
Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ
Nguyên tác chữ Hán
九月九日憶山東兄弟
獨在異鄉為異客,
每逢佳節倍思親。
遙知兄弟登高處,
遍插茱萸少一人。
Phiên âm
Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ
Độc tại dị hương vi dị khách,
Mỗi phùng giai tiết bội tư thân.
Dao tri huynh đệ đăng cao xứ,
Biến sáp thù du thiểu nhất nhân.
Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ
(Gặp ngày lễ lạc nhớ bạn xưa tại quê nhà)
Một mình làm khách quê người
Gặp đêm trừ tịch khóc cười cu ki
Quê nhà rôm rã cụng ly
Chuyền nhau cốc rượu , “à thì …cho ai(?!)”
LaiQuangNam
Chú Từ
(1)-Thù du :Tên một loại cây cỏ. Tiết Trùng Cửu 9/9 âm lịch , người Tàu có phong tục lên núi hái lá này , người Việt mình không bắt chước. Theo truyền thuyết cổ thì Ai muốn tai qua, nạn khỏi trong những ngày này thì lên núi cao mà bẻ cành thù du mang về. Nhà nào treo lá này, người nào đeo cành này thì được yên ổn. Nó cũng là dịp lễ lạc để Họ vui chơi cùng nhau .
(2) Giai tiết là tuần lễ nghĩ làm để chơi ,tùy bối cảnh , Thé giới bây giờ là noel, tết tây, đêm trừ tịch, ngày lễ lạc mà người ta nghĩ sở làm, đi chơi thì cứ xem như ngày giai tiết (3) “Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ ‘, tạm dịch Ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, nhớ anh em ở Sơn Đông .Tạm dịch thoát , “Gặp ngày lễ lạc nhớ bạn xưa tại quê nhà”
(4) Lời bàn thêm : cho ai?”, cho ai , chờ ai ,chổ ai …, có khi không đâu mà hay
Gặp đêm lễ lạc . nếu là đêm giao thừa Việt Nam thì “Đêm nay trừ tịch “
Quê nhà rôm rả , cụng ly…,Chuyền tay ly rượu ,”chỗ nì đứa mô” .
“hỉ ! , nhớ coi ! “
+ + +
Nguyên tác chữ Hán
鳥 鳴 澗
人閒桂花落,
夜靜春山空。
月出驚山鳥,
時鳴春澗中。
Phiên âm
Nhân nhàn quế hoa lạc
Dạ tĩnh xuân sơn không
Nguyệt xuất kinh sơn điểu
Thời minh xuân giản trung.
Điểu minh giản
Nhân Nhàn nhìn quế rắc hoa,
Đêm không tỉnh lặng non xa trùng trùng .
Trăng vàng nhú động chim muông,
Trong khe thảng thốt sắc xuân tuôn trào.
LaiQuangNam
Định nghĩa một từ mới
. nhânNhàn , có Nhân sĩ , nhân loại thì ắt có nhânNhàn
. NgườiNhàn ,viết liền , là một danh từ “ song lập “ tránh việc viết rời là người nhàn,và được định nghĩa như sau :”NhânNhàn; là một bậc trong đạo ở ẩn, từ dùng để chỉ lớp người đã gác mọi ràng buộc phiền não của xã hội dương thời , đi tìm sự yên tỉnh trong tâm hồn.chỉ có nhân nhàn mới có độ nhạy để hiểu cái đạo của đất trời trong bài” .
. Điểu minh giản ,tạm dịch là khe chim kêu
Xuất xứ :
Bài thơ được viết trong bối cảnh là Vương Duy sáng tác để đề vào một bức họa của mình . VươngDuy là ông tổ của một trường phái hội họa Tàu ,ông được khen là tài hoa trong sáng tác,câu khen ”trong thơ có họa và trong họa có thơ “lúc đầu là nhằm vào Vương Duy. Ông là một vị quan nhưng sống đời của một cư sĩ Phật giáo thuộc dòng Thiền Bắc tông .
+ + +
Nguyên tác chữ Hán
戲 題 盤 石
可 憐 盤 石 臨 泉 水
復 有 垂 楊 拂 酒 盃
若 道 春 風 不 解 意
何 人 吹 送 落 花 來
Phiên âm
Khả lân bàn thạch lâm tuyền thủy
Phục hữu thùy dương phất tửu bôi
Nhược đạo xuân phong bất giải ý
Hà nhân xuy tống lạc hoa lai
Đề thơ vui trên bàn đá
thương quá bàn đá bên dòng suối
lại có cành dương liễu phất phơ trên ly rượu
nếu bảo rằng gió xuân không tỏ ý
ai là người thổi hoa rơi bay tới đây
Suối này phiến đá thấy thương
Nhìn kìa chén rượu liễu dương la đà
Gió xuân ai bảo khôn là …
Ý ai thổi lại vài hoa lạc cành ?
+ + +
Nguyên tác chữ Hán
鹿柴
空山不見人
但聞人語響
返景入深林
復照青苔上
Phiên âm
Không sơn bất kiến nhân
Đãn văn nhân ngữ hưởng
Phản cảnh nhập thâm lâm
Phục chiếu thanh đài thượng
Lộc trại tạm dịch là trại nai, có thể là danh từ riêng chỉ một ,trang trại nuôi nai ?
鹿柴, Còn đọc là lôc sài.
Núi vắng, không thấy người,
Chỉ nghe tiếng người vang lại.
Hắt cảnh nhập rừng sâu,
Dội lại lên trên thảm rêu xanh.
Lộc trại
Rỗng núi rừng bóng người không có
Hướng tiếng người to nhỏ vọng ra?
Nắng tràn hắt cảnh rừng già
Rêu xanh phục chiếu rừng xa mấy đài .
LaiQuangNam
Chúthích vài từ
Không /trống rỗng.Không là một từ nhà Phật .
+ + +
Nguyên tác chữ Hán
渭城曲
渭城朝雨浥輕塵,
客舍青青柳色新。
勸君更盡一杯酒,
西出陽關無故人。
Phiên âm
Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân
Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
Tây xuất Dương Quan vô cố nhân.
Vị thành khúc
Vị Thành thấm bụi mưa mai
Liễu xanh khách xá mới vài cành xuân!
Cạn ly!, một chén tiển chân,
Tây Dương Quân vượt cố nhân chẳng còn! .
Laiquangnam
Mắt thơ
Liễu sắc tân, mới chớm sắc liễu mới , là đã phải tiển đưa .
Tây xuất…., đi về phía trời tây… , vừa là phương địa lý, vừa là phương là ẩn dụ, trời tây thương nhớ, niềm riêng ,
-- Bản dịch của Bùi Giáng --
Vị Thành mưa sớm mù tăm
Cõi miền bụi ướt thấm dầm ngõ thuôn
Quán mờ liễu thắm xanh buông
Mời anh cạn chén rượu buồn tiễn chân
Tiền trình quan ải tây phân
Đèo truông ra khỏi cố nhân không còn...
(Trích Mùa Xuân trong thi ca - Bùi Giáng)
© tải đăng ngày 22.12.2008 theo nguyên bản của tác giả gửi từ Sài Gòn.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com
|