LAIQUANGNAM


CAO BÁ QUÁT
高伯适

    1809 - 1855

    沙 行 短 歌
    "SA HÀNH ĐOẢN CA "


Giới thiệu : "Sa hành đoản ca" đã được đưa vào chương trình Ngữ - Văn lớp 11 từ năm học 2007- 2008. Một dòng thơ cổ văn trác tuyệt của tiền nhân .Bài được sáng tác vào lúc Cụ đi thi hương tại trường thi Nam định. Đường công danh trong bối cảnh đất nước tối hù khiến người nho sĩ lưỡng lự như lạc đường trên “bãi cát dài”, Trường Sa hay Sa Trường? lẽ nào không lối thoát. Do "Hiệu ứng quả cầu tuyết"của ngôn ngữ Việt, hai âm Trường Sa , “Sa Trường ?“ trong tương lai , như một lời tiên tri của của tiền nhân về vấn nạn Trường sa ,Hoàng sa đối với những ai đã được mẹ cha cho học dăm ba chữ thánh hiền. Bài viết và bản dịch này nhằm vào đối tượng Khách thơ đã thoát ly trường lớp, nay mỗi khi đọc lại tấm lòng nào mà không đau nhói xót xa .           

1-Nguyên Tác

沙 行 短 歌

長 沙 復 長 沙
一 步 一 回 卻
日 入 行 未 已
客 子 淚 交 落.
君 不 學 仙 家 美 睡 翁
登 山 涉 水 怨 何 窮
古 來 名 利 人
奔 走 路 途 中

風 前 酒 店有 美 酒,
醒 者 常少 醉 者 同.
長 沙 長 沙 奈 渠 何
坦 路 茫 茫 畏 路 多.
聽 我 一 倡 窮 途 歌
北 山 之 北 山 萬 疊,
南 山 之 南 波 萬 級.
君 胡 為 乎 沙 上 立

          

2-Phiên Âm

    SA HÀNH ĐOẢN CA

    Trường sa phục trường sa,
    Nhất bộ nhất hồi khước.
    Nhật nhập hành vị dĩ,
    Khách tử lệ giao lạc.
    Quân bất học tiên gia mỹ thụy ông,
    Đăng sơn thiệp thuỷ oán hà cùng!
    Cổ lai danh lợi nhân,
    Bôn tẩu lộ đồ trung.
    Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu,
    Tỉnh giả thường thiểu tuý giả đồng.
    Trường sa, trường sa nại cừ hà?
    Thản lộ mang mang uý lộ đa.
    Thính ngã nhất xướng cùng đồ ca,
    Bắc sơn chi bắc sơn vạn điệp,
    Nam sơn chi nam ba vạn cấp.
    Quân hồ vi hồ sa thượng lập?


          

3- Chú Vài Từ & Tạm Dịch Nghĩa

BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT

Bãi cát dài (1) lại bãi cát dài,
Một bước tới kéo lùi một bước
Trời tối đi chẳng nghỉ,
Lữ khách rơi nước mắt.
Anh chẳng học phép ông tiên ngủ (2) ,
Trèo non lội nước oán vô cùng!
Xưa nay kẻ vì danh lợi,
Tất tả trên đường lộ .
Trước quán rượu gió tạt hơi rượu ngon,(3)
Người tỉnh thường ít, kẻ say thì nhiều.
Bãi cát dài ,bãi cát dài, tính sao đây?
Đường bằng thì mờ mịt , đường hiểm ác thì nhiều
Nghe ta hát một khúc ca đường cùng,(4)
Phương bắc, núi Bắc núi vạn trùng
Phương nam núi Nam sóng vạn đợt (5)
Cớ sao anh vẫn còn đứng thẳng đây trên cát?

1-Trường sa , là “bãi cát dài”. Do "Hiệu ứng quả cầu tuyết" trong ngôn ngữ Việt, nay từ “Trường sa” vừa mang nghĩa là bãi cát dài, vừa mang nghĩa tên một địa danh đã làm đau buốt bao con tim người Việt mỗi khi Họ nhìn ra biển Đông, cho nên lạiquangnam xin Khách thơ được giữ theo hai âm « Trường sa « trong nguyên tác, hiểu sao cũng được.
Lời dạo trong bốn câu đầu thể hiện lòng quyết tâm của người lữ khách. Hành nhân với nỗi trong cô đơn tuyệt đối.

2-“vừa đi vừa ngủ” là một phép thuật của người tiên để họ đi xa mà không biết mệt. « Thụy ông » là ông tiên có phép vừa đi vừa ngủ .

3- có lẽ CBQ muốn nhắc chúng ta về bài thơ Đường của Vương Tịch .王績,

           Quá tửu gia kỳ 1

          …..
          眼看人盡醉,
          何忍獨為醒。

          

Phiên âm


           Nhãn khan nhân tận tuý
              Hà nhẫn độc vi tinh .

          

Dịch Thơ Quốc Âm

          ….
          Nhìn kìa say khước tràn lan,
          Một mình mình tỉnh sao đang mình mình!


          LaiQuangNam

Ý thơ của Vương Tịch cũng lại là ý của Khuất Nguyên, quan đại phu nước Sở. Khuất Nguyên vô cùng tuyệt vọng khi biết 100% là đất nước mình thế nào cũng rơi vào tay Tần (China), bởi ai ai cũng lo thủ cho mình. Khuất Nguyên bó tay!

4- Khúc cùng đồ, là khúc hát của người đang ở bước đường cùng.
Ai là người hát khúc cùng đồ?. Xin thưa,đó là người nho sĩ quyết một lòng ở ẩn không chịu ra làm quan, nếu bị ép thì họ “chuồn” vào núi. Phương Nam, phương Bắc núi non trùng trùng điệp điệp, người nho sĩ lo sợ gì không có chổ dung thân. Hậu Hán thư có chép :Pháp Chân bảo viên Thái thú rằng:” nếu ông cứ bắt tôi ra làm quan thì ở phía bắc thì tôi vào núi Bắc ,ở phía nam thì tôi vào núi Nam “ (sđd(1)
Việt Nam mình có câu “Đói thì về cạp đất mà ăn”. Tự tin ! Bản lĩnh !Khí phách!.

5- Bắc sơn chi bắc sơn vạn điệp,//Nam sơn chi nam ba vạn cấp.

Rất ít khi Cụ chịu phung phí lời thơ trong việc tả cảnh, nay Cụ chịu “xuất chiêu”, núi non nhấp nhô như sóng biển Đông. Núi non vốn tỉnh, xưa nay như một ước lệ trong Đường thi ,đó là nơi dành cho người ở ẩn, nay với Cao Bá Quát lại trở thành động, núi liền núi nhấp nhô như sóng vận hành trong yên lặng mà nghe chừng như có tiếng thét gào của gió phụ họa. Núi tiếp hơi người để nâng cao chí khí của người quân tử đang cố tìm phương hành động giúp đời . ..

Rồi

君 胡 為 乎 沙 上 立 (!&?)

Quân hồ vi hồ sa thượng lập?
“Sao Anh còn đứng giữa sương cát nầy (!&?)“

Anh tiếp tục suy nghĩ đắn đo điều gì vậy? Tiến hay thoái hở Anh ?
Vấn nạn của một thiên tài! .

          

4-Dich Thơ Quốc Âm

Dòng Song thất lục bát


    Sa Hành Đoản Ca .

    Bãi cát dài, Trường sa, bãi cát!
    Bước chân lên cát bật chân lùi
    Tối trời đâu chịu trở lui,
    Trên đường lữ khách sụt sùi mờ mi!

    Anh không học phép đi như ngủ?, (2)
    Oán cảnh trèo non mụ cả người
    Xưa nay phường lợi danh xôi,
    Tràn lan, tất tả bên trời “nhi nhô”.

    Trước tửu quán gió chào mỹ tửu,
    Tỉnh bây nhiêu say khước đông dầy (3) .
    Trường Sa biết tính sao đây?,
    Đường bằng mờ mịt, đường lầy nhiêu khê!

    Khúc cùng đồ lắng nghe ta hát :(4)
    “Núi nhấp nhô bát ngát Bắc phương ,
    Phương Nam núi sóng trùng dương.”
    “Sao Anh còn đứng giữa sương cát nầy! “


    LạiQuangNam ,


[dịch theo nguyên tác thơ chữ Hán” Sa hành đoản ca” của CaoBáQuát]

Bản dịch thơ của giáo sư Huệ Chi (1)

Dịch theo dòng trường thiên cổ phong

          Bãi cát, bãi cát dài!
          Mỗi bước lại như lùi.
          Mặt trời đã lặn đi chưa nghỉ,
          Khách bộ hành nước mắt tuôn rơi!
          Không học được tiên ông phép ngủ,
          Trèo non, lội suối, giận không nguôi.
          Xưa nay phường danh lợi,
          Bôn tẩu trên đường đời;
          Gió thoảng hơi men trong quán rượu,
          Say cả, hỏi tỉnh được mấy người ?
          Bãi cát, bãi cát, ngao ngán lòng
          Đường phẳng mờ mịt, đường hiểm vô cùng !
          Nghe ta ca "cùng đồ” một khúc !
          Phía Bắc núi Bắc, núi muôn lớp!
          Phía Nam núi Nam sóng muôn đợt!
          Sao mình anh còn trơ trên bãi cát ?

          
Tham khảo
1-Nguồn : Vũ Khiêu và .. ,Thơ chữ Hán Cao bá Quát, nxbVăn học HÀNỘI,1970

Bài đọc thêm :


Bài bình sau được giáo sư Nguyễn Huệ Chi viết lại trong niềm xúc cảm thầm kín…tưởng chừng như Giáo sư kín đáo viết cho riêng mình. Xin các bạn cùng chia sẻ trích đoạn sau đây (5)

Chủ đề trữ tình bi phẫn trong thơ Cao Bá Quát thể hiện ở không ít bài thơ nhưng hai bài tiêu biểu nhất theo chúng tôi là Sa hành đoản ca (Bài ca ngắn đi trên cát) và Trà giang thu nguyệt ca (Bài ca trăng thu trên sông Trà). Bài “Sa hành đoản ca” làm cuối những năm ông vào kinh đi thi Hội, … Hai bài thơ đều thuộc thể trường thiên cổ phong tức là thể thơ tự do. Cao Bá Quát đã chọn thể thơ đó để triển khai những tìm tòi sáng tạo nghệ thuật độc đáo nhằm gửi gắm được hết ý tưởng của mình.

Sa hành đoản ca dựng lên hình tượng một con người đi giữa một bãi cát mênh mông, mỗi bước chân đều bị lún xuống cát, cho nên hễ tiến lên một bước lại phải lùi lại một bước. Ngay từ đầu, bài thơ đã sử dụng điệp âm, và điệp âm đặt trong cách ngắt nhịp 2/3 liên tiếp trong hai câu thơ năm chữ đã gợi lên cái cảm giác của bước chân người đi luôn luôn bị kéo giật lại :

Trường sa / phục trường sa,
Nhất bộ / nhất hồi khước.


(Cát dài / bãi cát dài,
Mỗi bước / lùi một bước) [3]

Con người đi trong trạng thái bất thường như thế tất nhiên là đi liên miên suốt đời mà không bao giờ thấy đích. Anh ta không còn chút ấn tượng nào về thời gian, về sáng tối. Chỉ có nỗi phiền muộn cứ chất mãi lên trái tim anh :

Nhật nhập hành vị dĩ,
Khách tử lệ giao lạc.


(Mặt trời đã lặn đi chưa nghỉ,
Bộ hành nước mắt lã chã rơi).

Bài thơ cho thấy, chỉ mới ở tuổi trong ngoài ba mươi, Cao Bá Quát đã cảm nhận được sự bế tắc cùng cực của một loại hình nhà nho không hợp khuôn với chế độ hiện hành. Nhà thơ tự đặt ra một lối thoát là trong cuộc đi vô tận đó, nếu người ta có thể ngủ đi được theo phép "thụy du" của những ông tiên thì may ra mọi nỗi thống khổ mới chấm dứt. Tiếc thay phép thụy du đối với những người vốn đã quá tỉnh lại chẳng có chút gì hiệu lực. Vì thế, càng đi trong sự tỉnh táo thì mọi nỗi oán hận trong lòng người đi chỉ càng thêm chất chồng :

Quân bất học tiên gia mỹ thụy ông, Ðăng sơn thiệp thủy oán hà cùng ?

(Không học được tiên ông phép ngủ,
Trèo non lội suối giận sao nguôi ?)

Và nhà thơ lại thử làm một phép so sánh giữa loại "hành nhân" đáng gọi là tỉnh kia với vô số những người ngược xuôi vì danh lợi, thì hóa ra số người tỉnh rất ít, còn tất cả bọn họ đều là người say :

Cổ lai danh lợi nhân,
Bôn tẩu lộ đồ trung;
Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu,
Tỉnh giả thường thiểu, túy giả đồng.


(Xưa nay phường danh lợi,
Bôn tẩu trên đường đời;
Gió thoảng hơi men trong quán rượu,
Say cả hỏi tỉnh được mấy người ?)

Sự đối lập thức / ngủ và tỉnh / say thực ra chỉ là những biện pháp loại trừ nhằm giới hạn dần và soi tỏ từng bước đặc trưng loại biệt của đối tượng. Và đến đây, cảm hứng về một con người lầm lũi đi không biết tháng biết năm, đi mà không bao giờ tới đích, đi nhưng vẫn cứ như dẫm chân tại chỗ... ở đầu bài thơ được tiếp thêm bởi cái cảm hứng về sự cô đơn tuyệt đối của chính người bộ hành ấy, đã nâng hình tượng trữ tình của bài thơ lên mức một ẩn dụ có sức ám ảnh ghê gớm : người hành nhân ấy vẫn cứ đang mải miết đi, nhưng nhìn lên phía Bắc thì muôn ngọn núi lớp lớp đã sừng sững chắn mất lối; ngoảnh về Nam, núi và sóng hàng muôn đợt cũng đã vây phủ lấy mình. Và nhìn khắp bốn phía, thì nào có còn ai, chỉ còn độc một mình mình đứng trơ trên bãi cát. Bài thơ mở đầu bằng một câu vần bằng và ba câu vần trắc, đều là câu năm chữ, như muốn ném ra giữa cuộc đời một nhận xét chua chát về sự cố gắng tìm đường vô ích. Kế tiếp là hai cặp câu vần bằng dài - ngắn và hai cặp câu vần bằng xen trắc, cùng dài nhưng khác vần, biểu hiện những quặn khúc trong quá trình cọ xát với thực tiễn của chủ thể trữ tình / con người lặn lội tìm đường một cách hoài công :

Quân bất học tiên gia mỹ thụy ông,
Ðăng sơn thiệp thủy oán hà cùng/
Cổ lai danh lợi nhân,
Bôn tẩu lộ đồ trung/
Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu,
Tỉnh giả thường thiểu túy giả đồng/
Trường sa trường sa nại cừ hà !
Thản lộ mang mang úy lộ đa/

Thế rồi ở phần cuối, bài thơ kết thúc bằng một câu vần bằng và ba câu vần trắc bảy chữ, báo hiệu một cái gì đang thắt lại trong tư tưởng, là cái tuyên ngôn "cùng đường" của nhà thơ. Phép điệp âm ở đây lại được sử dụng tiếp, cài vào nhau, đan chéo nhau, đẩy cảm giác nhức nhối đến cùng tột :

Thính ngã nhất xướng "cùng đồ" ca :
Bắc sơn chi Bắc / sơn vạn điệp,
Nam sơn chi Nam / ba vạn cấp;
Quân hồ vi hồ sa thượng lập ?


(Nghe ta ca "cùng đường" một khúc :
Phía Bắc núi Bắc / núi muôn lớp,
Phía Nam núi Nam / sóng muôn đợt;
Sao mình anh trơ trên bãi cát ?)

Hình ảnh kết đọng cao nhất là một con người đã mất hết ý niệm về thời gian vì những cuộc đi, lại mất luôn cả ý niệm về phương hướng vì không còn có không gian xoay trở. Ðấy là con người mất ý thức về lẽ tồn tại. Nhưng câu cuối cùng của bài thơ là một câu hỏi, cho nên cần hiểu : trong cảnh ngộ tuyệt vọng, con người này vẫn luôn luôn băn khoăn thắc mắc mà không giải đáp nổi vì sao và do đâu mình lại tự đánh mất lý do tồn tại của mình.

5-Nguồn từ bài viết này : tải lại trên mạng internet .
Tiếng nói trữ tình bi phẫn và sự cảm thông với mọi cảnh ngộ khốn cùng trong thơ Cao Bá Quát . Của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi.

6-Trong tập Cao bá Quát toàn tập, nxb Văn học, do Mai Quốc Liên chủ biên chỉ đăng mỗi bản dịch của Tố Hữu , mà bốn câu cuối Tố Hữu dịch như dzầy :

Hãy nghe ta hát khúc “đường cùng”
Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùng
Phía nam núi Nam sóng dạt dào
Anh đúng làm chi trên bãi cát ?

Tố Hữu

Trong khi

Nghe ta ca "cùng đồ” một khúc !
Phía Bắc núi Bắc, núi muôn lớp!
Phía Nam núi Nam sóng muôn đợt!
Sao mình anh còn trơ trên bãi cát ?

Huệ Chi ,1970

Khúc cùng đồ lắng nghe ta hát
Núi nhấp nhô bát ngát Bắc phương ,
Phương Nam núi sóng trùng dương.
“Sao Anh còn đứng giữa sương cát nầy!


LaiQuangNam, Tháng 4-2009

_________________________________________










© tải đăng ngày 27.04.2009
theo nguyên bản của tác giả gửi từ Sài Gòn.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com