân góp lời

Nhắc hiện hữu – cuối cuộc đời

Chào phần ở lại đợi mời độ duyên


Lặng yên – minh liễu” khế Thiền

Một trong sáu nẻo hoàn nguyên ngõ về

Đứa con hoang*” sáng đường quê

Nơi Ca-Diếp – tới Bồ-đề Đạt-ma


Thiền Việt rõ khác Thiền Hoa

Việt hội Phật, trước Đạt-ma qua Tàu

Lưu-Chi qua Việt càng sau

Còn nguyên chưa vướng chút màu Lão Nho


Bàn Trà Việt không nên so

Kinh Hoa, Đạo Phật – Khác lò Phật ra

Ba cách uống phải khác xa

Vì Lưu-Chi vẫn Đạt-ma chân truyền

Thiền Hoa không còn chân nguyên

Đến đời Ngũ Tổ chứng truyền bát y


Thần Tú chưa lột nho qui

Huệ Năng phảng phất chút gì Lão-Trang

Bắc Tiệm - Nam Đốn đôi đàng

Huệ Năng Lục Tổ: Thiền tăng mật truyền


Rã thời, Tuỳ phụ lương duyên

Đàn áp Phật giáo cửa Thiền long đong.


___________________

*Thiền vẫn bị gọi là “Đứa con hoang” do nguyên lý

Không truyền bằng văn tự.



VI. CÁC LOẠI TRÀ VIỆT


1. Trà Nụ


Trà nụ trà của nhà vườn

Cây ít cắt hái nụ thường nhiều hơn

Phơi khô nụ giấu hương om

Vừa khi nở trước mùi vờn toả quanh

Loại này quý hơn chè xanh

Ít người đem bán, để dành uống, cho.



2. Trà khô


Chè tươi dư dành phơi khô

Không sao chẳng tẩm để hờ vậy thôi

Giá đông biến nấu chè tươi

Pha sôi tiện gấp uống chơi kiểu trà


3. Trà mạn


Trà mạn giống Ô Long trà

Hái xong để héo, hấp và phơi khô

Tiếp sấy trà phải thật khô

Ướp sen hương nhuỵ chung vô hủ sành

Mạn sen giống Thiết Quan Âm

Nước tuy màu đỏ vị đằm thanh hơn


4. Trà Tàu


Trà Tàu: trà mạn ướp hương

Tuy là gốc Việt – gọi thường hàng hai


Việt: Cúc, Ngâu, Sứ, Sen, Lài …

Tàu có: Cúc, Quế, Hồng Mai Khôi trà …

Lấp lửng để dễ bán ra

Con buôn khéo miệng đẩy đà lợi tham.


5. Trà Mạn Hảo


Loại trà mạn xứ Việt Nam

Chọn thứ nhất phẩm khéo làm ca ngôn:


Làm trai biết đánh Tổ tôm

Uống Trà Mạn Hảo xem Nôm Thuý Kiều

Trà này quyền biến khá nhiều

Tuỳ hương ướp ủ qua nhiều loại hoa

Lài, Sen, Ngâu, Sói … cùng Trà

Nghệ nhân Việt khéo xuất đa phẩm hàng

Xưa nay Yên Bái Hà Giang

Làm người lầm tưởng Tàu sang một thời

Trà hương tiếng tăm khắp nơi

Bắc thích Sen, Sói-Nam chơi Ngâu, Lài

Ít nhiều thức, luống tàn phai

Tước thiệt, Trà Bạng, Hồng Mai thất truyển


6. Trà Mộc – Trà Móc câu, mốc cau


Trà xanh ngon để vẹn nguyên

Như tên mộc mạc “bản quyền” Việt Nam

Thái Nguyên, Bảo Lộc, Hà Giang

Vị Xuyên, Yên Bái – Suối Giàng, Tân Cương

Mỗi thức địa danh tận tường

Người Hoa đa sự thích cường điệu tên

Trà Móc Câu dáng gọi tên

Hai đầu cành nhọn đôi bên móc vào

Người sành nói lái Mốc Cau

Chẳng sai: Trà lốm đốm màu trắng đen.


7. Trà sao suốt


Trà sao suốt – trà mộc xên

Dùng tay “đảo nhiệt” không quên lửa đều

Không lớn không nhỏ định liều

Thuỷ phân rút giảm càng nhiều mới ngon

Trà Miền Bắc nào thơm ngon

Gọi tên chè Thái dung hồn Việt Nam.


8. Trà túi lọc


Nhà buôn Mỹ Sul-li-van

Từng túi Trà nhỏ phát phân mẫu hàng

Vài đại lý chẳng ngại ngần

Tưởng là vải lọc chẳng cần gì thêm

Nước sôi sẵn chế uống liền

Còn đem góp ý. Đẹp thêm cách dùng

Đầu óc thực dụng bổ sung

Ép khuôn túi lọc xuất cùng bốn phương

Từ Mỹ tràn chiếm thị trường

Rút thêm chất chát, Anh cường điệu qua

Lip-ton tuyên chiến Dil-mal

Trà Việt túi lọc nương đà sánh ngang.


9. Trà Hoà tan


Sau này thêm Trà Hoà tan

Là loại trà vụn chưa làm hong khô

Từ men dịch chiết đông cô

Sấy chân không giống Khô đông tinh trà


10. Trà Thảo dược


Trà thảo dược – mượn tên Trà

Nhân sâm, tam thất, khổ qua, sen hồ

Rễ tranh, cỏ ngọt … sấy khô

Uống ngừa tật bệnh, cách do giống trà.



              ... CÒN TIẾP ...


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 10.12.2015 theo nguyên bản tác giả do nữ thi sĩ Hồng Vinh chuyển từ NhaTrang .

Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA PHẠM VĂN SAU TRONG VIỆT VĂN MỚI

Quay Lên Đầu Trang

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004