LAIQUANGNAM


VƯƠNG HÀN
王翰

    (687 – 726)

    涼 州 詞
    LƯƠNG CHÂU TỪ

Trong dòng thơ biên tái, bài Lương châu từ của Vương Hàn là bài nổi tiếng nhất, nhất là đối với Người Việt mình. Bài Lương châu từ có thể là bài thơ Đường được dịch ra tiếng nôm sớm nhất. Đối với Người Việt câu “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” một câu thơ trong nguyên tác đã trở thành gần như câu thơ thuần Việt. Với bài Lương châu từ của Vương Hàn có khi số người yêu thích nó còn cao hơn bài Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu.

Vương Hàn 王翰,(687 – 726) tự Tử Vũ người tỉnh Sơn Tây- sống vào thời Thịnh Đường. Năm 710 ông đậu tiến sĩ và ra làm quan. Bài từ này Vương Hàn làm năm 713 khi Ông bị đày ra Lương Châu vì tật hay nói thẳng của mình.


          

Nguyên tác chữ Hán

涼 州 詞

葡萄美酒夜光杯,
欲飲琵 琶馬上催。
醉臥沙場君莫笑,
古來征戰幾人回。

          

Phiên âm

    LƯƠNG CHÂU TỪ

    Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
    Dục ẩm tì bà mã thượng thôi
    Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
    Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi


          

Chú Vài Từ & Tạm Dịch Nghĩa

           Lương Châu là một địa danh chỉ vùng đất thuộc tỉnh Cam Túc, nằm ở phía tây nước Tàu giáp giới biên giới Liên xô cũ .

Câu 1- “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi”

          a)-Rượu bồ đào (rượu nho) vốn là rượu tiến vua của các nước phía tây Tần thời đó. Dân nước ta ngày ấy phải làm cu li gánh vải từ Giao châu tiến cho vua Đường!,nước ta còn bị gọi là AN NAM đô hộ phủ, một phủ huyện của một thời ô nhục vì vong quốc.
          b)-dạ quang bôi là chén phát quang khi có ánh sáng chiếu vào.Đây là đặc sản bằng thạch anh của vùng Hồ, chỉ các nước thuộc phía tây nước Tàu, đó là nhóm các nước có nhiều người theo đaọ Hồi, ngày nay là những nước giáp giới với Turmekistan, Ubekistan. Có người Tàu còn cho rằng “dạ quang bôi “là chén làm bằng ngọc lưu ly(!&?), nôm na là một loại chén quý bằng ngọc dành cho hàng nguyên soái.
          c)-dạ quang bôi, theo nghĩa đen là “chén ánh lên ánh sáng ban đêm chiếu rọi “.
          d)-Có người còn giải thích “Dạ quang bôi” là thành ngữ chỉ sự “cạn chén” sao cho người đối diện có thể thấy ánh sáng đêm chiếu vào đáy cốc của mình, bây giờ gọi là “dô! dô! 100% “, rồi người uống úp ngược ly xuống .

Câu 2-“Dục ẩm tì bà mã thượng thôi.”

          e) Mã thượng là trên mình ngựa. Thôi là thôi thúc .
          “Mã thượng thôi” còn là cụm từ thành ngữ có nghĩa là “lè lẹ lên!” .
Laiquangnam nghĩ đây là cách chơi chữ của người xưa. Vừa về âm ,vừa về ý, hai ý tương phản cùng song hành trong ba tiếng “Mã thượng thôi.”.Tài hoa!.
          f) Tì bà : : một loại đàn đặc chủng của người Hồ, người chiến binh kỵ mã dùng cây đàn tì bà hình tam giác nhỏ gọn đeo trên vai, dây lớn và căng rất thẳng, Đàn tì có âm vực cao , có thể át tiếng gió hú trong sa mạc. Đàn tì bà này được dùng thay cho tiếng kèn, tiếng khèn quân lệnh. Tùy theo cách gảy nhanh chậm , cao thấp, mà binh sĩ biết mình phải làm gì. Đó là lệnh tiến, lệnh thoái, xung phong hay lệnh rút lui. Tì Bà của Tàu được người Tàu thi vị hóa là nó làm bằng cây ngô đồng, Tàu “nổ” cho cố vào! Để xứng với chén lưu ly.
          Theo bạn thì câu : “Dục ẩm tì bà mã thượng thôi “, thì tiếng Tì bà trong bài là của ai vậy?, của bên Tàu ( phía thi nhân ), hay bên Hồ (đối kháng với Tàu ). Nếu tì bà là của Hồ, thì nó hàm ý ”lè lẹ đi mấy cha, tụi nó tới kìa !“. Điều này tương ứng với bài Cổ tòng quân hành của Lý Kỳ trong cùng trang web NVA này , Mã thượng thôi!. Nếu tiếng tì bà là của phía lính Tàu, rõ ràng họ đang phấn khích dô dô 100%. , nghĩa là người Tàu trong màu áo lính chiến trong bài đang thắng trận. Theo laiquangnam có lẽ là của địch, thì ý thơ câu 2 mới nhất quán về giòng thơ biên tái, một dòng thơ phản chiến, than thở về cuộc sống gian khổ của người lính vùng Lương Châu. Mời bạn đọc lại lần nữa , -“Dục ẩm! tì bà! mã thượng thôi.! “Ước gì!... lưng ngựa, thúc khan ! đàn tì!”.Mới định nhắp môi mà địch đã tới rồi, là chiến binh Lương Châu người lính Tàu dày dặn kinh nghiệm còn lạ gì tài bắn cung tên của người Hồ là bá chấy! mã thượng thôi.!

Câu 3 “Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu”

          g) Chữ “ Quân” trong câu này là mắt thơ , nó được dùng như là từ YOU trong tiếng Anh , là một từ ngôi thứ hai trung tính, tiếng Việt chúng ta không có từ tương đương . Huynh thì có thể trung tính, nhưng lại dùng cho người đàn ông.
Quân mạc tiếu “ You chớ cười”, You đây là ai?, là người chỉ huy, là người đang dấu mặt?, là khách thơ ? , hay là chính người thiếu phụ trong khuê phòng. Cười nụ ?, “You chớ cười”, You cười cái gì ? _cười vì người chiến binh sợ chết cho nên họ phải uống để quên ?, Cười vì Họ cần uống để thêm chút can đảm trước giờ xuất trận. Có thể lắm ! Thơ Đường ! Xin đọc thêm lịch sử của Tàu ở giai đoạn này. Tàu xâm lăng láng giềng và bị láng giềng xâm lăng lại . Xin đọc lại bài Cổ tòng quân hành của Lý Kỳ để biết sự ác liệt của chiến trường Lương Châu từ. Chính câu thứ ba, phủ nhận lời giả thích “dạ quang bôi” là chén ngọc lưu ly, một loại chén hạt mít, ngọc quý lấy đâu cho to mà làm chén lớn. Chén hạt mít mà uống cho say thì chiến trường hẳn êm ả lắm! Trong Chinh phụ ngâm từ câu 289 đến câu 292 khi cụ Đặng Trần Côn có viết về nỗi khiếp sợ của nàng thiếu phụ khi nghĩ đến chàng nay đang ở vùng Ngọc môn quan, một của ải nhìn vào vùng Lương Sơn , nàng chưa từng đến nhưng nghe tên cũng đà khiếp đảm, nói chi người trong cuộc.

          Trông bốn bề chân trời mặt đất
          Lên xuống lầu thấm thoát đòi phen
          Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn
          Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc Quan?


          CPN

Câu 4 , “ Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi “ ,

          Một câu thơ kinh điển mang tính nhân loại! .

          

Vài dòng tâm tình cùng khách thơ của laiquangnam trước khi đọc bản chuyển dịch

Do thơ Tàu không chấm phẩy, ý thơ nén cộng thêm cách chơi chữ, nên có nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến các bản dịch khác nhau thoát ly ý nghĩa thật sự của văn bản.

Ngày nay, với sự tiến bộ vượt bực của khoa ngôn ngữ học, để đánh giá độ thẩm mỹ của một bản văn, các học giả thời nay ,hậu bán thế kỷ 20, cho rằng nó tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, đó là , một,tùy thuộc vào tài năng của tác giả sáng tác ; hai là tùy thuộc vào hình thức thể loại của bản văn; ba là tùy thuộc cả cách thưởng ngoạn của người đọc; bốn là tùy thuộc vào thời gian, và không gian của người đọc. Một khi văn bản đã thành hình có khi nó vượt ngoài khả năng lý giải của chính tác giả sáng tác, bản văn nay đã thuộc về người đọc, mà trong nhiều trường hợp tác giả của chính nó cũng chỉ là một người đọc đặc biệt hơn người đọc thông thường mà thôi.

Một khi nguyên tác đa nghĩa buộc bản dịch cũng phải đa nghĩa, tất cả tùy thuộc độ thưởng ngoạn và công phu của người đọc. Do đối tượng laiquangnam nhắm đến người đọc là Người Việt mình vì thế cho nên khi laiquangnam đã dùng thể lục bát của Việt Nam để chuyển dịch bài thơ , vào lúc này độ thẩm mỹ của bài thơ đã chuyển dịch theo theo ngôn ngữ Việt, theo cách hành văn Việt, ngắt dòng theo thơ Việt, theo thẩm mỹ của dòng thơ lục bát của Người Việt. Tiếng Việt của chúng ta ngày nay rất lung linh, đa nghĩa nhất là từ khi nó dùng chữ quốc ngữ để biểu đạt, khiến nó thoát ly ra thứ chữ vuông đa phần “định ý từ “ một cách nữa vời.(1)

Bản dịch được giới thiệu dưới đây làm bài thơ lục bát có bố cục đối thoại, chương hồi như trong một vở kịch ngắn, đó là màn đối đáp giữa các chiến binh với nhau ,và có tiếng vọng của thi nhân ngoài văn bản. Toàn văn đẫm cái không khí ác liệt của chiến trường Lương châu. Tùy theo cách thưởng ngoạn của khách thơ (người đọc ) mà người chiến binh trong cuộc “vất vả hay lãng mạn“.

Nội dung chuyển đạt đến khách thơ theo cách hiểu của laiquangnam là : ” Họ quay về trong một đêm trăng sáng. Tóan kỵ mã xung kích vừa thu được chiến lợi phẩm trở về sau khi đột kích một trại Hồi Hồị. Chiến lợi phẩm là rượu nho của nước nàỵ. Họ rót tràn rượu quý vào từng vại cho từng chiến hữu , Ánh trăng chiếu sáng vàng lung linh sóng sánh trên mặt vại. Họ quay quần cùng chuẩn bị dô! dô! Nhưng ….…


          

Dịch thơ Quốc Âm

    Lương Châu Từ

    Bồ đào sánh chén dạ quang!
    Thèm chi !
                  …lưng ngựa, thúc khan đàn tì !
    _Sa trường!
                      _say bẹp!
                                          _cười chi (!&?)
    Xưa nay chinh chiến!,
                                               … người đi mấy về !


    LaiQuangNam

Xin giới thiệu một bản dịch áp sát nguyên thể của cụ Bùi khánh Đản dành cho người thưởng ngoạn theo trường phái cổ điển .

Bài Hát Lương Châu

Bồ đào , rượu rót chén lưu ly
Muốn uống , tỳ bà giục ngựa đi
Bãi cát say nằm , chê cũng mặc
Xưa nay chinh chiến mấy ai về .

Bùi khánh Đản

          
Phần tham khảo
Xin các bạn tìm đọc :

1-Nguyễn Hưng Quốc, Mấy vấn đề phê bình và lý thuyết văn học ,NXB Văn mới , CA,2007.
NHQ là giáo sư người AUSTRALIA gốc Việt .Giáo sư đang dạy đại học ở Australia, người theo tôi là có thẩm quyền nhất viết về vấn đề này. Ngoài ra các bạn có thể tìm đọc tiểu luận văn học của Tsi Ngô tự Lập viết về vấn đề trên cũng rất thông thái.

2-Lương Châu Từ ở đâu trên bản đồ Tàu hiện tại .

_____________________________________


Nguồn:
. http://en.wikipedia.org/wiki/Image:China,_742.svg
. Lương châu là Longyou trong bản đồ.







© tải đăng ngày 19.04.2009
theo nguyên bản của tác giả gửi từ Sài Gòn.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com