TRẦN VẤN LỆ

Áo Đỏ

Áo đỏ em về con phố trưa, cây xanh óng ánh nắng mong chờ, hình như tiếng guốc em rung gió nên liễu bờ sông nép thẹn thùa. Con bướm trắng bay tìm chỗ đậu (bờ vai em bướm tưởng là hoa). Bay bay tà áo em thành bướm; trắng, đỏ, mơ hồ tựa giấc mơ...

Bướm trắng bay quanh tà áo đỏ. Em đâu để ý cảnh quanh mình. Mặc cho cơn gió rung cành liễu. Mặc kệ trời xanh đang bớt xanh. Tôi đứng ngó theo, lòng ước muốn, hiện thân con bướm, bóng theo hình...để xem guốc có đau nền gạch, để thử người ta có gọi anh!

Hình như tôi hóa thành thi sĩ từ bữa em về con phố trưa...
Nói gió, nói hoa và nói bướm...Nói gì rồi cũng chuyện tương tư!

Lê Nhiên Hạo


Mưa Giữa Năm

Tháng Sáu năm nào cũng mưa. Người đi đợi mãi vẫn chưa ai về! Mưa buồn. Đất ủ, trời ê; lòng tôi ai thấy trăm bề xanh xao?

Ôi mưa! Mưa nước mắt trào, giọt trong giọt đục, rớt vào bao la. Mưa xanh mướt nhé sơn hà để mai kia ngắm cỏ hoa tưởng rằng mưa là những sợi tơ trăng vương vương trước ngõ đêm nằm ta mơ em về bước nhẹ chân khua trái tim ta động bao giờ, Thiên Thu?

Ngửa tay ta hứng mưa từ đầu năm còn sót bây giờ giữa năm! Em là em rất xa xăm, mưa thì mãi mãi thì thầm, là sao?

Lê Phụng An


Mài Gươm Phục Hận

Sắt mài rồi cũng thành kim, gươm mài rồi hết muốn tìm thù nhân! Chỉ còn kia, một vầng trăng, đêm nao khuyết tưởng mình cầm gươm khua! Trăng không thắng, trăng không thua, gió lay buồn quá lá cờ chiêm bao!

Việt Nam ơi, nói thế nào, ba người ngồi xuống là tao với mày; ba người đứng dậy, chia tay, khoảng không gian trống rỗng đầy hư không! (*) Bội Châu xưa hẳn đau lòng, nhìn non ngó nước mơ mòng chuyện chi?

Chuyện chi ơi chẳng chuyện gì, bao nhiêu nấm mộ đen xì thời gian! Trời bày ra cuộc tang thương, người bày thêm những con đường phân vân! Đi xa thì muốn về gần, gặp nhau mở miệng đếch cần mày tao! Mỗi người một bệ trên cao, một mình mà cũng ồn ào, thật vui!

Đêm đêm ta hỏi ta hoài: “Tại sao mình phải là người Việt Nam? Lớn lên, đi Lính, làm Quan, ba quân tản lạc mình mang kiếp Tù? Bạn ta, kìa Sĩ Quan Dù, giống ta, mình Bộ Binh, ồ, giống nhau!”. Lá cờ bay mãi chiêm bao, gươm mài đến giọt máu đào cạn khô!

Bạn ta tự nhận Hắc Ô, ta thì như kẻ đội mồ đứng lên! Đã là Lính, chẳng còn Tên, soi gương xóa được vết lem, đỡ buồn? Hỡi ơi trăng khuyết trăng tròn, gươm mài gang thép đã mòn thép gang! Phải chi đừng nhỉ Việt Nam, ta đâu đến nỗi lang thang xứ người! (**)

(*) Nhà chí sĩ Phan Bội Châu có nhiều câu nói thật hay:

1, “Lập thân tối hạ thị văn chương”, Làm người thấp kém nhất, hèn hạ nhất là...làm thơ, viết văn!
2, “Cứ ba người Việt Nam ngồi lại là thành lập được một cái Đảng”.
3, “Đảng Phái còn thì nước mất, Đảng Phái mất, nước mới còn!”

(**) Quốc hiệu Việt Nam do Tàu áp đặt, vua Gia Long năm 1802 lên ngôi đặt tên nước là Nam Việt (chữ Việt bộ Mễ, dư ăn dư để, phù hợp với nghĩa của chữ Gia Long, tăng gia và thịnh vượng), cho sứ sang Tàu xin cầu phong An Nam Quốc Vương, vua Càn Long của Tàu nhớ lại chuyện Triệu Đà xưng Vương nước Nam Việt, mới đây Quang Trung muốn lấy lại hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây (đất của Nam Việt), mãi đến năm 1804 mới chấp thuận cho Gia Long làm An Nam Quốc Vương nhưng tên nước phải đảo lộn ngược, từ Nam Việt thành ra Việt Nam, mà chữ Việt của Việt Nam phải viết bằng bộ Tẩu, có nghĩa là Vượt Thoát, Chạy Trốn...từ đây xuống phía Nam rồi chạy trốn đâu nữa kệ nị! Vua Gia Long không chịu, nhưng vẫn sợ Tàu, giữ lại mỗi một chữ Nam. Năm 1820, Minh Mạng kế nghiệp Gia Long, đổi tên nước thành Đại Nam, quốc hiệu này vẫn được vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng triều Nguyễn gìn giữ cho tới ngày buộc lòng phải thoái vị, năm 1945.

Nước ta là một nước Mạnh và To Lớn, Tiên Hoàng Đế họ Đinh từng đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Triều đại Lê kế tiếp đổi là Đại Việt. Từ năm 1820 trở đi là Đại Nam. Không ai nói chữ Đại là Nhỏ, là Yếu, chẳng hiểu tại sao những bậc thức giả đời nay cứ “khẳng khái” cho nước mình là nước Nhược Tiểu, dân tộc mình là Dân Tộc Nhược Tiểu.
Không lẽ chữ Anh Hùng đồng nghĩa với chữ Anh Hèn?

Trần Trung Tá





© tải đăng theo nguyên bản tác giả gởi ngày 04.08.2009.