BÍCH KHÊ
Thơ chọn lọc
POÈMES CHOISIS

HOÀNG HỮU ĐẢN dịch

Quý vị đang nghe L. Beethoven

KỲ THỨ 17

Người Em : Bích Khê

Người viết bài này là Lê Ngọc Sương, chị của Bích Khê mà chồng là anh Lạc Nhân Nguyễn Quý Hường, người mà em tôi, trước khi nhắm mắt, trân trọng giao lại tất cả những bài thơ do em tôi làm trong suốt cả một đoạn đời dài làm thơ. Bạn em tôi rất nhiều mà bị cách xa thành chẳng còn có bao nhiêu : Hàn Mạc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Tam Ích, Hoàng Trọng Miên, kể cả anh Lạc nhân và tôi : ngàn năm và nhiều thuở, tôi chưa hiểu giữa người em và người bạn là Bích Khê, đối với tôi, biên giới ở đâu …

I. THỜI NIÊN THIẾU

Bích Khê là người em thứ chín trong số anh chị em có sẵn trong huyết quản một dòng máu anh dũng. Ông nội Bích Khê – ông nội chúng tôi – làm quan dưới triều Tự Đức đã tuẫn tử để khỏi phải cộng tác với một vị đại thần có quyền “tiền trảm hậu tấu” đã từng lãnh trách nhiệm đàn áp cuộc khởi nghĩa của nhà chí sĩ Phan Đình Phùng. Cha chúng tôi đã từng tham dự vào phong trào Đông Du giữa lúc lòng yêu nước đương hướng tất cả sĩ phu chân chính vào những cuộc vận động dân tộc chống thực dân giành độc lập cho đất nước.

Vì là con út nên Bích Khê được cả gia đình thương và chiều chuộng. Chàng là người rất có hiếu với cha mẹ, rất thảo thuận với anh chị và đặc biệt mến thương người chị sanh kế chàng vì hai chị em rất gần nhau về tuổi tác, tư tưởng, chí hướng, tính tình – người chị ấy là tôi. Chúng tôi là hai chị em, hơn thế, hai người bạn ; hơn thế nữa, hai tâm hồn tri kỷ … Đã có lúc chúng tôi cùng một người nữa làm một cử chỉ như trong truyện kiếm hiệp : cắt huyết ăn thề, nguyện sống và đấu tranh sát cánh bên nhau trên khắp mọi nẻo đường đời, cho một chí hướng.

Vì hiểu em, tôi đã tìm hết tất cả những trường hợp gia đình và xã hội thuận tiện cho việc sáng tác của em tôi.

Thi nhân cũng như tất cả những nghệ sĩ, khi sáng tác học không chịu ràng buộc trong một khuôn khổ không gian và thời gian nào cả.

Tôi là người phải đón tình đón ý em, tạo cho em những giây phút, những vị trí thuận lợi cho hứng làm thơ của một người em khó tính và cũng là cái khung cửa sổ nhìn chàng nhân sinh đương ai oán, cái chuông đồng hồ báo cho chàng biết là chiều thu đã buông rồi …

Thuở bé, Bích Khê có thú chơi hì hục khuân từng tảng đá ong vào sân, xếp lên xếp xuống cho thành nhà cửa, thành lâu đài. Đã có lúc tôi ngẫm nghĩ : cái anh chàng là lạ này có lẽ sẽ thành một kiến trúc sư ? Và tôi không ngờ lâu đài chàng thường xếp lại là một toà thơ –một lâu đài khiêm tốn về văn nghệ.

Bích Khê là một chàng thư sinh thông minh nhưng mà lười, đã có lần vì lười mà bị mẹ bó tròn vào cột như bó một bó chả đánh một trận nên thân, tưởng chừng như hồn thơ cũng theo ngọn roi lên xuống và một đi cho rồi! Ai ngờ từ đó con người lười trở nên một người siêng năng hết mực : chàng đi từ một thái cực đến một thái cực. Chàng ham học đến nỗi ai cũng lo cho sức khỏe của chàng. Một hôm Bích Khê bị đau ở đầu gối nhức nhối và phải vào bịnh viện. Trong bịnh viện, thầy thuốc phải treo ngược chân chàng lên cho đỡ nhức. Ấy vậy mà chàng vừa rên vừa học, quyển sách lúc nào cũng ở trên tay. Chàng học hết ban Cao đẳng tiểu học rồi ra Hà Nội học ban Tú tài (vào năm 1932-1933).

Mười hai tuổi, chàng đã làm thơ Đường luật và đã làm thân sinh chúng tôi hãnh diện trước các bậc thân hữu : ai cũng nói một thiên tài đã bắt đầu phát sinh. Và thiên tài ấy trưởng thành cùng một lúc với lòng nhân đạo, với tính e lệ : bao nhiên tiền của cha mẹ và anh chị cho, người nghèo hưởng gần hết. Những người đó rách, thiếu thốn vào đến cổng nhà và hỏi thăm “cậu Chín”. Hễ có cậu chín, họ có quần áo cũ, có cơm ăn, có tiền xài … Họ thích nhất là cậu Chín giấu bà cụ nên có khi họ được bà cụ cho nữa.

Một con người như vậy lại còn là một con người hay e lệ. Chàng ít ưa tiếp khách dù là bạn đồng trang đồng lứa. Mỗi lần có khách đến là chàng tránh ra vườn hoặc vào phòng đóng cửa đọc sách. Chàng chỉ tiếp bạn thân và bạn làm thơ.

II. TÌNH ĐỜI

Một hôm từ Hà Nội chàng viết thư về xin với cha mẹ thôi học. Chàng xin thôi học là muốn lấy số tiền cha mẹ cho đi học đem san sẻ với một người bạn nghèo để giúp người này khỏi thất học … Lẽ tự nhiên, gia đình chúng tôi nghĩ đến sự học của Bích Khê, không thể chấp nhận.

Nhưng Bích Khê đã muốn thì không thể cưỡng được và tôi – người mà gia đình cho là có tài thuyết phục nhất đối với em – cũng bất lực trước quyết định của chàng. Không những chàng không bỏ ý định giúp bạn, lại còn cho rằng sự phản đối của tôi là một cử chỉ ích kỷ, một tâm lý hèn mọn.

Một tháng sau, người chị thứ sáu đưa Bích Khê cùng người bạn nói trên vào Phan Thiết, ở nhà người anh cả chúng tôi để học. Đôi bạn như đôi chim, thắm thiết với nhau đến độ chàng vận động cho một trường tư thục ra đời để giúp cho sự tiến thân của bạn được dễ dàng.

Nhà trường sống gần hai năm bỗng nhiên tôi bị chánh quyền thực dân bắt trở về sinh quán là Quảng Ngãi. Chàng thương chị nên buồn nản, còn cảnh trường cũng mất thứ tự. Kết quả, trường chuyển hoàn toàn về người bạn, và cũng từ ấy, Bích Khê sinh chán, không còn dính dáng đến trường, đến tiền bạc nữa … người bạn cũng xa dần trong tiềm thức. Bích Khê rời Phan Thiết. Chàng đi Mũi Né rồi lên núi Tà Cú, mang theo không phải một ân hận mà là một tình yêu !

III. MỐI TÌNH ĐẦU

Chàng yêu Song Châu, một cô học trò nhỏ có đôi mắt say sưa, làn da trắng mịn và dáng điệu mảnh khảnh yêu kiều.

Ai ngờ cái con người làm thơ ngang tàng trong văn chương như vậy mà lại e lệ trước người mình đương yêu, đồng thời lại còn có mặc cảm phong kiến rằng yêu học trò là trái đạo lý. Nhưng rồi tình yêu đã nói tiếng nói của tình yêu ; và tình yêu của chàng đã gặp một tình yêu say sưa nhưng cũng e lệ của người con gái. Song Châu càng e lệ, thi nhân càng say mê Bài “Song Châu” trong tập Tinh Huyết là bức chân dung của một mối tình đầu …

Bích Khê, sau khi sống mấy tháng ở núi Tà Cú, về sống với mẹ ở Thu Xà. Chàng nói với mẹ : “Con sẽ ở gần mẹ …”.

Rồi trong gia đình chàng chẳng ai muốn đi sâu vào tâm sự buồn đau của chàng, về bạn bè, về trường trại.

Rồi ngày ngày Bích Khê vào phòng làm thơ. Chàng làm thơ nhưng chàng không thích ngâm lấy thơ mình vì chàng không có một giọng trong trẻo, nên mỗi một bài thơ làm xong là chị chàng phải ngâm để chàng thưởng thức. Và các bạn đến chơi cũng phải ngâm thơ chàng, làm cái nhiệm vụ đã không chán lại còn có hứng thú là khác !

Được ít lâu, chàng đau : ngực hơi mệt. Thế là phổi chàng yếu ! Tôi phải đưa em tôi ra Huế điều trị ở bệnh viện và săn sóc chàng ngót một năm. Người nữ y tá là tôi phải làm nhiều việc : săn sóc em, gợi mọi chuyện nói với em, ngâm thơ em, họa thơ em …

Một năm sau bệnh lành, chàng về Thu Xà với mẹ thêm một lần, rồi lại đòi lên núi ở.

Mẹ và chị phải làm cho Bích Khê một cái chòi trên núi Thiên Ấn, và gửi đến ở với chàng một chú tiểu.

Lúc này Bích Khê vui lắm ; chàng nói với mọi người bạn đến thăm : “Thật là tuyệt diệu !” rồi chàng tả cái thoải mái của tâm hồn chàng bằng cách chuyển tâm tư qua thiên nhiên cỏ cây hoa lá … Chàng hăng say đưa cả cánh tay ra vẽ một vòng bao trùm cả những thắng cảnh đương bày ra trước mắt chúng tôi. Mà phong cảnh đẹp thật ! Dưới chân chúng tôi , từ chỗ “Long đầu hí thuỷ”, dải sông Trà bọc lấy chân hòn Thiên Ấn khăng khít như tình non nước ấp ủ lấy nhau, tức là thắng cảnh “Thiên Ấn niêm hà”. Và xa xa ở phía bên kia hiện ra thắng cảnh “Bút lãnh phê văn”. Bích Khê chỉ vào núi Bút và nói đùa :

– Đó là ngọn bút của em đó.

Rồi chàng lại bảo chị :

– Nơi đây là nơi cực lạc của em rồi. Em say mê với cảnh thiên nhiên và nguyện sống ở đây mãi mãi để tận hưởng …

Nhưng một thời gian rồi Bích Khê cũng chán cảnh núi, lại ước mong được sống giữa cảnh trời nước bao la. Thế là một lần nữa, mẹ và chị Bích Khê phải chiều chàng, cho di chuyển tất cả vật dụng và cái chòi con về dựng ngay tại ven biển.

Nhưng rồi cũng chỉ một thời gian mà thôi. Năm tháng sau, vì gió biển không hợp với bộ phổi đã yếu của chàng – nhưng nếu không phải tại gió thì lại có những lý do khác – Bích Khê lại đòi về nhà để rồi lại xin lên ở tại một ngôi chùa ở Phú Thọ để vừa làm thơ vừa nghiên cứu triết lý đạo Phật.

Rồi Bích Khê từ giã cửa thiền về với mẹ và chị. Vẫn chiều theo sở nguyện của con, bà cụ thuê cho chàng một chiếc thuyền để chàng bồng bềnh trên mặt nước, nay ghé Phú Thọ, mai Cổ Luỹ, Sa Kỳ … Trên chiếc “thuyền con bé tẻo teo” mà chàng xống với thiên nhiên từ đây lại gây thi hứng cho chàng, một thứ thi hứng triền miên, liên tục.

IV. TÌNH YÊU DỞ DANG

Thuyền trôi, thuyền về … thuyền lênh đênh trên sông Trà Khúc, và thuyền ghé bến yêu thương. Một hôm nọ thả thuyền trôi về ngả Sa Kỳ, Bích Khê gặp lại Bính Thuỷ, một thiếu nữ quen biết khi Bích Khê ở nhà người anh cả ở Mũi Né. Những lúc Bích Thuỷ cùng mấy người bạn xuống thuyền thăm Bích Khê là những lúc không khí trên thuyền trở nên sống động. Trong thuyền giọng ngâm thơ càng giòn và Bích Khê càng lộ vẻ tươi vui. Có lúc Bích Khê cùng chị đứng ra trước mũi thuyền và nói :

– Thuyền Hàn Mạc Tử chở đầy trăng, thuyền em chở trăng và chở cả giai nhân nữa.

Từ ấy, hai người thường gặp nhau và mối tình càng trở nên khăng khít.

Bích Khê dè dặt, những ngày đêm d2i đầy mộng và đầy thơ. Kết quả của sự gặp gỡ là một cái buồn đượm nỗi đau thương dai dẳng của người con gái.

Bích Thuỷ lâm bệnh, đâm ra loạn trí, kêu tên Bích Khê, mộng thấy Bích Khê, tay viết tên Bích Khê … Đoạn đời đau ốm của người đàn bà đầy dáng thi nhân đã làm cảm động thân mẫu chúng tôi, và bà có ý thức đẩy Bích Khê kết duyên với nàng. Bích Khê từ chối : “Gần nhau mãi có đẹp gì !”.

Bích Khê ngưng sự yêu thương trong sự đau thương của cả hai người và bỏ chiếc “thuyền con bé tẻo teo” để về sống với mẹ một lần nữa.

Ở với mẹ và chị được ít lâu, Bích Khê lại muốn ra đi. Chàng tỏ ý muốn vào Nam. Tôi bàn với em tôi là muốn đi xa đâu cũng được, nhưng dù là thi nhân, con người phải đặt nguyên tắc sống sát với thực tế : đời sống vật chất có thoải mái, đời sống tinh thần và tri thức mới có nơi nương tựa. Hai chị em bàn với nhau mở một trường tư tại Phan Thiết. Thực hành kế hoạch đó đã có anh Lạc Nhân (về sau trở thành anh rể chàng), lúc đó đang làm tổng thư ký toà soạn báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng và là dân biểu của Viện Dân biểu Trung Kỳ. Trường mở cửa vào năm 1938, và người ta được chứng kiến một cảnh sum họp ấm áp của một số người mà tình bạn đã tập hợp dưới một mái nhà. Trong một công cuộc chung, mỗi người chia nhau lo mỗi việc. Người giữ “mối giềng” của cái gia đình thân mật ấy là tôi, và người điều khiển cái công cuộc tập thể ấy là anh Lạc Nhân.

Trường học được tín nhiệm, học trò đông. Và để đáp lại yêu cầu của một số học sinh lớn tuổi, trường mở thêm một lớp dạy tối do Lạc Nhân và Bích Khê đặc biệt phụ trách. Chính lớp dạy tối này đã để lại cho Bích Khê một kỷ niệm êm đẹp mà cũng là một vết đau thương mà chàng giữ mãi cho đến ngày tắt thở.

Trong số những người học lớp tối có nàng Ngọc Kiều. Ngọc Kiều có gương mặt hiền lành và đôi mắt buồn mơ. Ngọc Kiều và Bích Khê mến phục nhau và từ chỗ mến phục, đôi trai gái tài sắc đã đi đến yêu nhau tha thiết.

Rồi một đêm trăng rằm, trăng sáng như ban ngày. Bích Khê dắt chị ra chơi bãi biển ở sau trường. Sau khi ngồi lên bãi cát trắng, Bích Khê lấy giấy viết hí hoáy mấy câu thơ :

Chị ơi trời sáng màu xanh
Tình trăng sống dậy trên cành hoa tươi
Nói ra xin chị chớ cười
Tình nay đẹp lắm, hơn mười tình xưa …
rồi trao cho chị.

“Xin chị chớ cười”, nhưng người chị đã cười, cười thiệt vì sung sướng thấy em vui, vui vì em yêu. Lần này người làm thơ tính chuyện trăm năm thiệt : chàng nhờ chị viết thư về thưa mẹ để sắp đặt việc cầu hôn. Và cả nhà ai nấy đều mừng vì quyết định ấy của con người khó tính.

Nhưng gia đình Ngọc Kiều lại từ chối, vì xem là “ván đã đóng thuyền”, vì đã hứa gả cho một người khác rồi. Nơi ấy là con một nhà phú thương.

Kết quả của sự ngang trái là Ngọc Kiều đau loạn trí (lại một người loạn trí nữa !). Nàng khóc rồi cười, rồi nàng đòi quyên sinh … Và cả gia đình Ngọc Kiều đều muốn bảo vệ một tính mạng, đành bằng lòng và mời chúng tôi đến để ưng thuận.

Nhưng việc đời thật không ai có thể ngờ và chính Bích Khê trở lại từ chối ! Điểm chính là lòng tự ái của thi nhân : thà chịu đau khổ vì mối tình dang dở chớ không để cho danh dự thằng con trai bị xem thường.

Từ dạo ấy, thơ đau thương của Bích Khê tuôn ra lai láng để than khóc cho thân phận mình, thân phận Ngọc Kiều và cả những éo le trong nhân tình thế thái. Nhưng rất tiếc là phần lớn các vần thơ đã bị khói lửa chiến tranh thiêu huỷ : nhà người anh cả chúng tôi bị dội bom, cháy rụi. Tôi còn nớ mấy câu gởi khuyên Ngọc Kiều khi Ngọc Kiều quyết tâm ra đi xây tổ uyên ương :

Hạnh phúc ngoài trời nhiều vẻ đẹp
Em đừng bận bịu ái ân xưa
Lòng anh chẳng muốn cho em phải
Lẻ lẻ chân trời bóng nhạn thưa.

V. TÌNH BẠN

Trường Quảng Thuận của chúng tôi, nơi nương náu những tâm hồn dự bị va chạm với nhân sinh, đã bị hai lần đóng cửa vì những âm mưu đen tối của bọn quan lại và thực dân muốn phá hoại. Nhưng hai lần anh Lạc Nhân đều tranh đấu mở cửa lại.

Đến lần thứ ba, vì mang sẵn một mối ưu phiền và không muốn sống thêm ở một nơi khêu gợi cho chàng những niềm đau khổ nên Bích Khê không cho anh Lạc Nhân tranh đấu mở cửa lại và muốn để trường chết luôn.

Rồi Bích Khê ra đi. Chàng ghé Quy Nhơn thăm Hàn Mạc Tử mấy ngày và an ủi Tử trong những ngày đau khổ. Một người đau khổ an ủi một người đau khổ ; tình thương giữa hai người đau khổ thật dễ làm vơi sự xót xa của mỗi người. Bích Khê tặng Tử một tấm hình trong đó có chị chàng và chàng chụp chung. Ý của Bích Khê muốn hình ảnh chị mình gây cho Tử một vài mảnh mộng. Mộng đối với Tử lúc bấy giờ là những liều thuốc làm dịu sự ai oán của tâm hồn.

Quả nhiên Tử làm bài thơ gửi cho Bích Khê :

Ta đề chữ Ngọc trên tàu chuối
Sương ở cung Thiềm nhỏ chẳng thôi
Tình ta khuấy mãi không thành khối
Nư giận đòi phen cắn phải môi.

Bích Khê xem xong, giấu đi, không cho tôi biết : chàng vui sướng riêng tư trong tâm tư vì chàng đã thành công trong một kế “bá đạo” thuộc tình cảm. Người đau cần thuốc, thuốc gì hàn gắn được vết thương là thuốc hay.

Bích Khê về Thu Xà ít lâu để rồi vào Nam sáng tác thơ và viết sách. Chuyến đi vào Nam này có thêm một người bạn. Ba người sống với nhau trong sự vui vẻ của hy sinh và trong sự ấm áp của tình bạn và tình đồng chí.

Tôi đã thu xếp một công cuộc thương mại để nuôi ba miệng ăn. Nói là “công cuộc” cho to chuyện. Sự thực là ba người không nghèo và đói là đủ rồi. Suốt một năm dài, mỗi người đều có sáng tác, dịch thuật các loại sách về văn chương và xã hội. Thi nhân của chúng tôi còn dịch cả quyển “Retour de l’U.R.S.S.” của André Gide.

Chúng tôi có một người bạn mới : Phương Thảo. Người bạn mới này phải nằm đất để ngủ vì thiếu giường. Bích Khê nói với bạn :

Ở đây chịu khó nằm đây
Đất tôi mát lắm bạn xây mộng vàng.

VI. NHỮNG NGUỒN AN ỦI

1945.

Bích Khê đau phổi trở lại và phải ra viện Pasquier ở Huế điều trị. Tôi lại phải ra theo nuôi em.

Sau tám tháng, bệnh thuyên giảm, chàng về Thu Xà điều dưỡng. Vì chàng bệnh nên cả nhà chiều chuộng nâng niu và săn sóc. Một căn nhà ấm áp hoá thành một phòng bệnh viện và mỗi người trong nhà đều làm phận sự một điều dưỡng viên, đồng thời ngâm thơ, chép cho Bích Khê. Giúp vào việc này lại còn các cháu nhỏ Lệ Xuân, Hải Đường, Phi Hiền …

Từ xa, các bạn và người anh ruột Thanh Khê Lê Quang Khâm ở xa cũng có về thăm. Hai anh khác, Tùng Khê Lê Quang Thuần và Tỉnh Nam Lê Quang Hường, đều ở bên cạnh Bích Khê. Người chị là tôi tuy có gia đình riêng nhưng cũng thường về ở bên Bích Khê.

Muốn cho Bích Khê đổi không khí, tôi có đưa Bích Khê ra Quảng Nam ở Hoàng Hoa Trang, nơi quê chồng. Nơi đây rất yên tĩnh và không khí thôn quê rất hợp với Bích Khê.

Một buổi sáng, Chế Lan Viên và anh Nguyễn Đình hiện đến Hoàng Hoa Trang, Bích Khê mừng quá. Nhưng khi Viên đi về, Bích Khê khóc : “Bao giờ lại gặp nhau ? Gặp nhau nữa không ?”

Ở Hoàng Hoa Trang mấy tháng thì Bích Khê cùng chị trở về Thu Xà. Một hôm Hoài Thanh từ Huế tìm đến chàng tại Thu Xà nơi chàng tĩnh dưỡng để xin những bài thơ và tấm ảnh về đăng vào tập “Thi nhân Việt Nam” sắp xuất bản. Bích Khê chỉ trao cho Hoài Thanh hai bài Tỳ bà và Tranh loã thể, nhất thiết không chịu trao ảnh. Vì vậy tập Thi nhân Việt Nam chỉ một Bích Khê là không có ảnh.

Độ này sức khoẻ Bích Khê xuống nhiều lắm. Quách Tấn năng thư từ cho chàng, xướng hoạ với chàng và giới thiệu cho chàng người bạn thơ : Liên Tâm.

Khi khám phá được Liên Tâm là người yêu của Quách Tấn, chàng trêu bạn liền hoạ một bài thơ của Liên Tâm và nhờ Quách Tấn trao lại :

Canh sương tiếng hạc vẳng kia sông
Thơ đẹp em đang ướp cạnh lòng
Thưa chị đêm nay đường nhớ quá
Đưa thơ hồng nhạn biết mang không
Một nhành mai trắng rung rinh ngọc
Đôi cụm sao vàng lớt đớt bông
Muốn thấy người xa trong giấc mộng
Khuya lơ còn tựa ở bên song.

Bích Khê đã tìm thấy trong tình bằng hữu và thú làm thơ một niềm khuây khoả trong những lúc cơn bệnh giày vò. Trong quãng đời này, Bích Khê đã khóc cái chết của một người anh – Tỉnh Nam Lê Quang Hường – của một người bạn – Hàn Mạc Tử – và của vài người khác …

Sau đó không bao lâu chàng nhận được thư Ngọc Kiều từ miền Đồng Nai gửi ra hỏi thăm. Trong thư Ngọc Kiều tỏ ý muốn ra thăm Bích Khê nếu chàng trả lời chấp thuận. Cả nhà, nhất là bà cụ, thì rất đỗi vui mừng và hối thúc viết thư trả lời mời Ngọc Kiều ra vì biết rằng cuộc viếng thăm của Ngọc Kiều sẽ là một niềm an ủi lớn cho cuộc đời tuyệt vọng của Bích Khê.

Khi Ngọc Kiều bước vào phòng để gặp Bích Khê, bốn mắt nhìn nhau, hai người nghẹn ngào không nói ra lời. Nhất là khi nhìn thấy thân hình tiều tụy của người xưa, Ngọc Kiều không ngăn được giọt lệ.

Bích Khê bảo cháu nhắc ghế đặt ra sát giường đang nằm mời Ngọc Kiều ngồi, nói : “Chúng ta nhớ em là gái có chồng”.

Sau cơn xúc động, quả thật cuộc viếng thăm của Ngọc Kiều là cả một phương thuốc hồi dương sanh mệnh. Căn bệnh của Bích Khê hầu như thuyên giảm thấy được. Sắc mặt chàng trở nên tươi vui khác thường, làm cho cả nhà cũng vui theo chàng.

Ngày tiễn đưa bạn ngọc ra về, Bích Khê cảm thấy lần này xa bạn là lần vĩnh biệt. Ngọc Kiều đi rồi, Bích Khê đóng cửa, nằm trong phòng suốt buổi. Gia đình không ai hỏi han vì kính trọng giây phút thiêng liêng của chàng.

Từ khi làm thơ Đường đến đây, Bích Khê có 100 bài chọn lọc định xuất bản. Cũng trong khoảng thời gian này, chàng dự định cho ra tập Tinh Hoa hoặc Ngũ Hành Sơn. Sức khoẻ ngày càng xuống, cơ thể ngày càng mòn, bấy giờ cái buồn nghe đất lạnh mới thấm tận lòng chàng, chàng lặng lẽ khóc cho thân thế, cho sự nghiệp, cho tất cả những mối tình đối với tất cả những người thân yêu trong đời mình.

Chàng có một đứa cháu tên là Thu An mới lên bốn tuổi mà chàng rất thương. Cũng như các cháu khác, chàng không cho Thu An lại gần. Trên đầu giường Bích Khê có đặt một cái chuông, khi nào cần cái gì thì chàng nhận chuông.

VII. NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG

1945.

Một đêm có tiếng reo hò vang lên : quân Nhật đầu hàng. Sáng hôm sau, thiên hạ hay rằng có cuộc khở nghĩa.

Bích Khê mừng quá, bắt người nhà khiêng cả chàng nằm trên ghế bố ra cửa đón phong trào đương lên. Chàng nói với chị : “Em chưa muốn chết ! Em yêu đời quá !”

Ngay lúc chàng yêu đời, yêu dân tộ đương khởi nghĩa thì chàng không thể sống được nữa … Bài thơ rải bông trong mộng năm trước lại nhắc nhở cho Bích Khê nhớ cái chết trong mùa xuân.

Một mùa xuân mới lại sắp tới. Chàng nói với chị : “Mùa xuân này chăng ? Em có linh tính …”. Tháng sau, chàng đưa cho chị bài thơ Nấm mộ và bốn câu đề bia trước mộ.

Bệnh tình Bích Khê ngày càng trầm trọng. Tuyệt vọng rồi ! Gia đình đã tận nhân lực và cũng đã biết chàng không còn sống bao lâu nữa.

Đông chí qua, tiết Lập xuân đến, Bích Khê sửa soạn cái chết của chính mình. Chàng mời mẹ lên ngồi một bên, chàng nói chuyện để có dịp nhắc nhở ơn sin thành dưỡng dục, nhất là trong những năm nằm trên giường bệnh.

Tháng 11 vừa hết, tháng Chạp âm lịch bắt đầu. Chàng cho gia đình biết chàng thở hơi cuối cùng trong tháng này.

Chàng mời người chị thứ sáu lên, đọc lời di chúc, nhờ chị chép lại và xin mẹ, căn dặn mẹ làm đúng theo lời tuyệt mệnh :

           1. Khi chết, không được khóc ;

           2. Chết xong liệm liền, chôn liền ;

           3. Liệm rất giản dị, một tấm vải trắng đắp thi hài, một cái hòm thường, và đám tang không có kèn trống ;

           4. Bà con bạn hữu đến phúng điếu, không nhận tiền bạc ;

           5. Ngày giỗ chỉ đốt hương, trầm và cắm hoa, không được đặt đồ ăn trên bàn thờ ;

           6. Các tập thơ, chị Ngọc Sương và anh rể là Lạc Nhân mang quyền xuất bản.

Một buổi tối, sau khi ăn cơm xong, Bích Khê gọi mẹ lại, âu yếm kéo mẹ ngồi một bên, nắm tay mẹ, nói rất bình tĩnh :

– Còn ba ngày nữa, con không ở với mẹ nữa. Đúng ngày rằm thì con chết.

Rồi chàng xin mẹ mời thầy tụng kinh ba ngày đêm. Trong ba ngày này, Bích Khê chỉ ăn cam và uống sữa cốt để cho bao tử nhẹ nhàng tinh khiết. Đêm thứ ba, Bích Khê nhắm mắt nghe kinh, chốc chốc chàng mở mắt dòm chừng kim đồng hồ … Khi kim đồng hồ chỉ 11 giờ 30 phút, Bích Khê thấy hơi thở mình chưa báo hiệu cho sự chết, vì chàng còn khoẻ lắm. Bích Khê tỏ vẻ ngạc nhiên bằng tiếng : “Ủa … lạ chưa …”

Kim đồng hồ ta nặng nề đi qua như muốn kéo dài sự sống của chàng. Bích Khê lấy làm lo ngại nói một mình : “Tôi chết đêm nay mà !”. Khi 11 giờ 45 phút, Bích Khê chỉ còn hơi thở đều, rất nhẹ, rất mong manh. Bích Khê bảo mẹ và các chị đi ngủ, nói rằng trong mình chàng khoẻ lắm, chàng cần ngủ một chút.

Giấc ngủ ngàn thu bắt đầu từ giây ấy : 12 giờ khuya.

Tiếng kinh và tiếng mõ của nhà sư vọng lên cao xung quanh chàng, và tiếng nấc nở của mọi người thân yêu dồn vô lồng ngực, vì ai cũng muốn giữ đúng lời di chúc của chàng.

Nhưng sau khi đậy nắp hòm, và khi đất đã khoả trên cuộc đời của thi sĩ, gia đình cũng như bạn hữu không ai còn làm theo lời di chúc Bích Khê : nấm mộ vẫn được thấm tràn dòng lệ trắng. Và tiếng nức nở của người chị được kết dài thành tiếng thơ : “Khóc em”.

[…]

LÊ NGỌC SƯƠNG


Mon Frère : Bích Khê

L’auteur de cette article est Lê Ngọc Sương, femme de Lạc Nhiên Nguyễn Quý Hường, celle à qui mon frère Bích Khê a confié, avant sa mort, tous les poèmes qu’il a écrits au long de sa vie de poète. Mon frère avait de nombreux amis mais dispersés partout, si bien qu’il n’en reste que quelques-uns : Hàn Mạc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Tam Ích, Hoàng Trọng Miên, Lạc Nhân et moi. Parfois, et peut-être pour toujours, je n’arriverai jamais à trouver en Bích Khê de limite entre un frère et un ami.

I. L’ENFANCE

Bích Khê est le dernier-né d’une famille de neuf enfants, issue d’une lignée de héros patriotes. Notre grand-père était un mandarin sous le règne de Tự Đức ; il s’est suicidé pour rompre toute relation avec un madarin supérieur tout-puissant qui peut exécuter n’importe quelle personne avant d’avoir l’ordre royal ; c’est ce mandarin supérieur qui commandait la répression de l’insurrection de Phan Đình Phùng. Mon père faisait partie du mouvement Đông Du au moment où tous les intellectuels honnêtes, motivés par un ardent patriotisme, s’engageait dans le mouvement national pour lutter contre le colonialisme et recouver l’indépendance de la Patrie.

Etant le cadet de la famille, Bích Khê était choyé de tout le monde. Il est aussi un enfant très pieux envers ses parents et très affectueusement dévoué à ses frères et soeurs, particulièrement à celle qui est née immédiatement avant lui : ils sont très proches l’un de l’autre en âge, en pensée, en idéal, en mentalité, en caractère ; cette soeur, c’est moi. Mais nous sommes plus que soeur et frère : nous sommes deux amis, deux âmes-soeurs. Il est arrivé même qu’une fois, avec une troisième personne, nous avons fait comme les personnages des romans chevaleresques : faire un serment de fidélité avec du sang saigné de nos doigts, et jurer de vivre toujours l’un à côté de l’autre toute la vie et lutter ensemble pour un idéal unique …

Grâce à cette compréhension mutuelle, je m’efforçais de lui créer toutes les conditions familiales et sociales favorables pour l’épanouissement de son talent poétique. Comme tous les artistes du beau, le poète ne souffre aucune limite et aucune contrainte de l’espace et du temps.

Je suis la personne qui doit devancer, prévenir les jaillissements d’idées de mon frère, lui préparer les situations et les minutes favorables pour l’inspiration d’un frère de caractère difficile ; je suis en même temps une fenêtre pour regarder un homme qui souffre, un réveil toujours prêt à lui annoncer la venue d’une soirée d’automne.

Enfant, Bích Khê se plaỵt à ranger les latérites les unes sur les autres pour bâtir des maisons, des palais. Des fois, j’ai pensé que le petit bonhomme deviendrait un jour un architecte ou un ingénieur de bâtiments, alors qu’en réalité c’est un monument de poésie qu’il est en train de construire, un palais de l’art quoique minuscule.

Bích Khê est un élève paresseux. Une fois, à cause de sa paresse, mes parents le font ligoter à une colonne et le punir avec force coups de bâtons. Je croyais que l’âme poétique lui disait adieu après ces rudes coups. Bien au contraire, un changement inattendu s’est opéré en lui : il est devenu un garçon intelligent et appliqué ; il a passé d’un extrême à l’autre. Il s’applique tellement à l’étude que toute la famille s’inquiète pour sa santé. Une fois il doit se faire hospitaliser à cause d’un mal aux genoux. Pour le soigner, les médecins sont obligés de mettre ses pieds en suspens ; le pauvre enfant râle de douleur tout en apprenant ses leçons : la manuel scolaire ne quitte jamais sa main. Après ses études primaires, il va à Hanoð pour suivre les cours du baccalauréat (1932-1933).

A peine douze ans, Bích Khê commence à écrire des poèmes Đường luật (1) ; mes parents en sont très fiers devant leurs amis ; tout le monde prévoit la naissance d’un génie littéraire.

Et ce génie littéraire se développe parallèlement avec des sentiments d’humanisme encore empreint de timidité. L’argent que nous lui envoyons, il le distribue presque totalement aux pauvres de son entourage. Ceux-ci viennent frapper à sa porte. S’il est là présent, ils sortent de la maison toujours avec un cadeau quelconque, des vieux vêtements, un bol de riz, quelques sous pour leurs petites dépenses. Ce qui leur plait surtout, c’est qu’il sait cacher ses actes à sa mère, et la bonne dame de nature charitable qu’est notre mère, leur donne parfois aussi des cadeaux en dehors des cadeaux de son fils.

(1) Poème classique de la poésie des T’ang (Chine) à huit vers heptasyllabiques et à cinq rimes.

Ce garçon si bon déjà est par surcroit un garçon timide. Il n’aime pas recevoir, même des amis de même âge. Quand il y a des visiteurs, il fait son possible pour s’esquiver en affichant d’aller au jardin soigner les fleurs, les plantes ou en entrant dans sa chambre de travail et fermer la porte pour lire. Il ne reçoit que des amis très chers ou poètes.

II. C’EST CELA LA VIE !

Un jour, nous recevons de Hanoð une lettre de Bích Khê demandant à nos parents l’autorisation de suspendre ses études. La raison est qu’il veut employer la pension que nous lui envoyons mensuellement pour aider un ami pauvre – chose un peu contradictoire – à ne pas suspendre les siennes. Naturellement, mes parents qui ne pensent qu’à une chose : les études de Bích Khê, ne peuvent pas accepter une telle proposition.

Mais Bích Khê est un garçon têtu. Je suis la personne. Ma famille me confie la tâche de le persuader et le faire revenir à la raison ; je m’avoue totalement incapable. Non seulement il ne m’écoute pas mais il condamne mon intervention comme une lâcheté, signe d’une âme pusillanime.

Un mois après, ma sixième soeur accompagne Bích Khê et son ami à Phan Thiết. Ils habitent shez notre frère aỵné pour être près de l’école. Leur amitíe est si belle, si solide qu’on dirait un couple de pigeons. Bích Khê va jusqu’à promouvoir avec succès l’établissement d’une école privée pour aider son ami à trouver une carrière, une position sociale relativement aisée.

L’école tient bon pendant deux ans lorsque soudain je ne sais pourquoi les autorités locales donnent l’ordre de me saisir, m’expulser de Phan Thiết et m’obliger à retourner à mon village natal, à Quảng Ngãi. Bích Khê est pris de désespoir ; l’établissement tombe dans le désordre. Résultat : cette école revient en propre à cet ami. Dès lors, pris de regret et de tristesse, Bích Khê se détache de toute affaire d’argent ; cet “ami” s’éloigne peu à peu de lui-même et disparaỵt définitivement de son souvenir.

Bích Khê quitte Phan Thiết pour se rendre à Mũi Né, puis à Tà Cú, emportant avec lui non pas un sentiment de rancoeur mais un amour.

III. LE PREMIER AMOUR

Il aime Song Châu, une petite écolière aux yeux clairs et passionnés, à la peau blanche et fine, et de taille svelte, avec des traits délicats et aimables.

On ne s’imagine pas qu’un homme si entrepenant et si audacieux en poésie pût être si timide dans l’amour et cache en son âme un complexe moral de caractère nettement féodaliste : d’aimer sa propre élève est un acte amoral.

Mais l’amour a parlé la véritable langue de l’amour et les sentiments de Bích Khê s’attachent étroitement aux sentiments de la jeune fille, des sentiments aussi timides et sincères que les siens. Plus Song Châu se montre timide, plus profondément il l’aime. Le poème “Song Châu” dans Sang immaculé est un portrait fidèle du premier amour.

Après quelques mois à Tà Cú, Bích Khê revient à Thu Xà vivre en famille avec maman. Il lui dit affectueusement “Je vivrai toujours à tes côtés”.

Dans la famille, personne ne veut évoquer ses souvenirs sur l’école ni sur ses anciens amis.

Jour après jour, Bích Khê s’enferme dans la chambre pour écrire des poèmes. Cependant une fois les poèmes écrits, il n’aime pas les declamer lui-même parcequ’il a une voix rauque pas très belle. Il revient à sa soeur, c’est à dire à moi, de les réclamer pour lui en faire gỏter la beauté. Les amis venant lui rendre visite se donnent eux aussi le même devoir, qui loin de les déranger, leur donne de plus en plus plaisir.

Peu de temps après, il ressent du mal à la poitrine et de la fatigue : un problème de respiration. Je dois l’emmener à Huế, le faire hospitaliser et le soigner pendant une année. En tant que infirmière, je suis obligée de travailler beaucoup pour sa santé, évoquer nos souvenirs, raconter des histoires, declamer ses vers et souvent faire aves lui des compétitions poétiques.

La santé rétablie après un an d’hospitalisation, il revient vivre avec maman une fois encore, puis de nouveau regagne sa maison de villégiature aux pieds des montagnes. Nous devons construire pour lui une maison aux flancs du mont Thiên Ấn et lui donner un petit garçon pour serviteur.

A cette époque-ci, Bích Khê est très gai. Il dit à ses amis qui viennent lui rendre visite : “C’est vraiment merveilleux!”, puis leur parle de sa tranquillité d’âme qu’il obtient en transposant ses sentiments du domaine de la vie réelle dans le cadre de la nature, se faire ami des arbres, des plantes, des herbes, des fleurs. Avec enthousiasme, de son bras allongé il dessine dans l’air un grand cercle englobant tout le paysage qui s’étend devant nous. En effet, le spectacle est vraiment admirable. A nos pieds, à partir de la “ Tête du dragon émergeant de l’eau”, le cours de Sông Trà contourne le mont Thiên Ấn en faisant de nombreux détours enchevêtrés, évoquant l’image de la Mère-Rivière qui embrasse affectuesement ses enfants-montagnes – Le peuple a donné à ce beau site naturel on ne sait depuis quand, une très belle description : “Le mont Thiên Ấn berce la rivière Trà Khúc”. Et très loin au delà, apparaỵt un autre site non moins admirable “Le Pinceau en train de noter une page littéraire”.

Bích Khê, de son doigt désigne le mont Pinceau et plaisante : “C’est mon pinceau à moi”.

Puis il ajoute :

– Ici, c’est bien mon Paradis. Plus le paysage m’enivre, plus je suis décidé à y vivre, éternellement, pour mon bonheur.

Mais avec le temps, Bích Khê se délasse dela beauté des montagnes, il veut vivre en plein milieu du ciel, des eaux et des nuages. Une fois de plus, pour contenter ses désirs, sa mère et sa soeur doivent déplacer toutes les affaires y compris son petit belvédère auprès de la mer.

Néanmoins cela ne dure que quelque temps. Cinq mois après, comme le vent de mer ne convient pas à ses faibles poumons – en réalité il a d’autres raisons que le vent pour quitter la mer. Bích Khê demande à rentrer à la maison. Un mois à peine ne s’est pas passé que de nouveau il demande à venir dans une pagode à Phú Thọ pour faire de la poésie en même temps qu’étudier la philosophie bouddhiste.

En fin de compte, Bích Khê quitte l’atmosphère bouddhique et revient vivre à la maison avec sa soeur et sa mère. Toujours prêtes à contenter ses capricieux désirs, nous lui achetons une petite barque pour qu’il vive à loisir à la surface de l’eau et s’arrête où il veut, aujourd’hui Phú Thọ, demain Cổ Luỹ, après demain Sa Kỳ … Sur cette barque frêle et minuscule, il mène sa vie au sein de la nature et dans cette nature se recrée une inspiration poétique toujours neuve, toujours vive, toujours ailée.

IV. UN AMOUR SANS SUITE

La barque part, la barque revient, la barque vogue sur le courant du Trà Khúc et s’arrête un jour par hasard à l’embarcadère de l’amour. Ce jour là, elle glisse lentement en direction de Sa Kỳ. Il y rencontre Bích Thuỷ qu’il avait connue à Mũi Né, chez son grand-frère. Chaque fois que Bích Thuỷ et ses amies descendent dans la barque pour rendre visite à Bích Khê, l’atmosphère est très gaie et vivante. Elle retentit de déclamations poétiques qui apportent une joie nouvelle à Bích Khê à mesure que la voix devient de jour en jour plus douce. Parfois, Bích Khê se tient à l’avant de l’embarcation et dit sincèrement à sa soeur :

– La barque de Hàn Mạc Tử transporte la lune. La mienne transporte et la lune et les belles femmes.

A partir de ce jour, Bích Khê et Bích Thuỷ deviennent plus proches l’un de l’autre et leur amour se condense, s’amplifie avec le temps. Bích Khê est très réservé en ces jours si pleins de poésie et de rêve. Cette rencontre a causé une conséquence fâcheuse à Bích Thuỷ qui devient de jour en jour triste, d’une tristesse mêlée de douleur.

La pauvre fille tombe malade et se trouve en état de trouble mental. Elle appelle sans cesse le nom de Bích Khê, elle rêve de Bích Khê, elle écrit le nom de Bích Khê sur le papier et pleure. La douleur de cette jeune fille à allure de poétesse touche profondément maman ; elle incite Bích Khê au mariage. Mais Bích Khê s’y refuse : “Il n’est pas bien de se trouver toujours ensemble.”, répond-il à maman.

Bích Khê met fin à leur amour, le coeur meurtri de deux côtés. Ils quittent la petite barque et lui revient une fois encore vivre avec sa soeur et sa mère. Après quelque temps vivant en famille, Bích Khê veut de nouveau nous quitter pour s’en aller quelque part. Je le conseille en ces termes : “Tu peux vivre où tu veux, mais tout homme même poète, doit se donner comme principe de vivre une vie réelle : il faut qu’on soit dans le bien-être matériel pour pouvoir se consacrer aux activités intellectuelles et poétiques. Nous projetons, lui et moi, d’ouvrir une école privée à Phan Thiết. Quand tout est prévu au mieux, la réalisation du projet est confiée à Lạc Nhân, qui deviendra plus tard son beau-frère – mon mari. Lạc Nhân est alors secrétaire à la rédaction du journal Tiếng Dân (La voix du peuple) de Huỳnh Thúc Kháng et député de la Chambre des Représentants du Peuple du Centre Vietnam.

L’école est ouverte en 1930. Et tout le monde a l’occasion d’être témoin de l’apparition d’une association dont tous les membres sont solidaires comme dans une véritable famille. Dans cette oeuvre collective, chacun est responsable d’un travail déterminé ; la personne qui détient les liens de l’association de famille, c’est moi-même et le directeur exécutif n’est autre que mon mari Lạc Nhân.

L’école jouit d’un grand prestige dans la population. Les élèves sont nombreux. Pour répondre aux demandes des parents, nous ouvrons une classe supplémentaire du soir tenue par Lạc Nhân et Bích Khê. Cette classe supplémentaire a laissé à Bích Khê de très doux souvenirs et une blessure d’amour qu’il gardera jusqu’à sa mort.

Parmi les élèves de la classe du soir, il y a une qui s’appelle Ngọc Kiều. Elle a une figure douce et des yeux clairs mais tristes et rêveurs. Ngọc Kiều et Bích Khê ont beaucoup de sympathie et d’estime l’une pour l’autre, et de cette estime réciproque ils finissent à s’aimer d’un amour véritablement profond.

Puis par une soirée de pleine lune, claire comme le jour, nous nous promenons au bord de la mer, derrière l’école. Assis côte à côte sur le rivage, Bích Khê tire une feuille de papier de sa poche et esquisse rapidement quelques vers :

Oh ma soeur,
Un bleu intense couvre tout entier le firmament
L’amour de la lune se réveille dans les pétales des fleurs nouvelles
Ne ris pas, je t’en prie, si je te dévoile les vrais sentiments de mon âme
Mon présent amour est dix fois plus beau que toutes les amours d’antan.

Il me passe le papier.

“Ne ris pas, ma soeur”, demade-t-il. Mais sa soeur a ri pour de bon en voyant son frère le coeur empli de joie et d’amour. Cette fois le poète pense sérieusement à la question de mariage. Il me charge d’écrire à maman pour qu’elle fasse la demande en mariage. Toute ma famille se réjouit de la nouvelle decision d’un jeune homme de caractère difficile comme lui.

Mais la famille de Ngọc Kiều a refusé : “C’en est fait”, leur fille a été promise à un autre, le fils d’un riche commerçant. Comme conséquence, Ngọc Kiều est atteinte de trouble mental – encore une fille atteinte de ce mal ! Elle pleure, elle rit, elle parle de se suicider … Et sa famille, dans la peur de perdre leur enfant, finit par accepter la demande et nous invite à venir résoudre la question.

Malheureusement les affaires de la vie ne marchent pas toujours selon la raison. Cette fois c’est Bích Khê lui-même qui déclare refuser. Le véritable motif de son refus, c’est l’amour-propre : plutôt endurer la douleur que d’être mépriséù.

A partir de ce jour, la poésie de Bích Khê coule en effusion ; il pleure pour son sort, il pleure pour Ngọc Kiều, il pleure toutes les complications et les vicissitudes de la vie, les infidélités humaines … Mais par malheur, la plupart des poèmes de Bích Khê ont été brûlés par les bombes ennemis en même temps que notre maison. Je me souviens en mémoire de quelques vers qu’il a dédiés à Ngọc Kiều, quand elle se décide de se marier avec un autre :

Le bonheur sous le ciel a des traits de beauté différents
Ne pense plus aux amours passées, oh Ngọc Kiều ma chère
Mon coeur ne peut souffrir de te voir solitaire
Comme une hirondelle isolée à l’horizon lointain.

V. L’AMITIÉ

Notre école de Quảng Thuận où des âmes généreuses s’initient aux complications de la vie a été obligée de fermer deux fois, sur l’ordre de l’administration qui veut la détruire, mais deux fois son directeur Lạc Nhân a réussi, par une lutte acharnée et adroite, à la faire réouvrir.

La troisième fois, en proie à une tristesse profonde et ne voulant plus vivre dans un lieu qui lui rappelle tant de douloureux souvenirs, Bích Khê conseille à Lạc Nhân de ne plus continuer la lutte et de laisser l’école péricliter.

Puis Bích Khê s’en va. Il s’arrête à Quy Nhơn pour rendre visite à Hàn Mạc Tử et le consoler de ses terribles souffrances. Un malheureux qui console un malheureux. La profonde amitié entre les deux malheureux a réussi à réduire un peu la souffrance de chacun. Bích Khê offre à Hàn Mạc Tử une belle photographie prise à deux avec sa soeur, dans l’intention de susciter à Tử quelques sentiments amoureux, du moins un rêve passager sur la jeune fille que je suis dans la photo. Le rêve en ces pénibles instants est pour Hàn Mạc Tử le seul remède capable d’apaiser tant soit peu son âme souffrante. En effet, Tử a écrit un joli poème et l’envoie à Bích Khê :

J’écris le mot Perle – Ngọc – sur une feuille de bananier
La rosée – Sương – du Palais de la lune y tombe sans une seconde de relâche
Mon amour continuellement agité ne peut se condenser en masse
La colère des fois me fait mordre les lèvres sans y penser.

Bích Khê lit le poème mais il me le cache, heureux d’avoir réussi avec sa façon “d’évangéliser les gens moralement”. Le malade a besoin de remèdes. Tout remède aidant à apaiser son mal est bon.

Puis Bích Khê retourne à Thu Xà pour quelque temps et enfin prend la décision d’aller se fixer quelquepart dans le Sud pour continuer à faire de la poésie et écrire. Dans ce voyage nous avons une troisième personne comme compagnon. Nous vivons tous les trois dans la joie et l’abnégation et dans l’esprit de camaraderie dans le travail.

J’ai arrangé une petite affaire de commerce pour avoir de quoi subvenir à notre existence matérielle. Je dis une “affaire” pour plaisanter tout simplement car en réalité nous avons échappé à la pauvreté et pouvons vivre assez correctement. Toute une longue année, chacun de nous s’est efforcé de traduire ou d’écrire des livres de caractère littéraire ou social. Notre poète a pu traduire en vietnamien “Retour de l’U.R.S.S.” d’André Gide.

Nous avons une nouvelle amie, Phương Thảo. Cette nouvelle amie doit se coucher par terre pour dormir, car il n’y a pas de lit disponible. Bích Khê lui dit pour plaisanter :

Chez nous, résigne-toi à coucher par terre
La terre est fraỵche, tu peux y bâtir des rêves d’or.

VI. DES SOURCES DE CONSOLATION

1945.

Bích Khê a de nouveau mal aux poumons. Il doit aller à l’hôpital Pasquier de Huế. Naturellement je dois le suivre pour le soigner.

Après huit mois, il s’est relativement rétabli. Il retourne à Thu Xà pour sa convalescence. Comme il est malade, toute la famille l’entoure de soins ; il est choyé comme un petit enfant. La maisonnée devient un hôpital où chacun est infirmier et garde-malade, secrétaire et déclamateur de poèmes à la fois. Les tout petits enfants y ont leur rôle : Lệ Xuân, Hải Đường, Phi Hiền … en sont rarement absents.

Pour que Bích Khê puisse quelquefois changer d’air, je le fais venir habiter à Hoàng Hoa Trang (Quảng Nam), village natal de mon mari. L’atmosphère y est calme et l’air très pur convient parfaitement à Bích Khê.

Un matin, Chế Lan Viên et Nguyễn Đình viennent nous voir à Hoàng Hoa Trang sans prévenir à l’avance. Bích Khê est très gai. Mais à leur départ, Bích Khê pleure à chaudes larmes : “A quand la nouvelle rencontre? Nous reverrons-nous jamais?”.

Après un séjour d’un mois à Hoàng Hoa Trang, nous retournons à Thu Xà. Un jour, Hoài Thanh de Huế se rend à Thu Xà, où Bích Khê est en convalescence et lui demande quelques-uns de ses poèmes et une photo pour les publier dans le recueil Thi nhân Việt Nam (Les poètes du Vietnam) qui va bientôt paraỵtre. Bích Khê en choisit deux qu’il remet à Hoài Thanh : La Cythare et Peiture à nu, mais de ses photos aucune. C’est pourquoi dans le recueil Thi nhân Việt Nam, seul Bích Khê n’a pas de photo.

Ces dernières années, la santé de Bích Khê devient de plus en plus défectueuse. Quách Tấn lui écrit assez régulièrement, fait souvent avec lui des compétitions poétiques et lui présente une nouvelle amie, amoureuse de poésie elle aussi : Liên Tâm.

Ayant découvert que Liên Tâm est amante de son ami même, Bích Khê fait une amusante pastiche de son poème et la lui renvoie par les soins de Quách Tấn :

Il est tard ; la chanson a disparu au-delà de la rivière
Le poème d’amour, je le couve encore dans mon coeur
Cette nuit, combien tu me manques, oh ma soeur si chère
Pour t’apporter un message les hirondelles seront-elles de retour?
Près de moi, sur une branche d’abricotier blanc, des fleurs de perle frissonnent d’inquiétude
A côté, une touffe de chrysanthèmes cache ses quelques fleurs embaumées
Désirant voir en rêve mes amis et mes proches
Aux heures tardives de la nuit, je reste encor au balcon à rêver.

Bích Khê a trouvé dans l’amitié et dans l’amour de la poésie une grande consolation dans ses heures de souffrances. Entre temps, il a dû pleurer la mort d’un frère – Tỉnh Nam Lê Quang Hường – d’un ami – Hàn Mạc Tử – et de quelques autres.

Quelque temps après, il reçoit une lettre de Ngọc Kiều ; elle lui souhaite une bonne santé et exprime le désir de venir le voir s’il lui donne une réponse positive. Toute la famille et surtout Maman l’incite à accepter, car une telle visite, selon l’avis de tous, sera pour lui une grande consolation dans le désespoir.

Lorsque Ngọc Kiều franchit le seuil de la porte et entre dans la chambre, ils se regardent en silence, incapables de se dire un mot tellement ils sont émus. Voyant son ancien ami en un tel état de dépérissement physique, Ngọc Kiều ne peut retenir ses larmes.

Bích Khê dit à sa petite nièce d’apporter une chaise et de la placer à côté de son lit. Il dit à Ngọc Kiều : “N’oublions pas que tu es mariée”.

Après ce contact plein d’émotion, la visite de Ngọc Kiều a laissé des effets tout à fait heureux. La maladie semble diminuer progressivement, de façon sensible. Sa mine respire une gaité extraordinaire et toute la famille, comme lui, retrouve la joie et l’espoir.

Le jour de leur séparation, Bích Khê sent bien que c’est le dernier adieu. Ngọc Kiều partie, il s’enferme tout le reste de la journée dans sa chambre. Personne de la famille n’ose lui parler, par égard pour une âme en peine.

Depuis le jour où Bích Khê commença à écrire des poèmes Đường luật, le nombre de poèmes qu’il a écrits s’élève à une centaine, qu’il choisit pour en faire la publication. C’est à cette époque qu’il a l’idée de faire paraỵtre un receuil Tinh Hoa (Elite) ou Ngũ Hành Sơn. Mais sa santé déprime rapidement ; il sent son corps se dessécher avec le temps. C’est alors qu’il a conscience du caractère éphémère de sa destinée, de sa carrière, ainsi que de ses amours.

Bích Khê a une petite nièce appellée Thu An, âgée de quatre ans, qu’il aime beacoup. Comme avec d’autres nièces, il ne laisse pas Thu An s’approcher de lui. A la tête du lit, il y a une petite sonnette. Quand il a besoin de quelque chose, il appelle en appuyant sur la sonnette.

VII. LES DERNIERS JOURS

1945.

Une nuit, des grands cris se répètent à travers les rues : “Les Japonais ont capitulé”. Le lendemain, on comprend que c’est l’insurrection générale du peuple.

Bích Khê resplendissant de joie, demande qu’on le transporte couché sur son lit pliant à la porte d’entrée de la maison pour saluer le mouvement patriotique. Il me dit : “Je ne veux pas mourir! J’aime trop la vie!”

Juste au moment son amour de la vie monte comme une sève, juste au moment où la Patrie entière se soulève pour conquérir l’indépendance nationale, il ne peut plus vivre. Le rêve parsemé de fleurs de l’année dernière lui rappelle la mort, la mort en plein milieu de la jeunesse.

Un nouveau printemps va venir. Bích Khê me dit : “Serait-ce celui-ci? J’en ai le pressentiment”. Le mois suivant il me passe son poème, le plus récent : “La tombe” et quatre vers comme épitaphe.

La maladie de Bích Khê s’aggrave de jour en jour. Plus d’espoir! Et la famille aussi a épuisé toutes les ressources : elle sait que les jours de Bích Khê sont comptés. Le solstice d’hiver passe. Le printemps commence.

Bích Khê prépare sa propre mort. Il fait venir Maman à son chevet, lui parle longuement des bienfaits et des sacrifices dont elle l’entoure depuis sa naissance jusqu’à présent, surtout pendant sa maladie où elle n’a pas quitté son chevet une seule minute.

Le mois de novembre prend fin ; le douzième mois du calendrier lunaire commence. Il prévient la famille qu’il mourra dans le cours du mois.

Il fait venir sa sixième soeur, dicte son testament et la prie de l’enregistrer, puis demande à Maman de réaliser exactement sa dernière volonté :

           1. Ne pas pleurer à sa mort ;

           2. Organiser immédiatement la levée du corps et l’enterrement ;

           3. L’ensevelir avec un simple drap blanc propre et pur, un cercueil ordinaire et sans tambour ni trompette ;

           4. Ne pas accepter d’argent de condoléances ;

           5. Les jours de l’anniversaire, pas de mets sur l’autel mais seulement des fleurs et de l’encens ;

           6. Les droits d’auteur des recueils de ses poèmes appartiennent en propre à Ngọc Sương et Lạc Nhân.

Un soir, après le repas, Bích Khê fait venir Maman, la fait s’asseoir tout près de lui et dit d’une voix seraine et calme :

– Dans tros jours, je ne serai plus avec toi. Je mourrai le quinze du mois lunaire.

Il demande à Maman d’inviter les bonzes à venir prier pour lui trois jours. Pendant ce temps, il ne mange que des oranges et ne boit que du lait pour garder l’âme pure. La troisième nuit, il écoute les prières les yeux fermés, mais les rouvre de temps en temps pour regarder les aiguilles de l’horloge. Quand l’horloge marque 23h30, Bích Khê sent que sa respiration n’annonce pas encore la mort parce qu’il semble un peu rétabli et dit avec surprise : “Oh! C’est étrange!”.

Mais les aiguilles de l’horloge continuent d’avancer comme si elles veulent prolonger sa vie de quelques instants encore. Il se dit à lui-même : “Je dois mourrir cette nuit pourtant !”.

23h45, sa respiration est devenue très faible. Il dit à Maman et à ses soeurs d’aller se reposer, car – dit-il – “Je me sens un peu rétabli. Je voudrais dormir un peu.” Son sommeil éternel commence juste à minuit : 24h.

La prière des bonzes s’élève haut dans la nuit ; par contre, les personnes de la famille répriment leurs sanglots, fidèles au testament de Bích Khê.

Mais quand le cercueil est fermé et que la terre a recouvert la vie du poète, toute la famille et les amis se fondent en larmes. Les sanglots de sa soeur se prolongent puis se cristalisent en un poème de douleur : “Aux manes de mon frère !”.

[…]



© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản tác giả gởi từ SàiGòn ngày 24.01.2013.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com