LAIQUANGNAM



Vương Duy

    701-761

    Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ

Nguyên tác chữ Hán

九月九日憶山東兄弟
獨在異鄉為異客,
每逢佳節倍思親。
遙知兄弟登高處,
遍插茱萸少一人。


Phiên âm

    Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ

Độc tại dị hương vi dị khách,
Mỗi phùng giai tiết bội tư thân.
Dao tri huynh đệ đăng cao xứ,
Biến sáp thù du thiểu nhất nhân.


    Bản Dịch Thơ Quốc Âm

Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ

(Gặp ngày lễ lạc nhớ bạn xưa tại quê nhà)

Một mình làm khách quê người
Gặp đêm trừ tịch khóc cười cu ki
Quê nhà rôm rã cụng ly
Chuyền nhau cốc rượu , “à thì …cho ai(?!)”

LaiQuangNam

Chú Từ


(1)-Thù du :Tên một loại cây cỏ. Tiết Trùng Cửu 9/9 âm lịch , người Tàu có phong tục lên núi hái lá này , người Việt mình không bắt chước. Theo truyền thuyết cổ thì Ai muốn tai qua, nạn khỏi trong những ngày này thì lên núi cao mà bẻ cành thù du mang về. Nhà nào treo lá này, người nào đeo cành này thì được yên ổn. Nó cũng là dịp lễ lạc để Họ vui chơi cùng nhau .

(2) Giai tiết là tuần lễ nghĩ làm để chơi ,tùy bối cảnh , Thé giới bây giờ là noel, tết tây, đêm trừ tịch, ngày lễ lạc mà người ta nghĩ sở làm, đi chơi thì cứ xem như ngày giai tiết (3) “Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ ‘, tạm dịch Ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, nhớ anh em ở Sơn Đông .Tạm dịch thoát , “Gặp ngày lễ lạc nhớ bạn xưa tại quê nhà”

(4) Lời bàn thêm : cho ai?”, cho ai , chờ ai ,chổ ai …, có khi không đâu mà hay Gặp đêm lễ lạc . nếu là đêm giao thừa Việt Nam thì “Đêm nay trừ tịch “ Quê nhà rôm rả , cụng ly…,Chuyền tay ly rượu ,”chỗ nì đứa mô” . “hỉ ! , nhớ coi ! “

+ + +

    Điểu Minh Giản

Nguyên tác chữ Hán

鳥 鳴 澗

人閒桂花落,
夜靜春山空。
月出驚山鳥,
時鳴春澗中。


Phiên âm

    Điểu minh giản

Nhân nhàn quế hoa lạc
Dạ tĩnh xuân sơn không
Nguyệt xuất kinh sơn điểu
Thời minh xuân giản trung.

    Bản Dịch Thơ Quốc Âm

Điểu minh giản

Nhân Nhàn nhìn quế rắc hoa,
Đêm không tỉnh lặng non xa trùng trùng .
Trăng vàng nhú động chim muông,
Trong khe thảng thốt sắc xuân tuôn trào.

LaiQuangNam

Định nghĩa một từ mới


. nhânNhàn , có Nhân sĩ , nhân loại thì ắt có nhânNhàn
. NgườiNhàn ,viết liền , là một danh từ “ song lập “ tránh việc viết rời là người nhàn,và được định nghĩa như sau :”NhânNhàn; là một bậc trong đạo ở ẩn, từ dùng để chỉ lớp người đã gác mọi ràng buộc phiền não của xã hội dương thời , đi tìm sự yên tỉnh trong tâm hồn.chỉ có nhân nhàn mới có độ nhạy để hiểu cái đạo của đất trời trong bài” .
. Điểu minh giản ,tạm dịch là khe chim kêu


Xuất xứ :


Bài thơ được viết trong bối cảnh là Vương Duy sáng tác để đề vào một bức họa của mình . VươngDuy là ông tổ của một trường phái hội họa Tàu ,ông được khen là tài hoa trong sáng tác,câu khen ”trong thơ có họa và trong họa có thơ “lúc đầu là nhằm vào Vương Duy. Ông là một vị quan nhưng sống đời của một cư sĩ Phật giáo thuộc dòng Thiền Bắc tông .



+ + +

    Hí Đề Bàn Thạch

Nguyên tác chữ Hán

戲 題 盤 石

可 憐 盤 石 臨 泉 水
復 有 垂 楊 拂 酒 盃
若 道 春 風 不 解 意
何 人 吹 送 落 花 來


Phiên âm

    Hí Đề Bàn Thạch

Khả lân bàn thạch lâm tuyền thủy
Phục hữu thùy dương phất tửu bôi
Nhược đạo xuân phong bất giải ý
Hà nhân xuy tống lạc hoa lai

    Tạm dịch nghĩa

Đề thơ vui trên bàn đá
thương quá bàn đá bên dòng suối
lại có cành dương liễu phất phơ trên ly rượu
nếu bảo rằng gió xuân không tỏ ý
ai là người thổi hoa rơi bay tới đây

    Bản dịch số 01

Suối này phiến đá thấy thương
Nhìn kìa chén rượu liễu dương la đà
Gió xuân ai bảo khôn là …
Ý ai thổi lại vài hoa lạc cành ?


+ + +

    Lộc trại

Nguyên tác chữ Hán

鹿柴

空山不見人
但聞人語響
返景入深林
復照青苔上


Phiên âm

    Lộc trại

Không sơn bất kiến nhân
Đãn văn nhân ngữ hưởng
Phản cảnh nhập thâm lâm
Phục chiếu thanh đài thượng

Lộc trại tạm dịch là trại nai, có thể là danh từ riêng chỉ một ,trang trại nuôi nai ? 鹿柴, Còn đọc là lôc sài.

    Tạm dịch nghĩa

Núi vắng, không thấy người,
Chỉ nghe tiếng người vang lại.
Hắt cảnh nhập rừng sâu,
Dội lại lên trên thảm rêu xanh.


    Bản Dịch Thơ Quốc Âm

Lộc trại

Rỗng núi rừng bóng người không có
Hướng tiếng người to nhỏ vọng ra?
Nắng tràn hắt cảnh rừng già
Rêu xanh phục chiếu rừng xa mấy đài .

LaiQuangNam

Chúthích vài từ

Không /trống rỗng.Không là một từ nhà Phật .



+ + +

    Vị Thành Khúc

Nguyên tác chữ Hán

渭城曲

渭城朝雨浥輕塵,
客舍青青柳色新。
勸君更盡一杯酒,
西出陽關無故人。


Phiên âm

    Vị Thành khúc

Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.

    Dịch thơ quốc âm

Vị thành khúc

Vị Thành thấm bụi mưa mai
Liễu xanh khách xá mới vài cành xuân!
Cạn ly!, một chén tiển chân,
Tây Dương Quân vượt cố nhân chẳng còn! .

Laiquangnam

Mắt thơ


Liễu sắc tân, mới chớm sắc liễu mới , là đã phải tiển đưa .
Tây xuất…., đi về phía trời tây… , vừa là phương địa lý, vừa là phương là ẩn dụ, trời tây thương nhớ, niềm riêng ,


-- Bản dịch của Bùi Giáng --


Vị Thành mưa sớm mù tăm
Cõi miền bụi ướt thấm dầm ngõ thuôn
Quán mờ liễu thắm xanh buông
Mời anh cạn chén rượu buồn tiễn chân
Tiền trình quan ải tây phân
Đèo truông ra khỏi cố nhân không còn...

(Trích Mùa Xuân trong thi ca - Bùi Giáng)









© tải đăng ngày 22.12.2008
theo nguyên bản của tác giả gửi từ Sài Gòn.

. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com