Nhà Thờ Con Gà ĐàLạt



Rằm Tháng Năm Nguyệt Thực  


    Rằm tháng Năm, Nguyệt Thực, bắt đầu từ nửa đêm. Đất và trời tối đen kéo dài gần tới sáng…

    Rằm tháng Năm lãng mạn, sóng cũng buồn ngưng ngang. Biển trong giấc miên man thở bay làn sương khói.

    Rằm tháng Năm chờ đợi ánh trăng vàng như mơ. Chỉ chút hồi đầu khuya, tối tăm từ bán dạ.

    Rằm tháng Năm, điềm lạ, báo những gì tương lai? Núi cao và sông dài, Quê Hương, hoài thương hải?

    Rằm tháng Năm kỳ quái, trăng chìm lâu quá lâu. Những ngọn đèn trên cầu cũng nghẹn ngào muốn khóc…

    Rằm tháng Năm, Tổ Quốc, chắc buồn đồng lúa chiêm? Không trăng mất một đêm, lúa không chừng lép hạt.

    Rằm tháng Năm bát ngát ở giọt lệ người lăn, ở một nước Việt Nam rào che và cổng khóa!

    *

    Một hiện tượng kỳ lạ bao trùm khắp thế gian. Ngọn sóng Thần chưa tan nên che trời tối mịt?

    Rằm tháng Năm nước Nhật chắc buồn hơn nước mình? Con dế mèn làm thinh. Đêm buồn hiu. Câm lặng!

    Rằm tháng Năm im vắng, em và các vì sao. Cây, gió chạm, thì thào. Cây gió chạm thì thào…

Tiền Duyên Hay Nghiệp Chướng  


    Ai cũng nói: “Chao ôi buồn muốn khóc”. Câu dễ thương tôi nghe “nhột” lòng rồi!. Nguyễn Công Trứ nói ngược: “Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười”. Nguyễn Công Trứ không có một ngày vui, trọn đời ông ưu tư không dứt…

    Hơn tám mươi tuổi, ông dâng sớ lên Vua xin đi đánh Pháp. Dĩ nhiên là Vua Tự Đức không cho. “Khanh đã già rồi! Để đàn trẻ chúng lo. Khanh là tấm gương sáng. Khanh là mặt trời chiếu rạng. Khanh hãy về dưỡng già, Trẫm biết ơn Khanh!”.

    Trước vận nước mong manh, tuổi nào đành nhắm mắt? Nhưng chúng ta, hãy một lần nói thật: “Tại sao mình chưa giải ngũ mà lại là Cựu Quân Nhân?”. Câu trả lời, câu rất chung chung: “Ai cũng xưng thế thì mình cũng theo cho hợp lẽ…”. Chuyện nước non rối như nồi canh hẹ. Chuyện cà phê hiên sôi nổi từng ngày…

    Tôi buồn buồn ngồi ngó trời mây
    Hai hàng nước mắt chảy lúc nào không biết
    Bọn Tàu Ô chúng rất thèm nước Việt
    Chúng ta thì…chỉ phản ứng cầu an!


    Những hồi chuông Chùa vang vang. Những hồi chuông Giáo Đường thánh thót. Ai đã nói: “Chao ôi buồn muốn khóc”, dám ném không ba chữ Cựu Quân Nhân? Hay chúng ta tay chắp nói trăm lần: “Xin Chúa cho con mỗi bữa ăn vừa đủ”. “Xin Phật cho con đóa hoa sen vừa nở dẫu trong bùn mà chẳng vướng mùi tanh!”.

    Cây thông xanh, vút cao triền núi, bị đốn rồi…từ ngày Ba Mươi tháng Tư! Nguyễn Công Trứ chắc đang cười, ai đang khóc trên dòng đời trôi nổi? Chắc không phải chúng ta – những người chết đuối được kéo lên bờ…lo tương lai cho cháu con! Những ông Bác Sĩ trẻ, những ông Kỹ Sư non…Thế hệ đó làm vẻ vang nòi giống!

    Lạc Long Quân tại sao thành Lạc Lõng? Bà Âu Cơ…là Mẹ, cứ Âu Lo?

Thu Hằng  


    Đêm đó, đêm mùa Thu, tôi, dưới trời trăng sáng. Không phải đêm tháng Tám nhưng vẫn là mùa Thu…

    Mùa Thu ba tháng, lâu. Tháng Bảy, Tám và Chín. Gió heo may lành lạnh, lạnh hơn sắp tháng Mười…

    Tôi, một mình, tôi ngồi. Trăng một vầng trăng sáng trên đầu tôi, mây tản và sương tan mờ mờ.

    Tôi ngồi trên chiếu thơ, đêm trăng tròn, trăng khuyết, ba tháng dài bất tuyệt mà thơ không thành thơ!

    Em à em, tôi mơ có em ngồi bên cạnh. Trăng nhiều khi lóng lánh. Tôi biết tôi thật buồn…

    Em như nước trên nguồn chảy ra sông ra biển. Trước tôi em không hiện. Sau tôi em thì thào…

    Có đêm mưa dạt dào, tôi cuộn trăng trong chiếu. Tôi biết tôi vẫn thiếu một em – em trong đời…

    *

    Đêm đó, đêm nghẹn lời. Gọi em mà ứa lệ. Từ khi em tạ thế, mùa Thu tôi thê lương.

    Em, bây giờ linh hồn trong màu trăng tê tái. Tôi nhìn trăng tê dại, tôi, đời tôi hoang vu…

    Ôi em ơi mùa Thu con trăng còn biết lội tôi chờ em về tối từng đêm trăng mùa Thu!

Nhật Ký Tinh Sương  


    Sáng nay không nắng. Chắc không mưa. Thời tiết như Thu đang chuyển mùa. Kéo cổ áo lên ngăn gió lạnh, thả vòng khói thuốc tới đâu chưa?

    Tới đâu? Tới bụi hoa hàng xóm? Tới nóc nhà thờ chuông mới ngân? Tới chỗ hôm qua mình đứng nán nhìn trời ngơ ngẩn bóng phù vân?

    Hôm qua, hồi tối, mưa vừa tạnh, man mác hơi sương thở cũng buồn. Không hỏi nữa sao mình lại thế vì câu chờ đợi sẽ thêm thương…

    Nghĩ về xa lắm, mùa dông bão. Nghĩ Thái Bình Dương chẳng thái bình. Tàu chiến chạy quanh vòng nước xoáy, muôn đời thì biển vẫn sâu xanh…

    Sáng nay thăm thẳm. Sầu thăm thẳm. Những kẻ ra đi nuốt lệ hờn. Những người còn lại đời lê lết. Ôi chỗ ra đời sao Cố Hương?

    Làm một đoạn thơ, nhìn lại, khóc. Vụng về. Tan nát tấm lòng thôi. Đù cha cái kiếp con dân Việt, vượt biển trèo non, tủi hỗ hoài!

    Nghĩ về xa lắm. Nghĩ về đâu? Người Lính trời ơi tóc bạc đầu. Gửi xác quê người không phải phúc. Thả hồn ra biển – biển hay dâu?

Nhân Ngày Của Cha  


    Father’s Day là Ngày Của Cha. Rõ ràng như thế, thế mà…thật đáng kinh hãi khi bạn thấy có người nói Father’s Day là Ngày Hiền Phụ, bắt bạn phải hiểu Đó Là Ngày Tưởng Nhớ, Biết Ơn Một Đấng Cha Hiền. Họ hiểu chữ Phụ là Cha ở chữ Thân Phụ (Cha đẻ của mình) và chữ Phụ Mẫu (Cha và Mẹ). Giản dị thật: cứ Phụ là Cha. Chữ Phụ, hiểu thế này cũng gán luôn cho Phật: Đức Từ Phụ!

    Thường người ta nói “Bé Cái Nhầm” chớ không ai nói “Nhớn Cái Nhầm”. Tản Đà từng “phát biểu”: Nước bốn ngàn năm ai người nhớn? Dân hăm nhăm triệu toàn trẻ con! Tội nghiệp quá người mình! Một thời nước mình có tên là Đại Ngu, dễ sợ!

    Người đàn ông, là người thì ai cũng hiền. Câu “Nhân Chi Sơ Tính Bản Thiện”, là vậy. Dĩ nhiên có không ít người ác, tức không hiền, tiếng đời là “ác nhân”.

    Người đàn ông Hiền thôi, chưa đủ mà phải Uyên Bác nữa. Đối chọi với chữ Ác Nhân là chữ Hiền Nhân. Ác Nhân là người (đàn ông) vừa ác độc, vừa tàn bạo, còn Hiền Nhân là người (đàn ông) Hiểu Biết Rộng và Hiền Từ. Đàn ông mà Hiền đến nỗi xuôi xị, nếu làm chồng một người đàn bà thì nhất định mang tiếng là Đồ Râu Quặp, do đó không có người đàn ông nào Hiền như vậy mà được kính trọng; nói khác đi người đàn ông Hiền phải xứng đáng bốn chữ: Hiền Nhân Quân Tử, vừa Hiền vừa Quảng Đại. Khi nói đến Thánh Hiền, ta hiểu ngay Bậc Thánh Nhân và vị Thánh đó là Đàn Ông!

    Chữ Hiền cũng dung để chỉ người đàn bà. Hiền Phụ là Người Đàn Bà Hiền Lành. Người đàn bà có thể không chồng (thì không sinh con) nhưng được bà con hàng xóm thương yêu và nễ nang vì Hiền Lành và Dễ Thương..

    Người Mẹ Hiền không ai gọi là Hiền Mẫu mà gọi cho đúng là Từ Mẫu. Chữ Từ, có nghĩa là Hiền, chỉ dùng cho người Mẹ thôi. Câu châm ngôn của Thầy Thuốc là: Lương Y Như Từ Mẫu. Không bao giờ bạn thấy ai viết hay nói: Lương Y Như Hiền Mẫu. Chữ Hiền Mẫu nếu dùng ở đây, câu châm ngôn này, là sai, hoàn toàn sai!

    Người mình có cái thói quen là cái gì cũng xa va cả. nhất là những gì đã từng nghe nói và ai cũng hiểu theo cách hiểu “thô thiển”. Chẳng hạn như câu đầu môi này: “Ngưu Tầm Ngưu, Mã Tầm Mã”, hiểu thô thiển là Trâu Tìm Trâu, Ngựa Tìm Ngựa, hiểu nghĩa bóng là Người Xấu Tìm Người Xấu. Thực tế trâu đực tìm trâu cái (khi biết có trâu cái rượng đực), gặp nhau mây mưa một lần thôi, không trở lại “mí nhau” nữa. Ngựa cũng vậy. Chỉ con người, chuột và thỏ thì ôi thôi lu bù, đêm bảy ngày ba vô ra khỏi đếm. Bạn có thể kiểm chứng nơi Heo (lợn), chỉ một lần. Đây là diều dễ nhận xét nhất. Còn Người Xấu, bạn ạ, nó không chơi với bạn xấu đâu! Thí dụ như một thằng ăn trộm nó không tìm thằng ăn trộm để kết bạn. Bể hết! Cô gái yếu nhan sắc không làm thân với người nào …xấu hơn mình!

    Bác Sĩ Yersin từ Pháp đến Đông Dương, khám phá Đà Lạt và ở Suối Dầu (thuộc tỉnh Khánh Hòa), ông mở đồn điền cao su, nuôi ngựa để lấy huyết thanh cho viện Pasteur nghiên cứu. Mỗi con ngựa có chuồng riêng, đánh số. Ban ngày mở cổng chuồng cho ngựa đi vào rừng kiếm ăn, chiều chúng quen đường về lại, con số nào vào đúng chuồng số nấy, không lộn xộn! Bạn có tin không? Nếu không tin cứ đi kiểm chứng. Suối Dầu ở phía Nam Nha Trang không bao xa, vài mươi kilomètres. Bác Sĩ Yersin mất, còn mộ ở Suối Dầu, tất cả tài sản và công trình của ông đều hiến cho Chính Phủ.

    Tôi dài dòng nhân nói về mấy chữ Father’s Day. Tôi ước mong sao chúng ta đặt nặng vấn đề Chính Danh để lòng ta nhẹ, cái đầu ta cũng nhẹ, có thế mới cứu được Đất Nước..Trọn đời ông Khổng Tử chỉ vì hai chữ Chính Danh mà sống và làm việc. Hơn hai ngàn năm rồi, thiên hạ không ai nhớ lời Khổng Tử dặn dò qua câu “Chính Danh Định Phận”.

    Nhân ngày của Cha, tôi xin cống hiến bạn một câu chuyện sau đây – câu chuyện này, đúng là một Truyện Cực Ngắn, tức là nội dung không dài dòng, không lòng thòng, không bắt mình phải “theo dõi” mệt mõi. Tôi hoàn toàn không biết ai là tác giả. Bạn của tôi thấy hay thì forward cho tôi qua internet. Tôi nghĩ bạn tôi Tốt, muốn nhắn nhủ tôi. Tôi đã reply là rất-cảm-ơn và xin phép bạn tôi cho tôi chuyển tiếp đến nhiều người…

    Làm việc Phải, tôi chẳng sợ dị nghị. Tôi mời bạn đọc nhé…

    Sống chung với với ông bố chồng già yếu, bướng bĩnh, là chuyện không dễ. Ông hay than phiền, hỏi những câu không đúng lúc và từ chối các món ăn cần thiết. Ông hãnh diện về thời trai trẻ, cứ kể đi kể lại các câu chuyện của thời vàng son. Hồi đó là Chỉ Huy Trưởng trong quân đội…Ông luôn luôn đặt lý trí trên tình cảm.

    Tôi biết ông là người Tốt nhưng có cảm giác ông sống vì khối óc chớ không vì con tim, thiếu sự thông cảm.

    Hôm nay đưa ông đi lễ Nhà Thờ, một lần nữa ông lại mặc bộ vest cũ sờn rách may từ Việt Nam sang. Tôi nhẹ nhàng: Bố nên thay bộ đồ con mua hôm trươc, bộ quần áo này cũ quá!

    - Nhưng Bố thích mặc bộ này!

    Tôi bắt đầu cau có: Nhưng mặc như vậy đi chỗ đông người rất kỳ, người ta sẽ nghĩ tụi con bỏ bê không chăm sóc Bố.

    Ông già buồn rầu lặp lại: Bố thích bộ quần áo này lắm.

    Tôi cũng cương quyết: Bố nên thay ngay, con không thấy có lý do gì để Bố thích nó!

    Ông già trả lời rất gọn ghẽ, chân thành, lâu nay ít khi nào tôi thấy ông minh mẫn như vậy:

    - Chính Mẹ đã tặng Bố bộ quần áo này để mặc ngày kỷ niệm Thành Hôn. Khi chồng con ra trường, Bố cũng mặc bộ đồ này. Ngày đưa Mẹ con ra nghĩa trang, Bố cũng mặc bộ đồ này. Bố thật vui và xúc động khi mặc nó.

    Nước mắt ông già hoen trên mi, rơi xuống gò má nhăn nheo. Tôi hụt hẫng và hết sức bối rối. Bố chồng tôi sống tình cảm và có lý hơn tôi nghĩ.

    Trước khi quyết đoán người nào đó khô khan, không có trái tim, tôi nên xét lại trái tim mình đã.


    *

    Câu chuyện trên chấm dứt…hình như chưa chấm dứt Thôi chừng đó đủ dài. Kể cả bài luận văn rất dở của tôi hôm nay – nó chỉ hay ở chỗ tôi lồng vào được một câu chuyện để có lý do nói với bạn: Chúc bạn Vui, cả nhà cùng Vui trong ngày đáng Nhớ: Ngày Của Cha!

Lời Ở Trong Trái Tim  


    Em nghe nhạc hòa tấu, những bản nhạc không lời, em nhớ lại một thời, thời em muốn im lặng.

    Hồi đó trời không nắng. Hồi đó trời không mưa. Tháng Bảy ngày mờ mờ. Đêm mưa Ngâu nhè nhẹ.

    Hồi đó em rớt lệ. Nhạc buồn như tiếng mưa. Nhạc buồn như võng đưa. Nhạc êm như nắng nhạt…

    Em ngước nhìn ngơ ngác. Cơn gió mát qua thềm…Nhạc bay lên bay lên như bàn tay ai vuốt…

    Trái tim em bị sướt một thời ôi một thời! Tại sao người xa người? Tại sao em trơ trọi?

    Em chờ nghe tiếng gọi như tiếng chim bình minh. Em chỉ nghe giật mình, nhạc trầm buồn thống thiết…

    Người xa người, mất biệt, còn tiếng nhạc long lanh, còn ánh đèn mong manh. Còn đôi môi vàng úa…

    …và em mặc áo lụa đi chơi chiều-hoàng-hôn. Và những gì rất buồn nghe hòa trong điệu nhạc…

    Em cắn môi em hát…và nhạc bỗng có lời người ơi người ơi tình ơi là tình ơi…

    *

    Em nghe nhạc không lời, những bản nhạc hòa tấu. Ở đời ai tốt xấu? Em nghĩ xấu cho người.

    Em đâu muốn xa người! Em bật cười rồi khóc…Ai ở đâu có đọc bài thơ này, buồn không?

Nghĩ Đến Nước Non Lòng Bất Nhẫn  


    “Một Đất Nước chưa Ngày Nắng Đẹp, một Quê Hương chẳng Má Ai Hồng!’. Tôi làm Thơ vậy, làm cho…Có! Bởi lẽ nào tôi viết chữ…Không!

    Bởi lẽ nào tôi…Vô Cảm được khi Hoàng Sa đó, Trường Sa kia, giữa trời giữa biển mênh mông nước như mắt tôi đang đẵm với đìa!

    Làm Lính, khởi đi từ rất trẻ. Làm Tù, ở tuổi mới ba mươi. Nhiều đêm thao thức nhìn đêm trắng, tự hỏi lòng “Ai Khiến Bể Dâu?”.

    Ai khiến hai tay bưng cái cuốc, trồng khoai trồng sắn chẳng ngày no. Trồng người, trời ạ, trăm năm đợi có được hay không Một Nấm Mồ?

    Cái Có cái Không, nhìn, đã thấy! Hỡi Hoàng Sa với Trường Sa ơi! Gia Long vượt biển, bia đem đặt, chữ tạc lòng son, tạ đất trời…(*)

    Chưa mấy trăm năm, phai nhạt hết Người sau không nhớ tình người xưa! “Bình tâm! Phản Ứng Nên Nhè Nhẹ!” . Giận chớ! Đời nay không có Vua!

    Chỉ lũ theo thời, quân cướp nước! Chỉ toàn bịp bợm, sử bôi đen! Trời Đông không thấy Bình Minh hiện thì chắc trời Tây đã nhá nhem?

    Cái tối cái tăm lòng chó má làm cho Non Nước mãi điêu linh! Làm cho Non Nước thành dâu biển. Mà chẳng làm sao trước bất bình!

    Đù mạ bút ta mòn hết bút! May mà còn kịp mấy câu thơ…”Quân Bây! Một Lũ Quân Ăn Cướp…Tàn Cuộc Phơi Thây Giống Quỷ Hồ!”.

    Nghĩ đến Nước Non, lòng bất nhẫn! Vì sao Trời đọa mãi dân ta? Vì sao Chùa Miếu xây san sát mà chẳng ai xây lại Nước Nhà?

(*) Năm 1818, vua Gia Long ra đảo Hoàng Sa cắm bia ghi rõ ranh giới của nước Nam . Biển của ta, ông gọi là Nam Hải. Con cá Voi, ông phong cho Tước Hiệu Nam Hải Ngạc Thần Ngư Ông. Nam Hải là Biển-Của Nước Nam, Nam Hải không là biển của Tàu. Chữ South China Sea thực dân phương Tây đặt, thực dân Pháp thì gọi là Mer De L’Indochine, tức Biển Đông Dương (thuộc Pháp), một Outre Mer De France, tức một Hải Ngoại của Pháp. Năm 1955, Tổng Thống Ngô Đình Diệm muốn thiết lập nhà máy chế tạo phân phốt phát mà nguyên liệu lấy từ phân chim đầy ắp trên Hoàng Sa và Trường Sa, kế hoạch này bị “Đồng Minh” Mỹ bác bỏ! Trên đảo Hoàng Sa có cơ quan Khí Tượng do Pháp xây dựng. Năm 1945, sau khi đầu hàng, Nhật đã long trọng trao trả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cho Pháp. Năm 1951, tại Hội Nghị San Francisco, Thủ Tướng Trần Văn Hữu được Hội Nghị đồng ý “Quốc Gia Việt Nam có chủ quyền về Hoàng Sa và Trường Sa”. Năm 1972, sau khi cùng Nixon đi thăm Bắc Kinh về, Kissinger ra trước Quốc Hội Mỹ yêu cầu hai viện tán thành việc phải ký Hiệp Định Paris, ban đầu Quốc Hội Mỹ không chịu vì cho rằng Mỹ chưa hề Thua, nhưng sau khi Kissinger đưa ra bản đồ không ảnh cho thấy Thềm Lục Địa Việt Nam toàn mỏ dầu…thì Quốc Hội Mỹ OK! Ngày 17 tháng 1 năm 1974, quân Trung Cộng tấn chiếm Hoàng Sa, Hạm đội 7 Mỹ gần đó, câm! Không quân VNCH chuẩn bị cất cánh từ Phú Bài và Đà Nẵng…Mỹ ra lệnh…Tắt Máy! Hỡi ơi là hỡi ơi! “Nọ bức dư đồ thử đứng coi, sông sông núi núi khéo bia cười…”. (thơ Tản Đà làm trước năm 1930).


© Tác giả giữ bản quyền.
.Cập nhật theo nguyên bản tác giả gởi từ Hoa Kỳ ngày 17.06.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com